Tuy vậy các Website dành cho học sinh học tập trong đó có hoạt động ôn tậpcủng cố kết hợp với tự kiểm tra đánh giá được xây dựng trên cơ sở lí luận dạy họcvật lí hiện đại vẫn còn chưa đư
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một là, sự bùng nổ của thông tin, khoa học kĩ thuật và công nghệ, lượng kiếnthức cập nhật ngày càng nhiều bên cạnh đó không thể nhồi nhét tất cả tri thức đócho học sinh mà phải dạy học sinh phương pháp học ngay từ các cấp học phổ thông
Hai là, trong các phương pháp dạy học thì tốt nhất là dạy phương pháp tựhọc Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, tự học thì sẽ nângcao kết quả học tập Ở trường phổ thông, học sinh không chỉ tự học ở nhà sau bàilên lớp mà tự học ngay cả trong tiết học trên lớp có sự hướng dẫn của giáo viên
Ba là, nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung Ương Đảng CộngSản Việt Nam (Khoá VII, năm 1993) đã chỉ rõ: Về phương pháp giáo dục phảikhuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồidưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng SảnViệt Nam (Khoá VIII, năm 1997) khẳng định “phải đổi mới phương pháp đào tạo,khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của ngườihọc Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quátrình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”
Bốn là, việc ứng dụng của Công nghệ thông tin-Truyền thông đặc biệt làInternet – Website học tập phát triển rất mạnh góp phần rèn luyện khả năng tự họccho người học, dẫn đến những thay đổi trong cả nội dung và phương pháp dạy vàhọc Đây thực sự đã trở thành cầu nối giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh vàhọc sinh, các tài liệu tham khảo, các bài tập tham khảo, các đề thi, các hình thứcluyện thi đại học được đưa lên mạng để giáo viên và học sinh có thể tham khảo,nghiên cứu ở mọi lúc, mọi nơi
Tuy vậy các Website dành cho học sinh học tập trong đó có hoạt động ôn tậpcủng cố kết hợp với tự kiểm tra đánh giá được xây dựng trên cơ sở lí luận dạy họcvật lí hiện đại vẫn còn chưa được nghiên cứu nhiều Đến nay mới có Website về ôntập củng cố và kiểm tra đánh giá dựa trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại về các nội
Trang 2dung sau: Chương “ Động lực học” Vật lí 10 nâng cao; Chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí lớp 12 chương trình chuẩn; Chương "Dao động cơ" -Vật lí 12 nâng cao; Chương “Sóng cơ và sóng âm”, chương trình Vật lí 12 cơ bản; Chương “Điện tích Điện trường” trong chương trình Vật lí lớp 11 ban cơ bản; Chương “Các định luật bảo toàn” trong chương trình Vật lí 10 cơ bản; Chương “Mắt và các dụng cụ quang học" -Vật lí 11 nâng cao; Chương “Dòng điện không đổi” chương trình Vật
lí 11 ban cơ bản; Chương “Động học chất điểm” sách giáo khoa Vật lí 10 nâng cao; Chương “Dòng điện không đổi” - Vật lí 11 nâng cao; Chương “Hạt nhân nguyên tử”; Chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí lớp 12 theo chương trình nâng cao;
Đối với nội dung về phần “ Tổng hợp kiến thức lí thuyết và bài tập thuộc
chương “Lượng tử ánh sáng” trong SGK lớp 12 theo chương trình nâng cao” vẫn
chưa có website nào được nghiên cứu xây dựng theo các lí luận dạy học hiện đại
Hơn nữa, qua điều tra thực tiễn cho thấy, trong và sau khi học xong phần “Lượng
tử ánh sáng ” học sinh còn gặp nhiều khó khăn, mắc rất nhiều sai lầm.
Chính vì vậy việc thiết kế các trang Web về nội dung này giúp việc tự ôn tậpcủng cố và kiểm tra đánh giá sau khi học xong ở trên lớp phần nội dung này theoquan điểm của lí luận dạy học hiện đại là hết sức cần thiết
Với những lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: Thiết kế trang web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức chương “Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lí luận dạy học vật lí về hoạt động ôn tập củng cố,kiểm tra đánh giá và công nghệ xây dựng trang Web tự học nhằm thiết kế trangWeb hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức chương
“Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá của học sinh với sự hỗ trợ của trang Web.
Trang 33.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống các kiến thức, kĩ năng học sinh cần nắm vững khi học xong phần
chương “Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
- Hoạt động tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá của học sinh đối với
phần “Lượng tử ánh sáng”
- Các chức năng của trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố, kiểm tra
đánh giá kiến thức, kĩ năng phần “Lượng tử ánh sáng”.
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng lí luận dạy học vật lí hiện đại về ôn tập củng cố, xác định cácsai lầm phổ biến về kiến thức và những thiếu hụt về kĩ năng cần thiết đối với họcsinh và ứng dụng công nghệ thiết kế Web thì có thể thiết kế được trang Web hỗ trợ
học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá phần “Lượng tử ánh sáng” góp
phần rèn cho học sinh kĩ năng tự học, kích thích hứng thú học tập và nâng cao hiệuquả tự ôn tập củng cố của học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng trang Web hỗ trợ hoạt động ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá
chương “Lượng tử ánh sáng” Vật lí 12 nâng cao nhằm rèn luyện kĩ năng tự học,
nâng cao hứng thú và hiệu quả việc tự ôn tập củng cố cho học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc tự ôn tập củng cố:
- Nghiên cứu chương “Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
- Điều tra xác định các khó khăn, sai lầm của học sinh khi học chương
“Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
- Nghiên cứu việc thiết kế trang Web hỗ trợ việc tự ôn tập củng cố
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả trang Web xâydựng được
7 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Trang 4- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, chỉ thị của Bộ Giáo dục - Đào tạo
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp giảng dạy vật lí và giáo dục học
- Nghiên cứu cở sở lí luận của việc ôn tập củng cố trong dạy học hiện đại;
cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng tự học và tự nghiên cứu đối với học sinhphổ thông; cơ sở lí luận của hoạt động kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giátrong dạy học phổ thông
- Nghiên cứu tài liệu về thiết kế xây dựng website
b) Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn:
- Nghiên cứu thực tiễn hoạt động ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá của giáoviên và học sinh trong các trường phổ thông Tiến hành khảo sát bằng phương phápĂngket (điều tra), phương pháp nghiên cứu sản phẩm (bài kiểm tra của học sinh),phương pháp phỏng vấn và đàm thoại với học sinh và giáo viên ở các trường THPT
- Trao đổi với giáo viên về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy họcvật lí ở trường THPT
- Nghiên cứu một số website dạy học trên internet
c) Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm đối chứng giữa hai quá trình
ôn tập phần “Lượng tử ánh sáng” của hai nhóm học sinh, một nhóm có sử dụng
trang Web ôn tập và nhóm còn lại sử dụng phương pháp ôn tập truyền thống
d) Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để
phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Những đóng góp mới của luận văn
- Trình bày hệ thống cơ sở lí luận của việc ôn tập củng cố theo quan điểmcủa lí luận dạy học hiện đại
- Thiết kế trang Web dưới sự vận dụng của các lí luận trên và sự hỗ trợ củacông nghệ thông tin giúp học sinh rèn luyện kĩ năng tự ôn tập củng cố, phát huy
hứng thú và nâng cao chất lượng ôn tập củng cố phần “Lượng tử ánh sáng”
9 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
Trang 5Về mặt lí luận, luận văn góp phần lựa chọn và hệ thống hoá các lí luận vềviệc ôn tập củng cố theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại cũng như vận dụng
lí luận này và công nghệ thông tin trong việc xây dựng trang Web về nội dung ôntập củng cố
Trang Web xây dựng là tài liệu tham khảo tốt về cho học sinh tự ôn tập củng
cố phần “Lượng tử ánh sáng”, nhằm rèn luyện kĩ năng tự ôn tập củng cố, nâng cao
hiệu quả ôn tập củng cố
Trang Web là một phương tiện giúp giáo viên có thể kiểm tra đánh giá kiến
thức đạt được của học sinh trong phần “Lượng tử ánh sáng”.
10 Cấu trúc của luận văn
Luận văn có cấu trúc như sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Chương I Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc OTCC, kiểm tra và đánh giá
của HS trong các trường THPT
Chương II Xây dựng trang Web hỗ trợ HS tự OTCC, kiểm tra và đánh giá
phần “Lượng tử ánh sáng”- Chương trình Vật lí lớp 12 nâng cao.
Chương III Thực nghiệm sư phạm.
- Phần kết luận
Trang 6CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG CÁC TRƯỜNG THPT
1.1 Cơ sở lí luận của hoạt động ôn tập củng cố
1.1.1 Ôn tập củng cố và mục đích của ôn tập củng cố
Theo từ điển Tiếng Việt (2001) của Viện khoa học Việt Nam, ôn tập có hainghĩa, nghĩa thứ nhất: ôn tập là học để nhớ, để nắm chắc; nghĩa thứ hai: ôn tập là hệthống hóa lại kiến thức đã dạy để học sinh nắm chắc chương trình; củng cố có hainghĩa, nghĩa thứ nhất: củng cố là làm cho trở nên bền vững, chắc chắn hơn lên,nghĩa thứ hai: củng cố là nhớ lại để nắm vững và nhớ cho kĩ hơn.[35]
Như vậy, OTCC theo từ điển Tiếng Việt có thể được hiểu là quá trình học lại
và luyện lại những điều đã học để nhớ, để cho kiến thức trở nên bền vững, chắcchắn hơn
Theo các nhà tâm lí học [17]; [30]: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sựcấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mớikết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể táihiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạtđộng khác nhau Sự lưu giữ thông tin được bắt đầu từ quá trình ghi nhớ, quá trìnhghi nhớ có liên quan đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớdài Thông tin được lưu giữ trong trí nhớ ngắn chỉ chừng vài giây trong thời gianngười học làm viêc, tiến hành thao tác trên các thông tin đó, còn trí nhớ dài lưu giữthông tin trong suốt cả cuộc đời Trí nhớ ngắn lưu giữ những gì ta đang suy nghĩvào lúc đó, cùng với những thông tin chuyển từ các giác quan như tai, mắt của conngười Sau khi lưu giữ và xử lí những thông tin ấy trong vài giây, trí nhớ ngắn lậptức quên hầu hết số thông tin ấy Để lưu giữ thông tin thì những nội dung của trínhớ ngắn phải được chuyển sang trí nhớ dài Nhưng muốn chuyển được sang đượctrí nhớ dài thì các thông tin đó trước hết cần được xử lí , sắp xếp cấu trúc trong trínhớ ngắn sao cho nó có nghĩa đối với người học Thực chất của hoạt động này làthực hiện việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận và tổ
Trang 7chức lại thông tin đã thu nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối vớingười học Để tổ chức được thông tin, điều đầu tiên người học phải xác nhận lạithông tin, bổ sung, chỉnh lí , chính xác hóa những thông tin đã lĩnh hội qua các thaotác trí tuệ để tìm ra những vấn đề cơ bản , những kết luận mấu chốt, những vấn đềchưa rõ, chưa hiểu , trao đổi với bạn bè, với thầy cô giáo để làm sáng tỏ nhữngthông tin đó Tức là phải thông hiểu thông tin, phải trả lời được câu hỏi “tại sao nhưvây?” Trên cơ sở của sự thông hiểu thông tin, người học tiến hành các hoạt độngphân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ chức lại cácthông tin đã lĩnh hội đó trong một cấu trúc mới Sau khi trí nhớ ngắn đã “làm nên ýnghĩa” cho thông tin đã được lĩnh hội thì nó được chuyển thành trí nhớ dài Từ đâycho thấy chất lượng của việc cấu trúc lại thông tin như thế nào để chuyển sang lưutrữ tại vùng trí nhớ dài hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức ôn tập của GV và vào chính cá nhân HS
Trí nhớ dài giống như một tủ hồ sơ chứa những thông tin đã được lập thànhtệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai Tuy nhiên trí nhớ dài có khuynhhướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích” một cách lâu dàinếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc những ý tưởng đó Do vậy, với nhữngthông tin cần được lưu giữ trong trí nhớ dài thì chúng cần phải được sử dụng và gợinhớ lại một cách thường xuyên Điều đó có nghĩa là khi thông tin đã được chuyển
từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu không có sự sử dụng thường xuyên thì nhữngthông tin đó sẽ bị lãng quên Vì vậy để lưu giữ thông tin lâu dài, GV cần phải tổchức cho HS sử dụng những thông tin đã được lĩnh hội một cách thường xuyênbằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụng nhữngthông tin ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà thị Đức; Nguyễn BáKim;…): Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; tạo khả năng chogiáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của học sinh, rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lựcnhận thức, chú ý cho học sinh Ôn tập còn giúp học sinh mở rộng đào sâu, khái quát
Trang 8hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kĩ năng, kĩ xảo đãđược hình thành.[30]
Ôn tập còn là quá trình giúp học sinh xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổchức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phầncủng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong cáchoạt động ở nhiều mức độ khác nhau
Từ những quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi cho rằng OTCC là quátrình người học xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, bổ sung, chỉnh lí thông tin và tổchức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn giúp cho người học vận dụngthông tin đã lĩnh hội một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả Thông qua OTCCtri thức của người học được hệ thống hoá, đào sâu và mở rộng, trên cơ sở đó màtừng bước rèn luyện được các kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí nhớ cũng như tư duycủa người học
1.1.2 Vai trò và vị trí của ôn tập củng cố trong quá trình nhận thức
OTCC được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trìnhdạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GVphải sử dụng trong việc dạy học của mình và để giúp người học trong quá trìnhhoàn thiện tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mànhững kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấutrúc lại, khắc sâu một cách khoa học hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cáichủ yếu được gắn lại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trínhớ nếu thiếu ôn tập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào thì sẽ bị “teolại” giống như các cơ trong cơ thể nếu thiếu sự luyện tập
Ôn tập cần thiết cho việc củng cố tri thức, hiểu rõ tri thức và hoàn thiện trithức và sau đó là để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúc khác Ôn tậpcòn có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kĩ năng đặc biệt là kĩ năng vậndụng kiến thức vào trong các tình huống cụ thể khi ôn tập vật lí Không có gì tai hạihơn là khi tiếp thu một kiến thức rời rạc và thiếu ổn định, người thầy nếu cung cấpmột lượng kiến thức rời rạc và không ổn định như vậy cho học sinh sẽ gây khó khăn
Trang 9cho việc tri giác kiến thức mới và củng cố kiến thức cũ Những kiến thức cũ cầnđược củng cố, điều chỉnh là để “giải phóng bộ óc” giúp cho việc lĩnh hội kiến thứcmới dễ dàng và nhanh chóng, bởi vì chỉ có thể cố định kiến thức cũ thì mới dùng nólàm chỗ dựa cho kiến thức mới được.
Thông qua việc OTCC giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, có một “bứctranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩ năng đãđược học, giúp học sinh đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránhđược các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khi học lần đầu
1.1.3 Nội dung cần ôn tập củng cố trong dạy học vật lí
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông,
vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nộidung chương trình của môn học qui định cho từng khóa học mà lựa chọn những vấn
đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập cũng không tự
đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của bộ mônvới nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trong khoảng thờigian cho phép được quy định của chương trình [32]
Đối với môn vật lí cái tạo thành nội dung chính của môn học là những kiếnthức vật lí cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thựchiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí , trước hết là phát triển năng lực nhậnthức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy họcvật lí cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạyhọc từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, gợi hứng thú, củng cố, ôn tập, điềuchỉnh, kiểm tra, đánh giá Trong học tập vật lí một mặt HS phải quan sát thực tế đểcảm nhận được sự tồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoài của
nó nhờ các giác quan, mặt khác HS phải thực hiện các phép suy luận, biến đổi trong
óc để rút ra được các đặc tính bản chất và những mối quan hệ phổ biến khách quan,nhờ thế mà rút ra chân lí mới Trình tự hợp lí của những hoạt động vật chất và tinhthần đảm bảo cho kết luận cuối cùng rút ra phản ánh đúng thực tế khách quan gọi làphương pháp nhận thức vật lí Các phương pháp nhận thức vật lí đều do các nhà
Trang 10bác học đúc kết được thông qua hoạt động thực tiễn, đã được thực tiễn khẳng định.Muốn cho HS làm quen dần với phương pháp đi tìm chân lí mới trong quá trìnhhọc tập, nhất thiết phải dạy cho họ các phương pháp nhận thức phổ biến Tuy nhiên,việc vận dụng các phương pháp đó để nghiên cứu một hiện tượng, một tính chất,một định luật vật lí là một việc không dễ dàng Chính vì thế, trong nhà trường, cần
cố gắng làm cho HS biết được người ta thực hiện những hành động nào, trải quanhững giai đoạn nào trên con đường đi tìm chân lí ; đồng thời tuỳ theo trình độ của
HS và các điều kiện cụ thể của nhà trường mà tổ chức cho HS tham gia trực tiếpmột số giai đoạn của các phương pháp nhận thức đó
Những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thức mới cũng như trong quá trình OTCC trong chương trình vật lí ở trường phổ thông gồm các loại sau:
- Những khái niệm vật lí , đặc biệt là những khái niệm về đại lượng vật lí
- Kĩ năng xử lí thông tin: Đây là kĩ năng đòi hỏi tư duy cao Học sinh cầnđược hướng dẫn lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch xử lí các thông tin thu thập
Trang 11được để rút ra các kết luận cần thiết Hoạt động này thường được tiến hành bởi cáchình thức:
+ Thiết kế một phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán
+ Sử dụng biểu bảng, đồ thị, công thức toán để xử lí các số liệu thu được từthí nghiệm
+ Tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, qui nạp, suydiễn… các thông tin thu được để rút ra các kết luận [7]
- Kĩ năng truyền đạt thông tin: Khi tham gia vào ôn tập dưới sự hỗ trợ củaWebsite, mỗi học sinh sẽ thông báo những thông tin, kết quả xử lí thông tin của cánhân hay của nhóm, báo cáo kết quả hoạt động của nhóm, nhận xét đánh giá ý kiếncủa cá nhân…Hoạt động này không những góp phần phát triển ngôn ngữ ở học sinh
mà con giúp các em rèn luyện các phẩm chất cần thiết để hoà nhập với cuộc sốngcộng đồng
1.1.4.1 OTCC ngay trong giờ học chính khóa
- Ôn tập ngay trước và trong khi học sinh tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mớidựa trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó Hình thức này thường đượctiến hành ngay trong mỗi bài học hằng ngày, thực hiện thông qua hệ thống các câuhỏi được giáo viên chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặcnhững câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở để hìnhthành kiến thức mới trong bài học
- Ôn tập được thực hiện ngay sau khi học sinh vừa học bài mới, nhằm củng
cố những kiến thức học sinh vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốtlõi của bài học Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi để học