TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 73, số 4, năm 2012 NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ DINH DƯỠNG CỦA CÁ ĐỤC SILLAGO SIHAMA FORSSKAL, 1775 Ở VÙNG VEN BIỂN QUẢNG TRỊ Lê Thị Nam Thuận, Võ Văn T
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 73, số 4, năm 2012
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ DINH DƯỠNG CỦA CÁ ĐỤC SILLAGO
SIHAMA (FORSSKAL, 1775) Ở VÙNG VEN BIỂN QUẢNG TRỊ
Lê Thị Nam Thuận, Võ Văn Thiệp Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Tóm tắt Bài báo nghiên cứu những đặc điểm sinh học sinh trưởng và dinh dưỡng
của cá Đục Sillago sihama (Forsskal, 1775), một loài cá có giá trị kinh tế và chất lượng thực phẩm thơm ngon ở vùng ven biển Quảng Trị [1], [2] Các phương trình sinh trưởng và phổ thức ăn của cá Đục đã được xác lập cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa điều kiện sinh thái và cơ sở thức ăn tự nhiên của vùng phân bố của cá
1 Đặt vấn đề
Trong nhiều năm trở lại đây, nguồn lợi khai thác cá biển đã góp phần đưa đời sống ngư dân vùng ven biển Quảng Trị ngày càng được cải thiện và phát triển Trong số thành phần các loài cá mà ngư dân khai thác, không thể không nhắc đến loài cá Đục Đây là loài cá thường gặp ở vùng đầm phá, cửa sông và ven biển Cá Đục tuy có kích cỡ trung bình nhưng có giá trị thương phẩm cao, là thực phẩm được nhiều người ưa thích Tuy nhiên, các nghiên cứu về sinh trưởng và dinh dưỡng của cá Đục chưa được quan tâm đầy đủ Bài báo này mong muốn đóng góp bước đầu những nghiên cứu về cá Đục ở vùng biển tỉnh Quảng Trị, từ đó có thể đề xuất giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá hiệu quả
2 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá Đục Sillago sihama (Forsskal, 1775) (họ
Sillaginidae, bộ Perciformes) [3, 6] ở vùng ven biển tỉnh Quảng Trị
Phương pháp nghiên cứu:
+ Thu mẫu theo phương pháp thu ngẫu nhiên đại diện cho chủng quần theo định
kỳ hàng tháng Tổng số mẫu thu là 374
+ Nghiên cứu sinh trưởng và dinh dưỡng cá theo các phương pháp nghiên cứu ngư loại phổ biến của Pravdin [7], Nikolski [5], Đặng Thị Sy [8], Đặng Ngọc Thanh [9], [10]
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Đục
Trang 2nhóm tuổi khác nhau và có kích thước dao động trong khoảng 87-272 mm tương ứng với khối lượng 5-168 g Trong đó, số lượng cá thể cá Đục ở nhóm tuổi 1+ thu được nhiều nhấtchiếm 55,61% có chiều dài 135-184 mm và khối lượng 19-46 g; nhóm tuổi 0+ chiếm 22,46% với chiều dài 87-137 mm, khối lượng tương ứng 5-21 g; nhóm tuổi 2+ chiếm 13,37% chiều dài 167-238 mm, khối lượng tương ứng 30-86,5 g; nhóm tuổi 3 + ít nhất, chiếm 8,56%, chiều dài 230 – 272 mm, khối lượng tương ứng 78-168 g
Dựa vào công thức Beverton-Holt (1956), phân tích kết quả nghiên cứu, chúng tôi thu được các thông số của phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Đục là: W = 1189,78.10-8.L2,89
Bảng 1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Đục
Chiều dài L (mm) Khối lượng W (g) N Tuổi Giới tính
0+
1+
2+
3+
Hình 1 cho thấy, sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Đục có mối tương quan chặt chẽ với nhau, điều này được thể hiện rất rõ qua hệ số tương quan R2 = 0,96 và đây là tương quan thuận (tương quan dương) Tuy nhiên, đồ thị cho thấy sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Đục cũng không đều nhau Cụ thể, ở giai đoạn đầu (tuổi 0+,1+) chiều dài cá tăng nhanh, khối lượng cá tăng chậm Đến giai đoạn sau (tuổi 2+,3+) cá tăng trưởng về chiều dài chậm lại nhưng tăng trưởng về trọng lượng lại nhanh Sự tăng nhanh về khối lượng ở cá có kích thước lớn có thể liên quan đến việc tích lũy chất dinh dưỡng để đạt được trạng thái thành thục sinh dục, tham gia sinh sản trong chủng quần Đặc điểm này phù hợp với tính thích nghi của các loài cá nhiệt đới, đảm bảo sự sinh tồn của loài [4, 5, 7]
Trang 3Hình 1 Đồ thị tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Đục
3.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Đục
Dựa vào kết quả thu được về chiều dài và kích thước vảy tương ứng để giải phương trình thực nghiệm Rosa Lee (1920) [6, 7], chúng tôi xác định được hệ số a là 13,45 Nghĩa là cá đạt kích thước 13,35 mm mới bắt đầu có vảy
Mối liên hệ giữa sự gia tăng chiều dài thân và sự gia tăng kích thước vảy như sau:
Lt = (L – 13,45)
V
V t
+ 13,45
Dựa vào mối liên hệ giữa sự gia tăng chiều dài thân và sự gia tăng kích thước vảy chúng tôi xác định được mức tăng kích thước cá Đục hàng năm ở bảng 2
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Đục
Sinh trưởng chiều dài trung
bình hàng năm (mm)
Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung
bình hàng năm (mm)
Tuổi
N
Từ kết quả thu được cho thấy, trong tự nhiên, kích thước trung bình của cá Đục
ở thời điểm một năm tuổi đạt 131,33 mm; hai năm tuổi đạt 177,01 mm; ba năm tuổi đạt
mm
Trang 4đạt 131,33 mm, năm thứ hai tăng thêm 41,21 mm (30,22%), năm thứ ba tăng thêm 26,26 mm (13,78%) Như vậy, vào năm đầu của đời sống cá tăng nhanh về kích thước; thời gian về sau tốc độ sinh trưởng theo chiều dài của cá càng chậm dần tuân theo quy luật phát triển chung của cá nhiệt đới
3.3 Phương trình sinh trưởng của cá Đục
Các thông số của phương trình được xác định trong bảng 3 Từ đó đã viết được phương trình Von Bertalanffy (1954) về kích thước và trọng lượng của cá Đục
Bảng 3 Các thông số sinh trưởng theo chiều dài và khối lượng
Thông số sinh trưởng Theo chiều dài Theo khối lượng
Phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng theo Von Bertalanffy
có dạng:
Lt = 350,4 [1 – e-0,236(t+1,64) ]
Wt = 242,67 [1 – e-0,049(t + 0,103) ]2,89 Các thông số ở bảng 3 cho thấy, cá Đục có thể đạt đến khối lượng lớn nhất là 242,67 g, với chiều dài cơ thể tối đa là 350,4 mm Đối chiếu với bảng 1, ta thấy cá Đục khai thác hiện nay còn nhỏ, điều này hoàn toàn bất lợi cho chủng quần cá, đồng thời chất lượng và giá trị thương phẩm không cao Vì vậy, ngư dân cần tập trung khai thác cá
ở kích cỡ lớn, có như thế mới phát huy hết tiềm năng của chủng quần
3.4 Thành phần thức ăn của cá Đục
Phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa của 374 mẫu cá thu được trong quá trình nghiên cứu cho kết quả về thành phần thức ăn của cá Đục ở bảng 4 và hình 2
Bảng 4 Thành phần thức ăn của cá Đục
Nhóm STT Tên loại thức ăn Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
I Bacillariophyta – Ngành tảo Silic
Trang 56 Navicula x x
II Heterokontophyta – Ngành tảo Dị roi
III Arthropoda – Ngành Chân khớp
VI Vertebrata – Động vật có xương sống
Đã bắt gặp 26 loại thức ăn thuộc 6 nhóm thủy sinh vật khác nhau và mùn bã hữu cơ Trong đó, chiếm ưu thế là các loại thuộc ngành tảo Silic (chiếm 38,46%), tiếp đến thuộc ngành Chân khớp (chiếm 23,08%), thuộc ngành Giun đốt chiếm
Trang 6bố các nhóm thức ăn khác nhau ở các nhóm kích thước cá Đục
Hình 2 Biểu đồ số loại thức ăn của cá Đục theo nhóm kích thước
Ở nhóm cá nhỏ có 18 loại thức ăn được tìm thấy, trong đó phần lớn là các loài thuộc ngành tảo Silic chiếm 55,56%, các loại thuộc ngành Giun đốt 16,67%
Ở nhóm cá vừa có 21 loại thức ăn, ngoài nhóm tảo còn thu được nhiều loại thức ăn thuộc ngành Chân khớp, Giun đốt, thân mềm và động vật có xương sống
Nhóm cá kích thước lớn có 22 loại thức ăn Trong đó, tảo Silic chiếm 31,82%, các loài thuộc ngành Chân khớp chiếm 27,27%, ngoài ra còn có động vật
có xương sống, các loại thuộc ngành Thân mềm… Như vậy, có thể cho thấy cá Đục
có phổ thức ăn khá rộng
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
4.1.1 Cá Đục Sillago sihama (Forsskal, 1775) vùng ven biển tỉnh Quảng Trị có
chiều dài khai thác dao động từ 87 – 272 mm, tương ứng với khối lượng 5-168g Chủng quần cá Đục khai thác ở 4 nhóm tuổi (từ 0+ đến 3+) Nhóm tuổi 1+ có số lượng cá thể ưu thế chiếm 55,61%, với chiều dài 135-184 mm và khối lượng 19-46g Nhóm tuổi 3+ có
số lượng cá thể thấp nhất, chiếm 8,56% với chiều dài 230-272mm, khối lượng tương ứng 78-168g Phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Đục có dạng: W
= 1189,78.10-8.L2,89
4.1.2 Tốc độ tăng trưởng về kích thước cá Đục theo quy luật chung Năm tuổi
1+ là cao nhất, đạt 131,33 mm, năm thứ hai 41,21 mm (30,22%), năm thứ ba 26,26 mm (13,78%) Phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng theo Von Bertalanffy có dạng: Lt = 350,4 [1 – e-0,236(t+1,64) ] và Wt = 242,67 [1 – e-0,049(t + 0,103)
]2,89
4.1.3 Cá Đục có phổ thức ăn khá rộng, gồm 26 loại thuộc 7 nhóm khác nhau
Trong các loại thức ăn của cá Đục, chủ yếu là các loại thuộc ngành tảo Silic (chiếm 38,46%), tiếp đến là các loại thuộc ngành Chân khớp (chiếm 23,08%), các loài thuộc
Trang 7ngành Giun đốt chiếm 11,54%, động vật có xương sống, tảo Dị roi và các loại thuộc ngành Thân mềm đều chiếm 7,69%
4.2 Đề nghị
Cần có những chính sách hỗ trợ ngư dân, để giảm sức ép khai thác thủy sản vùng ven bờ, hướng tới khai thác vùng khơi; Tăng cường công tác kiểm tra để xử lý việc đánh bắt thủy sản bằng các phương tiện có tính hủy diệt (nổ mìn, xung điện…) nhằm đảm bảo nguồn lợi thủy sản trong đó có nguồn lợi cá Đục
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Thuỷ sản, Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996
2 Cục thống kê Quảng Trị, Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị, Nxb Thống kê, 2010
3 McKay, R J, A revision of the fishes of the family Sillaginidae, Memoirs of the Queensland Museum, v 22 (pt 1), (1985), 1-73
4 P Jayasankar, Length-weight relationship and relative condition factor in Sillago sihama (Forsskal) from Mandapam region, Indian Journal of Fisheries, 38 (3), (1991),
183-186
5 Võ Văn Phú, Những phương pháp nghiên cứu sinh học của cá xương vùng nhiệt đới
(tài liệu dịch từ bản tiếng Nga – Những vấn đề nghiên cứu ngư loại học, Maxkova, tập
20, (21), 1979
6 Nguyễn Hữu Phụng, Danh mục cá biển Việt Nam, tập 3, Nxb Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội, (1994), 155
7 Pravdin I F, Hướng dẫn nghiên cứu cá (Phạm Thị Minh Giang dịch), Nxb Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội, 1973
8 Đặng Thị Sy, Tảo học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2005
9 Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên, Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1980
10 Đặng Ngọc Thanh, Biển Đông, tập IV, Sinh vật và sinh thái biển, Nxb Khoa học Tự
nhiên và Công nghệ, 2009
Trang 8STUDY ON THE GROWTH AND NUTRITION OF SILLAGO SIHAMA
(FORSSKAL, 1775) IN THE COASTAL ZONE AT QUANG TRI PROVINCE
Le Thi Nam Thuan, Vo Van Thiep College of Sciences, Hue University
Abstract The article mentioned the biological characteristics of growth and
nutrition of Sillago sihama (Forsskal, 1775), which is a type of economical fish with high quality flesh in the coastal zone at Quang Tri province The equations of the fish’s growth and nutrition have been established showing the close relation between ecological conditions and basis of natural food in the distribution areas of the fish.