1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuỗi cung ứng toàn cầu của toyota và vị thế của doanh nghiệp này trong chuỗi cung ứng toàn cầu toàn ngành sản xuất ô tô

45 75 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuỗi cung ứng toàn cầu của Toyota và vị thế của doanh nghiệp này trong chuỗi cung ứng toàn cầu toàn ngành sản xuất ô tô
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị chuỗi cung ứng
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 721,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 I.TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU CỦA NGÀNH Ô TÔ 4 1.1. Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô 4 1.2. Thực trạng về chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành ô tô 4 1.2.1. Đại dịch Covid19 4 1.2.2. Cuộc xung đột Nga Ukraine 5 1.2.3. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Quốc 6 1.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu ngành ô tô 7 1.3.1. Nhóm nhân tố thị trường 7 1.3.2. Nhóm nhân tố chi phí 9 1.3.3. Nhóm nhân tố chính phủ 11 1.3.4. Nhóm nhân tố cạnh tranh 12 II. PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU CỦA TOYOTA 15 2.1. TỔNG QUAN VỀ TOYOTA 15 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 15 2.1.2. Cơ cấu tổ chức 16 2.2. MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA TOYOTA 17 2.2.1. Tổng quan về chuỗi cung ứng của Toyota 18 2.2.2. Quy trình vận hành chuỗi cung ứng của Toyota 22 III. ĐỊNH VỊ TOYOTA TRONG CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN NGÀNH 36 3.1. Nhà cung cấp 36 3.2. Sản xuất 37 3.3. Phân phối 37 TỔNG KẾT 37

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP HỌC PHẦN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG QUỐC TẾ

Đề tài: Chuỗi cung ứng toàn cầu của Toyota và vị thế của doanh nghiệp này trong chuỗi cung ứng toàn cầu toàn ngành

sản xuất ô tô

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

I.TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU CỦA NGÀNH Ô TÔ 4

1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô 4

1.2 Thực trạng về chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành ô tô 4

1.2.1 Đại dịch Covid-19 4

1.2.2 Cuộc xung đột Nga - Ukraine 5

1.2.3 Khủng hoảng năng lượng ở Trung Quốc 6

1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu ngành ô tô 7

1.3.1 Nhóm nhân tố thị trường 7

1.3.2 Nhóm nhân tố chi phí 9

1.3.3 Nhóm nhân tố chính phủ 11

1.3.4 Nhóm nhân tố cạnh tranh 12

II PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU CỦA TOYOTA 15

2.1 TỔNG QUAN VỀ TOYOTA 15

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 15

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 16

2.2 MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA TOYOTA 17

2.2.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng của Toyota 18

2.2.2 Quy trình vận hành chuỗi cung ứng của Toyota 22

III ĐỊNH VỊ TOYOTA TRONG CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN NGÀNH 36

3.1 Nhà cung cấp 36

3.2 Sản xuất 37

3.3 Phân phối 37

Trang 3

TỔNG KẾT 37

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và trở thành xu hướng tất yếu không thể đảo ngược trong quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới.Trong xu thế mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế sâu rộng đấy, các đối thủ luôn phải đương đầu với sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ trong và ngoài ngành và để cạnh tranh thành công trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của họ bằng việc xây dựng riêng cho mình một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh Phát triển chuỗi cung ứng hoànchỉnh sẽ tạo nền tảng cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí không cần thiết; nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm với đối thủ Ngoài ra, nó còn giúp cho nền công nghiệp trong nước gia nhập chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, phát triển thị trường tiêu thụ ra toàn thế giới Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm sâusắc đến toàn bộ dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thiện

và những điều mà người tiêu dùng yêu cầu Đặc biệt với ngành công nghiệp ô tô đang tăng trưởng như vũ bão hiện nay

Vậy thì thực trạng của chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành ô tô đang đi theo chiều hướng nào và các doanh nghiệp trong ngành ô tô phải làm gì để xây dựng được chuỗi cung ứng đáp ứng được những yêu cầu của thị trường, để đứng vững trong giai đoạn cạnhtranh gay gắt như hiện nay Xin mời cô và các bạn đồng hành cùng nhóm 1 nghiên cứu đềtài: “Chuỗi cung ứng toàn cầu của Toyota và vị thế của doanh nghiệp này trong chuỗi cung ứng toàn cầu toàn ngành sản xuất ô tô” Từ đó tìm ra các ưu và nhược điểm, những thuận lợi và khó khăn của hệ thống, hiểu rõ về mô hình, chiến lược Toyota đã và đang sử dụng để hoàn thiện chuỗi cung ứng cho mình và đạt được vị thế như hiện tại

Dù đã rất nỗ lực và cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian, nguồn tài liệu và kiến thức còn hạn hẹp nên nội dung của đề tài không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của Cô và các nhóm còn lại trong lớp để bài tiểu luận được hoàn thiệnhơn

Chân thành cảm ơn

Trang 5

I TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU CỦA NGÀNH Ô TÔ 1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô

Ngành công nghiệp ô tô bao gồm nhiều công ty và tổ chức tham gia vào việc thiết kế,phát triển, sản xuất, tiếp thị và bán xe có động cơ Đây là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới tính theo doanh thu (từ 16% như ở Pháp lên đến 40% ở các nước như Slovakia) Đây cũng là ngành có mức chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển cao nhất trên mỗi công ty

Từ những chiếc xe đầu tiên chạy bằng hơi nước ở thế kỷ 18, đến nay làng ô tô thế giới đã cho ra đời những chiếc xe động cơ điện sang trọng, hiện đại Tuy Đức là đất nướcđầu tiên đưa ô tô vào sản xuất hàng loạt nhưng Mỹ mới là nơi chứng kiến công nghiệp xehơi lên ngôi Trong bối cảnh ngành còn sơ khai, người dân đất nước cờ hoa chỉ hào hứng vào những chiếc xe hơi xa hoa, đắt tiền mang thương hiệu Cadillac, Pascal thì xuất hiện một nhân vật đi ngược xu hướng, đó là Henry Ford Người sau này trở thành nhân vật têntuổi nhất nền công nghiệp xe hơi Mỹ

Cùng với châu Âu và châu Mỹ, tại châu Á cũng có một đất nước nổi lên là Nhật Bản.Chiếc xe đầu tiên của Nhật Bản có tên Takkuri, do Uchiyama Komanosuke, kỹ sư ô tô đầu tiên của xứ mặt trời mọc sản xuất vào năm 1907 Tuy nhiên, số lượng ít, giá thành cao khiến xe Nhật không thể cạnh tranh được với xe nhập từ Mỹ

Trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật chỉ sản xuất ô tô phục vụ cho chiến tranh Từ năm 1952, sự phát triển mới bắt đầu trở lại Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ với các hãng xe hàng đầu thế giới như Toyota, Honda, Nissan xuất khẩu Sở dĩ xe Nhật được

ưa chuộng rộng khắp bởi nhỏ gọn, ít tốn nhiên liệu, giá cả hợp lý và đặc biệt bền, ít trục trặc

Đến thời điểm hiện nay, châu Á vẫn là nơi sản xuất nhiều ôtô trên thế giới nhất với

sự nổi lên của Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan Đây cũng là thị trường hấp dẫn với bất

cứ hãng xe nào trên thế giới bởi kinh tế đang trên đà phát triển nóng, dân số đông và lượng xe chưa đạt mức bão hòa

1.2 Thực trạng về chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành ô tô

Một số khó khăn chủ yếu mà các nhà sản xuất ô tô gặp phải đến từ những thực trạng chung của thế giới có thể kể đến như:

Trang 6

b, Hạn chế trong vận chuyển:

Trong năm qua, việc đứt gãy chuỗi cung ứng trên toàn cầu đã diễn ra do sự lan rộng của Covid Điều này buộc nhiều quốc gia phải đóng cửa biên giới, đóng cửa nơi làm việc hoặc hạn chế sản xuất, xuất khẩu Các biến thể mới dễ lây lan hơn làm dấy lên những lo lắng, các trung tâm sản xuất linh kiện lớn ra lệnh phong tỏa nhằm hạn chế sự gia tăng cáctrường hợp Covid Sự gián đoạn nghiêm trọng trong dịch vụ hậu cần trong và ngoài nước

và từ Trung Quốc dẫn đến thiếu hụt nghiêm trọng của các kênh vận chuyển Khi các nhà sản xuất ô tô cố gắng mở lại các nhà máy và xưởng sản xuất phụ tùng, nhiều nhà cung ứng không có lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển sang vận chuyển linh phụ kiện bằng đường hàng không tốn kém, thay vì tàu biển, để nhanh chóng hoàn tất sản phẩm gửi đến khách hàng

Mặc dù Covid đã không còn nguy hiểm như thời điểm từ 1 cho đến 2 năm trước, tuy nhiên những khó khăn này vẫn để lại rất nhiều hậu quả tiêu cực đến các nhà sản xuất ô tô trên thế giới Những hậu quả có thể kể đến như: làm quy trình sản xuất bị thu hẹp, hoạt

Trang 7

động giao hàng giảm tiến độ, và chi phí người tiêu dùng bỏ ra để sở hữu xe tăng, vượt ngoài tầm với của hàng triệu người tiêu dùng và cho đến bây giờ vẫn chưa thể khắc phục được như thời điểm trước khi đại dịch diễn ra.

1.2.2 Cuộc xung đột Nga - Ukraine

Những khó khăn của ngành ô tô thậm chí còn đang trở nên trầm trọng hơn do tác động của cuộc xung đột Nga - Ukraine Nhiều chuyên gia nhận định, căng thẳng Nga - Ukraine đang làm xáo trộn các chuỗi cung ứng toàn cầu vốn đã rất mong manh sau “cú đánh” của đại dịch Covid-19

Theo thống kê sản lượng ô tô thị trường châu Âu bị sụt giảm mạnh một phần là do nguyên nhật trực tiếp đến từ sản xuất tại Nga và Ukraine, mặc dù 2 nước này chỉ đóng góp vào một phần nhỏ doanh thu tiêu thụ ô tô toàn cầu

a, Thiếu linh kiện

Một lượng lớn hợp chất palladium và platinum cung cấp cho thế giới đến từ 2 quốc gia Ukraine và Nga Các hợp chất này được sử dụng trong bộ chuyển đổi xúc tác của động cơ, cũng như nhôm, thép và chrome Sự thiếu hụt một số nguyên liệu quan trọng như palladium và xenon, được sử dụng trong sản xuất chất bán dẫn và ô tô, có thể làm tăng thêm các khó khăn mà những ngành công nghiệp này đang phải đối mặt Tình trạng thiếu hụt chất bán dẫn khiến nhiều nhà sản xuất ô tô và một số cơ sở sản xuất khác buộc phải dừng hoạt động, thúc đẩy tình trạng tăng giá hàng hóa và ảnh hưởng đến doanh số bán hàng Dẫn chứng là những sản phẩm linh kiện dây điện mà các nhà sản xuất ở

Ukraine cung cấp cho các hãng xe Đức được sản xuất riêng cho từng mẫu và khó tìm được nguồn cung thay thế dễ dàng và giá rẻ từ các quốc gia khác Việc thiếu hụt linh kiệncũng dẫn đến giá linh kiện liên tục tăng cao, làm cho các nhà máy không thể tiếp tục sản xuất một cách ổn định và đúng tiến độ

b, Hạn chế vận chuyển

Một số các quốc gia đã ra lệnh cấm vận và trừng phạt kinh tế đối với Nga, cụ thể là việc tạm dừng hoạt động vận tải qua đường hàng không, đường thủy và đường bộ đi qua Nga Điều này làm “tổn thương” nghiêm trọng các nhà sản xuất ô tô, nặng nề nhất là các hãng ô tô của Châu Âu Đối phó với tình hình căng thẳng này buộc các hãng ô tô như KIA, Hyundai… thay đổi những chính sách để đáp ứng và duy trì doanh thu Các nhà phân phối tại Nga cũng phản ánh rằng, các đơn hàng nhập khẩu của họ đã được vận chuyển tới kho hàng ở Nga tuy nhiên nhà sản xuất từ chối giao hàng cho họ Hành động

Trang 8

này của nhà sản xuất đáp ứng lệnh cấm vận toàn cầu đối với Nga Vô hình chung lại ảnh hưởng trực tiếp đến ngành ô tô tại Nga nói riêng và các hãng ô tô nói chung.

1.2.3 Khủng hoảng năng lượng ở Trung Quốc

Khủng hoảng thiếu hụt điện ở Trung Quốc cũng góp phần gián đoạn chuỗi cung ứng ngành ô tô toàn cầu Khi một quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới như Trung Quốc gặp phải tình trạng mất điện có thể tác động trực tiếp lên chuỗi cung ứng toàn cầu đang phải chật vật hồi sinh sau dịch bệnh

a, Thiếu linh kiện

Mặt hạn chế của các hãng xe đến từ việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn linh kiện của Trung Quốc Hạn chế sử dụng điện do hạn hán khiến cho hoạt động sản xuất của các ngành công nghiệp lớn trong đó có bán dẫn rơi vào trạng thái báo động Thị trường lo ngại nguồn cung bán dẫn sẽ bị tác động mạnh nếu tình hình không được cải thiện Việc mất điện ở Trung Quốc khiến cho các nhà máy sản xuất linh kiện giảm số lượng đơn hàng xuất khẩu, thay đổi lịch trình vận chuyển Không chỉ vậy các nhà sản xuất ô tô nội địa cũng gặp phải vấn đề lớn khi buộc phải dừng hoạt động Khủng hoảng điện ở Trung Quốc gặp đúng thời điểm khi mà các hãng đang phải đối mặt với tình hình tắc nghẽn trong việc vận chuyển hàng hóa đến nhà phân phối, điều này làm cho hàng hóa tăng giá cao hơn Toyota, Volkswagen và Tesla đều đã bị chính quyền ở một số tỉnh đặt nhà máy buộc phải đình chỉ hoặc cắt giảm hoạt động sản xuất của các nhà máy trong một khoảng thời gian nhất định, do các biện pháp phong tỏa hoặc tình trạng hỗn loạn nguồn cung

1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu ngành ô tô 1.3.1 Nhóm nhân tố thị trường

a, Phong cách tiêu dùng và mức độ hiểu biết của khách hàng

Ngày nay, ô nhiễm môi trường đang diễn ra mạnh mẽ Người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng của ngành ô tô nói riêng cũng đang hướng đến những sản phẩm an toàn

và bảo vệ môi trường hơn Theo kết quả nghiên cứu của Deloitte Toàn cầu về người tiêu dùng ô tô cho biết có hơn 90% người tiêu dùng ở Đông Nam Á mua ô tô dựa vào công nghệ an toàn Hay ở các Quốc gia Châu Âu và Châu Mĩ người tiêu dùng đang có nhu cầu rất lớn về xe điện bởi những chính sách ưu đãi và trợ cấp từ chính phủ cho ngành sản xuất này Ngoài những điều kiện mà chính phủ cũng như doanh nghiệp sản xuất đem lại thì xu hướng tiêu dùng xanh vẫn đang chi phối lớn hành vi của người tiêu dùng Có thể thấy rằng, người tiêu dùng đang ngày càng trở nên khắt khe và quan tâm đến môi trường

Trang 9

hơn Đó chính là động lực để thôi thúc họ tìm hiểu kỹ càng hơn khi tiến hành tiêu dùng sản phẩm bởi nó là một trong những phương tiện không thể thiết và được sử dụng thườngxuyên Với mức độ hiểu biết ngày càng cao của khách hàng như vậy đã ảnh hưởng rất lớnđến chuỗi cung ứng toàn cầu của các doanh nghiệp sản xuất ô tô Nó gây nên một áp lực lớn về vấn kiểm soát các yếu tố đầu vào, đổi mới công nghệ và đầu ra là các ô tô hoàn chỉnh phải ngày càng hiện đại hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn và thân thiện với môi trường hơn

b, Gia tăng dân số

Với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay đã làm tăng nhu cầu về phương tiện đi lại và

ô tô là một trong số đó, dẫn đến các doanh nghiệp tiến hành mở rộng thị trường đến nhiềuquốc gia trên thế giới hơn và kéo theo các trung tâm phân phối và sản xuất đến các quốc gia đó Cùng với đó là những nhu cầu của khách hành ngày trở nên đa dạng Dẫn đến các doanh nghiệp phải quản lý một mạng lưới sản xuất và phân phối rộng khắp trên toàn cầu Nhu cầu của mỗi quốc gia và mỗi khu vực là không giống nhau Với mỗi quốc gia lại cầnphải có những chiến lược phát triển sản phẩm riêng phù hợp với văn hóa tiêu dùng tại đó

đã làm tăng thêm sự khó khăn trong công tác quản lý doanh nghiệp

c, Thương mại điện tử toàn cầu

Thương mại điện tử đang trở nên rất phổ biến, xu hướng tiêu dùng vượt qua biên giớikhông còn mấy xa lạ với người tiêu dùng ngày nay Thương mại điện tử phát triển kéo theo sự phát triển của các dịch vụ hậu cần khác và hoạt động logistic là một điển hình Đối với ngành ô tô, để mang lại lợi thế cạnh tranh lớn trong ngành thì hoạt động chăm sóc khách hàng và dịch vụ hậu mãi là một trong những chiến lược quan trọng Trong quá trình mua sản phẩm nhu cầu gia tăng giá trị cho chuỗi cung ứng bằng cách đưa hàng hóa tới địa điểm của khách hàng đã dẫn đến số lượng hàng hóa bị trả lại tăng lên Khi người tiêu dùng gặp vấn đề về sản phẩm, doanh nghiệp cần tiếp nhận thông tin nhanh chóng và giải quyết kịp thời Để làm được điều đó thì hoạt động của dòng luân chuyển hàng hóa xuôi và ngược phải gánh vác một áp lực rất lớn khi tiến hành giải quyết quyết quá trình cung cấp các linh kiện để bảo hành, sửa chữa hay thậm chí là hoạt động trả lại hàng của người tiêu dùng Ngoài ra, thương mại điện tử toàn cầu phát triển dẫn đến các sản phẩm phải cung cấp thông tin chi tiết và từ đó khách hàng có thể so sánh một cách chi tiết các sản phẩm của các hãng với nhau Dẫn đến một áp lực vô hình lớn cho doanh nghiệp khi phải luôn luôn tối ưu và cắt giảm các giai đoạn không cần thiết để giảm thiểu chi phí và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm

Trang 10

d, Cơ sở hạ tầng

Tại thị trường các nước phát triển và một số nước đang phát triển nhanh có thể thấy

cơ sở hạ tầng giao thông phát triển và có hiệu quả cao Nhờ đó mà hoạt động logistic của doanh nghiệp hoạt động khá trơn chu và phát triển, nó giúp đáp ứng các nhu cầu sản xuất,phân phối, vận chuyển nguyên vật liệu và lưu trữ hàng hóa của doanh nghiệp Từ đó, giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu được đáng kể chi phí Ngoài ra tại một số quốc gia có

cơ sở hạ tầng chưa phát triển thì đây lại là một vấn đề lớn mà doanh nghiệp đang phải đốimặt Nhu cầu về sử dụng phương tiện đi lại có giá trị cao tại những thị trường này cũng không lớn do thu nhập bình quân đầu người thấp và một phần có thể do hệ thống đường

xá cầu cống chưa phát triển dẫn tới khi tham gia giao thông thường gặp phải các vấn nạn như tắc đường và tai nạn… Những nguyên nhân này đã gây nên áp lực lớn cho doanh nghiệp trong công đoạn vận chuyển hay tiến hành phân phối sản phẩm tại thị trường này

e, Đối thủ cạnh tranh

Đối với ngành ô tô nói chung, hầu hết tất cả các công ty đa quốc gia tham gia vào thị trường này đều là những công ty lớn và có tiềm lực tài chính hùng hậu, vì vậy các công tynày luôn phải chuẩn bị kĩ lưỡng nếu muốn cạnh tranh được với đối thủ của mình ở trong thị trường Việc này có thể bắt đầu từ việc kiểm soát chất lượng từ khâu đầu vào như nhập phụ kiện từ các đối tác để đảm bảo chất lượng Trong quá trình sản xuất phải đảm bảo độ chính xác và mức độ an toàn lao động hay trong hoạt động phân phối phải có những chính sách đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Nếu doanh nghiệp không thể thực hiện tốt các công đoạn trên thì sự chấp nhận của thị trường gần như bằng 0 và dẫn đến doanh nghiệp sẽ thất bại trên thị trường đó Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay các doanh nghiệp thực hiện hoạt động ‘thuê ngoài’ là chủ yếu và chỉ đảm nhiệm một phần nhỏ cùng với đó là tiến hành kiểm soát chặt chẽ chất lượng từ các đối tác khác cung cấp Nhờ đó áp lực cho chuỗi cung ứng cũng được phần nào giảm bớt

f, Truyền thông

Những phương tiện truyền thông và chiến dịch quảng cáo ảnh hưởng rất lớn đến kết quả bán hàng của doanh nghiệp, đặc biệt là với các sản phẩm có giá trị cao như ô tô Để đạt được hiệu quả cao thì cần phải có một sự hiểu biết rất lớn đến văn hóa của các quốc gia khác nhau Chiến dịch đó có thể phù hợp với nước này nhưng có thể sẽ không phù hợp với nước khác bởi sự đa dạng về văn hóa của từng khu vực Đối với các nước tham gia giao thông bằng tay trái thì hoạt động lắp ráp và sản xuất đã phải thay đổi vị trí của vô

Trang 11

lăng ô tô Nghe thì có vẻ là dễ dàng nhưng hoạt động này không hề dễ chút nào khi phải thay đổi lại cơ cấu của chiếc xe Hay tại Việt Nam những hoạt động truyền thông trái với thuần phong mỹ tục cũng sẽ bị dư luận lên án và không chấp nhận tiêu dùng sản phẩm

đó Từ đó có thể thấy hoạt động truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc doanh nghiệp tiếp cận thị trường dẫn đến quá trình Marketing quốc tế cần được chuẩn bị kỹ càng và thận trọng

1.3.2 Nhóm nhân tố chi phí

a, Tính kinh tế theo quy mô

Kinh tế quy mô chính là lợi thế chi phí mà các doanh nghiệp có được nhờ vào quy mô

doanh nghiệp, quy mô sản xuất hoặc quy mô hoạt động, với chi phí trên mỗi đơn vị đầu

ra thường giảm đi với quy mô ngày càng tăng khi chi phí cố định được chia đều trên mỗiđơn vị đầu ra Có rất nhiều công ty toàn cầu theo đuổi điều này, đặc biệt là những doanhnghiệp trong lĩnh vực sản xuất ô tô

Chúng ta có thể thấy khi tăng sản lượng từ Q lên Q2 thì chi phí giảm tử C xuống C1.Tuy nhiên, với bối cảnh hiện nay các doanh nghiệp có thể sản xuất khó có thể đạt đượcđiểm sản xuất với sản lượng tối ưu là Q2 hoặc có thể sản xuất quá mức sản lượng tối ưu.Các công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ô tô sẽ thường lựa chọn việc thuê ngoài đểtiến đến sản lượng tối ưu cần tìm kiếm các đối tác lớn nhằm tận dụng được quy mô sảnxuất của đối tác và tinh giảm chi phí

b, Đổi mới và sáng tạo công nghệ

Trang 12

Đổi mới và sáng tạo công nghệ là một công việc chiến lược nếu các tập đoàn toàn cầumuốn phát triển rộng rãi trong thời đại hiện nay, đối với cả các tập đoàn về công nghệ vàsản xuất phụ kiện, trong đó đặc biệt quan trọng đối với ngành công nghiệp ô tô Tuynhiên, chi phí cho quá trình này lại tương đối lớn, gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp.Cũng giống như việc thông qua định vị mạng lưới sản xuất toàn cầu để giảm thiểu chi phísản xuất, các hãng ô tô cũng tạo thuận lợi cho việc phát triển, đổi mới và sáng tạo côngnghệ bằng việc định vị mạng lưới R&D của mình.

c, Các nước công nghiệp mới

Các nước công nghiệp mới thường nhận được vốn đầu tư từ các nước phát triển.Nguồn vốn được thu hút bởi chi phí lao động thấp, đất đai, hoặc các yếu tố đầu vào kháccủa những nước này mang lại Bởi các nước công nghiệp mới thường trải qua tốc độ tăngtrưởng năng suất và công nghiệp hóa Chính phủ của các quốc gia công nghiệp mới có xuhướng kiểm soát quá trình công nghiệp hóa của họ và khuyến khích các ngành sản xuất

và xuất khẩu Lợi nhuận tạo ra thông qua xuất khẩu thường được tái đầu tư vào nền kinh

tế trong nước Mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế xã hội, bao gồm tăng trưởngdoanh nghiệp từ đó dẫn đến tăng tiền lương, tiền công, nâng cao mức sống người dân, cảithiện về cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực khác Từ đó dẫn đến người dânkhuyến khích chi tiêu của người tiêu dùng các sản phẩm từ chính những công ty đầu tư.Ngoài ra, các hãng ô tô có thể nhìn thấy cơ hội trong sự ổn định của các nước côngnghiệp mới những cơ hội có thể dẫn đến việc các công ty phải thuê ngoài thêm các cơ sởtại những quốc gia này Những sự dịch chuyển chuỗi cung ứng có thể làm giảm đáng kểchi phí lao động cho các hãng với rủi ro thấp hơn so với việc thuê ngoài tại các quốc giakém ổn định cả về mặt kinh tế và chính trị

d, Sự khan hiếm về nguồn lực

Sự khan hiếm về nguồn lực có thể được hiểu là tình trạng hàng hóa, dịch vụ và nhữngyếu tố đầu vào không đủ so với mong muốn sản xuất hay nhu cầu Nguồn lực khan hiếm

vì số lượng nguồn lực sử dụng để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ là có hạn và có thể bịcạn kiệt Đặc biệt là sự cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên Trong khi nhu cầu về hàng hóa

và dịch vụ là vô hạn, ngày càng gia tăng, đa dạng, nhất là nhu cầu về hàng hóa dịch vụ cóchất lượng cao Chẳng hạn, nhu cầu về phương tiện đi lại của con người từ xe đạp đến xemáy, ô tô và máy bay Với những nguy cơ đó dẫn đến chi phí sản xuất tăng lên buộc cáchãng xe phải thay đổi chiến lược kinh doanh của mình bằng cách phát triển các sản phẩmchạy bằng điện Thậm chí một số hãng xe đã chuyển cơ sở sản xuất của mình đến những

Trang 13

quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên để có thể tận dụng ngay nguồn vật liệu đầu vàogiá rẻ nhằm hạ giá thành sản phẩm tăng tính cạnh tranh trong ngành

e, Thích nghi với điều kiện địa phương

Có thể thấy trong quá trình kinh doanh quốc tế đã bị chi phối và ảnh hưởng rất nhiềubởi yếu tố văn hóa Thành công của các công ty đa quốc gia đều bị ảnh hưởng mạnh mẽbởi yếu tố thái độ, cảm xúc và quan niệm… Ở môi trường địa phương, văn hóa và điềukiện địa phương tác động đến các trao đổi giữa các cá nhân với nhau và giữa các cá nhân

và tổ chức dẫn đến việc vận hành chuỗi cung ứng như việc thực hiện các chiến dịchMarketing và bán hàng Các nhà quản lý khi thiết kế sản phẩm phải chú ý đến văn hóa kể

cả vấn đề về màu sắc cũng rất được coi trọng Sự khác nhau về giá trị, thái độ của các nhàquản lý địa phương và các nhà quản lý ở nước ngoài ở các chi nhánh, các nhà quản lýnước ngoài và người lao động địa phương có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọngtrong việc vận hành và thực hiện các chức năng của hoạt động kinh doanh quốc tế củacác hãng xe Những vấn đề này nảy sinh không phải từ cá nhân và xuất phát từ điều kiệnđịa phương Nó đã tạo ra các khuôn mẫu về thái độ đối với các khía cạnh cơ bản của cuộcsống như thời gian, tiền bạc, năng suất và thành quả hay thậm chí là tỷ lệ tham nhũng Tất

cả những yếu tố đó đều rất khác nhau ở các quốc gia và có thể dẫn tới những kỳ vọngkhác nhau giữa những nhà quản lý Bởi họ cần kiểm soát chặt chẽ và chấp nhận nhữngquy tắc ngầm dẫn đến việc để bán được xe thì phải trải qua nhiều thủ tục giấy tờ và chínhnhững hoạt động bôi trơn đó chiếm một tỷ lệ lớn trong việc hình thành chi phí sản phẩm

1.3.3 Nhóm nhân tố chính phủ

a, Chính sách và các quy định

Những chính sách và quy định của chính phủ đều có tác động hai mặt đến các doanhnghiệp toàn cầu Ví dụ, một xu hướng mới của chính phủ thực hiện các quy định buộccác doanh nghiệp thực hiện chuỗi cung ứng xanh Hiện nay để khuyến khích cho sự pháttriển của đất nước Việt Nam đã có rất nhiều những chính sách ưu đãi cho các doanhnghiệp toàn cầu Toyota là một trong những ví dụ điển hình, để khuyến khích Toyota đầu

tư nhà máy sản xuất ở Vĩnh Phúc Nước ta đã miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong mộtthời gian nhất định và cùng với một số ưu đãi khác Từ đó làm cho các doanh nghiệpmuốn tận dụng những lợi thế như nước ta đem lại thì phải tiến hành đầu tư và mở rộngchuỗi cung ứng của mình đến những quốc gia có những chính sách và quy định có lợi cho

họ Tuy nhiên, từ những chính sách của chính phủ cũng có thể làm cho doanh nghiệp rời

bỏ bởi những quy định khắt khe nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước Một áp lực lớn

Trang 14

mà các doanh nghiệp toàn cầu phải gánh chịu là chuỗi cung ứng toàn cầu của họ khôngđược ổn định.

d, Chi tiêu chính phủ

Trong các quốc gia phát triển thì hoạt động chi tiêu chính phủ cho cơ sở hạ tầng là rấtlớn Khi đó, hệ thống giao thông mở rộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vậnchuyển hàng hóa và hoạt động logistics phát triển mạnh mẽ làm cho doanh nghiệp có thểgiảm thiểu chi phí từ đó giá thành sản phẩm giảm xuống và làm tăng tính cạnh tranhtrong ngành Ngoài ra, chính phủ còn là một người tiêu dùng lớn mà các doanh nghiệpquan tâm do hoạt động chi tiêu cho dịch vụ công là lớn và chiếm một tỷ lệ phần trăm caotrong ngân sách nhà nước Có thể thấy rằng ô tô như là một phương tiện đi lại thiết yếu

và quan trọng trong quá trình công tác cũng như là phương tiện cho cảnh sát giao thôngthực hiện nghiệp vụ Đây có thể xem là một tiềm năng lớn mà các hãng ô tô muốn tậndụng

f, Các yêu cầu về phát triển bền vững

Ngày nay, biến đổi khí hậu ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm và trở thành vấn

đề toàn cầu đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ để cùng nhau giải quyết Các hiệp định về phátthải đang ngày càng được ký kết nhiều hơn làm cho các quốc gia đã ban hành các chínhsách chặt chẽ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động vận chuyển hàng hóangày càng khó khăn khi các quy định ngặt nghèo về phương tiện và tỷ lệ phát thải ra môitrường hay thậm chí trong hoạt động sản xuất nguồn nước thải phải được kiểm soát chặtchẽ và xử lý chặt chẽ Hiện tại những quy định này đã gây trở ngại cho các hãng ô tô rấtnhiều trong quá trình sản xuất Rất nhiều vụ việc mà các doanh nghiệp ô tô đã phải thuhồi sản phẩm của mình và bồi thường cho khách hàng Những yêu cầu về phát triển hiệnnay đã gián tiếp làm thay đổi thái độ của người tiêu dùng Có những doanh nghiệp đã vàđang phát triển sản phẩm mới của mình theo xu hướng sử dụng năng lượng xanh như xe

ô tô chạy bằng điện và hiện tượng này đang ngày càng gia tăng trên toàn cầu Một sức ép

vô hình đè nặng lên bộ phận phát triển sản phẩm và các trung tâm phân phối toàn cầu.Hiện nay ngay ở cả Việt Nam, xe ô tô điện đang dần xuất hiện nhiều hơn và chiếm lĩnhmột thị phần nhất định, và nhiều nhất có thể kể đến các mẫu ô tô điện của Vinfast ví dụnhư VF e34, VF8, VF9,

g, Khu vực liên kết thương mại

Xu hướng tự do hóa thương mại đang ngày càng phát triển bởi những lợi ích của nó.Không có một quốc gia nào muốn phát triển mà không tiến hành mở cửa nền kinh tế của

Trang 15

mình Các liên kết khu vực ngày càng được mở rộng, các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới ngày càng được ký kết nhiều hơn Quá trình đó đã tạo nên sự ưu đãi lớn chonhững quốc gia thành viên Các công ty đa quốc gia đã nhìn nhận thấy những cơ hội đó,tận dụng sự ưu đãi từ chính phủ thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài và một cơ hộitiềm năng từ việc có thể xuất khẩu các sản phẩm với sự ưu đãi từ thuế quan từ các nước

sở tại đem lại Vì vậy khi mở rộng thị trường ra các quốc gia thuộc cùng một khu vực liênkết thương mại sẽ đem đến cho các công ty đa quốc gia hoạt động trong ngành sản xuất ô

tô đạt được nhiều thuận lợi Tuy nhiên, khi tham gia vào nhiều hiệp định thương mạisong phương và đa phương thì những yêu cầu về phát triển sản phẩm bền vững và tỷ lệphần trăm đóng góp của quốc gia đó so với giá trị sản phẩm hay còn gọi là nguồn gốcxuất xứ đã được quan tâm nhiều hơn

1.3.4 Nhóm nhân tố cạnh tranh

a, Các sân chơi cạnh tranh

Cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc từng bước đẩy lùi đà tăngtrưởng kinh tế toàn cầu, qua đó đã tác động trực tiếp lên ngành sản xuất, kinh doanh ô tô.Theo CNN Business, kể từ giữa năm 2018 đến nay, doanh số bán ô tô toàn cầu bắt đầubước vào giai đoạn “lao dốc không phanh” Theo các chuyên gia phân tích của FitchRatings - trang xếp hạng tín nhiệm trên toàn cầu, doanh số bán ô tô toàn cầu trong năm

2019 dừng lại ở mức 77,5 triệu xe, giảm khoảng 4% so với năm 2018 Đây là năm thứ 2liên tiếp doanh số bán ô tô toàn cầu sụt giảm Trước đó, vào năm 2017 đã có 81,8 triệu xe

ô tô mới bán ra trên toàn thế giới và đến năm 2018 giảm còn 80,6 triệu xe

Nguyên nhân khiến nhu cầu sắm ô tô toàn cầu trở nên ảm đảm như vậy là do sự sụtgiảm tại Trung Quốc và Mỹ - hai thị trường ô tô lớn nhất thế giới Theo báo cáo bán hàngcủa Hiệp hội Xe hơi Trung Quốc (CPCA) cho thấy, trong 10 tháng năm 2019, doanh sốbán ô tô tại thị trường này đã giảm 11% so với cùng kỳ năm 2018 Giới phân tích chorằng, sở dĩ thị trường ô tô Trung Quốc bị chững lại trước hết là do những căng thẳng củacuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đã khiến một số người thận trọng hoãn lại dự án mua

xe Tiếp đến, Bắc Kinh đã siết lại các khoản trợ cấp khuyến khích người tiêu dùng mua

xe điện, thậm chí còn dự trù bỏ hẳn khoản hỗ trợ này

Tại Mỹ - thị trường ô tô lớn thứ 2 thế giới, tình hình cũng không mấy khả quan khingười tiêu dùng ngày càng tỏ ra ngần ngại với việc chi tiền để sắm ô tô mới Các hãng xehơi lớn như General Motors (GM), Ford và Honda tại thị trường Mỹ đều đã phải cắt giảmsản lượng xe do thị trường yếu đi Trước thực trạng này, Fitch Ratings dự báo doanh số

Trang 16

bán ô tô tại Mỹ chỉ đạt khoảng 16,9 triệu xe khi năm 2019 khép lại, giảm khoảng 2% sovới năm 2018.

Trong khi đó, tại châu Âu, ngành ô tô Đức cũng đang đứng bên bờ vực suy thoái.Cuối năm 2019, Audi - một trong những hãng xe sang của Đức đã tuyên bố sẽ cắt giảm7.500 lao động

Tại các thị trường khác như Nga, Brazil và các quốc gia thuộc khu vực Tây Âu…doanh số bán ô tô của nhiều hãng xe cũng sụt giảm Ngay cả Ấn Độ - thị trường ô tô vốnđược xem là mảnh đất màu mỡ đối với các hãng ô tô phổ thông, tình hình kinh doanhtrong năm 2019 cũng không mấy khả quan Chỉ riêng trong 7 tháng đầu năm 2019, tiêuthụ ô tô tại Ấn Độ đã giảm tới 31% so với cùng kỳ năm 2018

Trước thực trạng của ngành ô tô toàn cầu, có rất ít lý do để hy vọng vào sự phục hồicủa thị trường ô tô toàn cầu vào năm 2022 khi cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine gần đâylàm tình hình chính trị trên thế giới ngày càng căng thẳng và chiến tranh thương mại Mỹ -Trung cũng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, ngay cả khi doanh số bán hàng tại những thịtrường lớn như Trung Quốc có mức phục hồi khoảng 1% Vì vậy, các hãng xe cần tínhtoán lại việc sản xuất để đáp ứng đủ nhu cầu thị trường

b, Hoạt động mua lại sáp nhập

Giữa một nền kinh tế thị trường đầy biến động, có rất nhiều cách tạo ra lợi nhuận và

sẽ có rất nhiều cơ hội có thể nắm bắt, một trong những cách nắm bắt cơ hội kinh doanh

mà các thương nhân thường áp dụng là thông qua hoạt động mua - bán doanh nghiệp(M&A) Điển hình : Fiat Chrysler và PSA - công ty sản xuất Peugeot đã chính thức vềchung một "mái nhà" thương hiệu dù trước đó sự kết hợp này đã bị phía Ủy ban châu Âunghi ngờ về khả năng vi phạm pháp luật Dù được nhận định là thương vụ làm nên lịch sửcủa nền công nghiệp ô tô Mỹ, Pháp và Italy, sự kết hợp này vẫn đặt ra dấu hỏi về tươnglai của những thương hiệu cũ trong bối cảnh thị trường ô tô toàn cầu vẫn khá chật vật saukhi hứng chịu cú sốc từ đại dịch

Tuy nhiên, màn vượt dốc ngoạn mục của Chrysler sau khi thu về 10 tỷ USD trongquý III/2020 vẫn có thể khiến giới đầu tư lạc quan về đà phục hồi của nền công nghiệpnày Sau tuyên bố sáp nhập, cổ phiếu của Chrysler ngay lập tức tăng 2,5%, trong khi PSAtăng 3,4%

Lý do quan trọng nhất để hãng xe lớn nhất Italia mong muốn bắt tay với Chryslerkhông gì khác là để có cầu nối thâm nhập vào thị trường Mỹ Với nội lực vốn có, thôngqua Chrysler, Fiat thừa sức tạo nên điều bất ngờ trên thị trường Mỹ Những mẫu xe Fiat

Trang 17

rất muốn đưa vào Mỹ hiện nay là mẫu xe nhỏ ăn khách Fiat 500 và một số mẫu AlfaRomeo mới Các mẫu xe này nếu có mặt tại Mỹ chắc chắn sẽ rất đắt hàng bởi giá rẻ, tiếtkiệm nhiên liệu và kiểu dáng hấp dẫn Tuy nhiên, Fiat nhận thấy rằng những mẫu xe củamình sẽ bán chạy hơn nếu được lắp ráp và sản xuất tại Mỹ.

Về phần mình, Chrysler cũng thu được không ít lợi ích nếu bắt tay với gã khổng lồcủa Ý Ngoài những nguồn lợi về tài chính giúp Chrysler vượt qua khủng hoảng, hãng xe

Mỹ này còn nhận được sự trợ giúp về mặt công nghệ trong công cuộc chinh phục kháchhàng khó tính tại Châu Âu

Thương vụ Sáp nhập và Mua lại (M&A) Volkswagen – Porsche : Khối ngành ôtôChâu Âu trong thời gian qua cũng không kém phần nhộn nhịp trong các thương vụ mualại và sáp nhập Ngoài việc khối ngành ô tô Đức đang xem xét việc mua lại phân nhánhOpel của GM tại Châu Âu, với khuynh hướng thành công nghiêng về hãng Magna củaCanada thì hiện khối ngành ô tô của Châu Âu cũng nhận được thông tin vui về thỏa thuậnsáp nhập giữa hai đại gia ôtô của Đức là Volkswagen và Porsche Theo đó, tính đến năm

2011, hai hãng sẽ về chung một mái nhà và trở thành một trong những thương hiệu ô tôlớn nhất tại Châu Âu

Nhà sản xuất xe lớn nhất châu Âu - Volkswagen và Porsche công bố họ đã đạt đượcthỏa thuận sáp nhập hoạt động để trở thành một tập đoàn xe hơi nhất thể hóa dưới sự lãnhđạo của Volkswagen Theo thỏa thuận này, cuối năm 2009, Volkswagen sẽ mua 42% cổphần của Porsche Cuộc sáp nhập này sẽ tạo nên một tập đoàn khổng lồ sở hữu 10 thươnghiệu danh tiếng có doanh số gần 6.4 triệu xe và hơn 400,000 công nhân viên Quá trìnhđược thực hiện theo giai đoạn và đã hoàn tất vào năm 2011

Điều thú vị ở chỗ, chính Porsche mới là công ty trong mấy năm gần đây đã nỗ lực đểgiành quyền kiểm soát Volkswagen và Porsche cũng đã sở hữu 51% cổ phần của tậpđoàn Đức khổng lồ, thậm chí còn đặt mục tiêu đưa con số này lên 75% Tuy nhiên, cùnglúc, Porsche cũng nợ gần 10 tỷ Euro (khoảng 14 tỷ USD) do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng kinh tế hiện hành, dẫn đến sự ra đi của Porsche CEO Wendelin Wiedeking vàbuộc công ty phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ Volkswagen

Những sự bất ổn về cả kinh tế lẫn chính trị trên thế giới những năm gần đây đã gây ranhững ảnh hưởng nặng nề đối với khối ngành ôtô trên thế giới Do đó, việc hợp tác mualại và sáp nhập là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh khó khăn chung của khối ngànhnày

II PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU CỦA TOYOTA

2.1 TỔNG QUAN VỀ TOYOTA

Trang 18

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Tập đoàn ô tô Toyota (Toyota Motor Corporation) là một nhà sản xuất ô tô đa quốcgia của Nhật Bản có trụ sở tại Toyota, Aichi, Nhật Bản Toyota được thành lập từ nhữngnăm 1937 bởi ông Kiichiro Toyoda

Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2022, Toyota có 522 công ty con và 226 công ty liênquan, trong đó có 56 công ty là công ty cổ phần và hơn 70,000 nhân viên Lĩnh vực kinhdoanh của Toyota bao gồm các hoạt động liên quan đến ô tô với hai thương hiệu chính làToyota và Lexus, các hoạt động về dịch vụ tài chính và tất cả các hoạt động khác Cáchoạt động liên quan đến xe hơi của Toyota bao gồm thiết kế, sản xuất, lắp ráp và bán cácloại xe chở khách, xe tải nhỏ và các loại xe chuyên chở dùng trong thương mại như xe tải

và các bộ phận, phụ kiện liên quan Dịch vụ tài chính của Toyota chủ yếu là cung cấp tàichính cho đại lý và khách hàng của họ để mua hoặc thuê các loại xe của Toyota Toyotacũng cung cấp các dịch vụ tài chính cho thuê bán lẻ thông qua việc mua các hợp đồngcho thuê có nguồn gốc là các đại lý Toyota Toyota bán các loại xe của mình tại khoảng

170 quốc gia và khu vực Thị trường chính của Toyota cho các sản phẩm xe hơi của mình

là Nhật Bản, Bắc Mỹ, Châu Âu, và châu Á

Dưới đây là các bảng thể hiện kết quả kinh doanh, kết quả sản xuất và doanh số bánhàng của Toyota tại mỗi thị trường địa lý của mình trong năm tài chính 2021 vừa qua(năm tài chính của Nhật tính từ 1/4/2021 - 31/3/2022):

Bảng 2.1: Bảng kết quả kinh doanh của Toyota trong năm tài chính 2021

Quý I(4-6/2021)

Quý

II (7-9/2021)

QuýIII(10-12/2021)

QuýIV(1-3/2022)

Năm tàichính 2021

1,025 826 945 942 3,738

Bắc Mỹ 519 395 403 435 1,752Châu

Âu

199 110 201 197 707

Châu Á 324 316 419 440 1,499

Trang 19

và Nam Mỹ

ChâuPhi

500 445 482 498 1,924

Bắc Mỹ 661 621 522 589 2,394Châu

Âu

281 229 250 257 1,017

Châu Á 365 341 413 425 1,543Trung

và Nam Mỹ

105 105 111 111 432

ChâuĐại dương

ChâuPhi

TrungĐông

sở chính tại Nhật Bản và các chi nhánh trên khắp thế giới phối hợp hoạt động với nhau,

Trang 20

các luồng thông tin di chuyển ở khắp các cấp quản trị để tạo ra hiệu quả vận hành chuỗicung ứng tốt nhất.

Cơ cấu tổ chức của Toyota được xây dựng như sau:

Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức của công ty Toyota

Trang 21

2.2 MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA TOYOTA

Toyota được nhiều công ty trên khắp thế giới lấy làm tiêu chuẩn để so sánh

(benchmarking) về chất lượng, năng suất, tốc độ sản xuất và sự linh hoạt Sản phẩm của Toyota liên tục đứng đầu bảng xếp hạng của các tổ chức khác nhau trong nhiều năm qua Trong các yếu tố thành công của Toyota thì chuỗi cung ứng đóng vai trò đặc biệt quan trọng

2.2.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng của Toyota

Trước khi đi vào tìm hiểu sâu về việc quản trị chuỗi cung ứng của Toyota, chúng ta

có thể hiểu khái quát chung về chuỗi cung ứng của công ty thể hiện ở dòng hình thànhsản phẩm qua sơ đồ sau:

Hình 2.3 Dòng hình thành sản phẩm

Nhà

cung cấp

Hậucần nội

bộ

cần bênngoài

ĐạilýThân

xe

Sơn Lắpráp

Kiểmtra

Quy trình hình thành sản phẩm bắt đầu từ các bộ phận, linh kiện được sản xuất bởicác nhà cung cấp và được vận chuyển về nhà máy lắp ráp Ở nhà máy lắp ráp, một chiếc

xe được bắt đầu ở xưởng thân xe, rồi đến xưởng sơn, xưởng lắp ráp và cuối cùng đượckiểm tra toàn bộ, sau khi sản xuất xong, xe ô tô được chuyển đến các đại lý thông qua hậucần bên ngoài Trên thực tế quy trình này tương đối phức tạp vì một chiếc xe vốn rất lớn

và cồng kềnh, được lắp ráp từ hàng ngàn bộ phận từ hàng trăm nhà cung cấp và cũng cóhàng ngàn bộ phận kết hợp ở xe cần được sản xuất

2.2.1.1 Các nhà cung cấp

Các nhà cung cấp cung ứng hàng ngàn bộ phận và linh kiện để tạo nên một chiếc xe.

Những bộ phận và linh kiện này được nhận về qua hệ thống hậu cần bên trong từ hàngtrăm nhà cung cấp bậc 1 Bậc 1 bao gồm các nhà cung cấp cấp đầu tiên, họ sản xuất vàgiao các bộ phận trực tiếp đến các nhà máy lắp ráp Bởi vì bản thân các nhà cung cấpcũng cần đến các nhà cung cấp khác, nên chuỗi cung ứng chứa bao gồm vài cấp độ được

đề cập đến như là bậc 1, bậc 2, bậc 3 Vì thế đối với một nhà máy lắp ráp ô tô chuỗicung ứng nội bộ là khá phức tạp Thêm vào đó, các nhà cung cấp lại ở các vị trí địa lýkhác nhau, nên thời gian các bộ phận, linh kiện từ mỗi nhà cung cấp chuyển đến nhà máylắp ráp có thể không giống nhau Ví dụ như các nhà cung cấp ở địa phương có thể chỉ mất

Trang 22

vài ngày để chuyển hàng đến bộ phận lắp ráp, trong khi đó, công tác vận chuyển hànghóa từ các nhà cung cấp ở nước ngoài có thể phải mất vài tuần.

2.2.1.2 Hậu cần nội bộ (inbound logistics):

Sau khi được sản xuất thì các bộ phận và linh kiện được chuyển đến nhà máy lắp ráptheo nhiều phương thức khác nhau Toyota sản xuất sản phẩm của mình theo một hệthống gọi là TPS - “Hệ thống sản xuất Toyota” (Toyota Production System) Đây là hệthống sản xuất sản phẩm theo đúng số lượng cần thiết vào thời điểm cần thiết hay có thểnói “Just-In-Time” (Đúng thời điểm) “Hệ thống sản xuất Toyota” là mô hình sản xuấtđầu tiên được hai nhà lãnh đạo tiền bối của Tập đoàn Toyota là Eiji Toyoda và TaiichiOhno đưa ra sau thế chiến lần thứ 2 Mô hình này đã được nhiều công ty và các ngànhcông nghiệp của Nhật Bản sao chép và áp dụng thành công, góp phần vào sự phát triểncủa nền kinh tế Nhật Bản Nhiều nhà sản xuất trên thế giới cũng đang cố gắng tìm hiểu hệthống cải tiến này

TPS bao gồm 5 trụ cột chính:

a) Standardization (Tiêu chuẩn hóa)

Standardization là các quy trình và hướng dẫn sản xuất được quy định và truyền đạthết sức chi tiết Điều đó giúp tránh sự thiếu nhất quán và giả định sai về cách thức thựchiện một công việc

Bảng tổng hợp công việc được tiêu chuẩn hóa về vật liệu, công nhân và máy móc làyếu tố quan trọng của Toyota Production System để sản xuất hiệu quả Sử dụng biểu đồhoạt động tiêu chuẩn cũng hiệu quả hơn so với việc sử dụng người giám sát dạy từ kinhnghiệm cá nhân

Mục tiêu của chuẩn hóa là thống nhất các hoạt động sản xuất, chỉ trừ trường hợp quytrình sản xuất được điều chỉnh do nhu cầu mới phát sinh Mức độ chuẩn hóa cao về quytrình cũng giúp các công ty mở rộng sản xuất dễ dàng hơn, tránh được những gián đoạn

có thể gặp phải do thiếu các quy trình được chuẩn hóa Chuẩn hóa sẽ tối đa hiệu quả, tốithiểu hóa lãng phí bằng cách kiểm soát 3 yếu tố sau:

 Takt time: thời gian cần thiết để 1 công việc được hoàn thành

 Trình tự công việc: Thứ tự từng bước công việc

 Tiêu chuẩn xử lý hàng tồn: Thiết lập trình tự công việc cho từng quy trình để đạtđược thời gian lý tưởng và số lượng hàng hóa trong quy trình chuẩn

Ngày đăng: 25/11/2022, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w