TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 ẢNH HƯỞNG TỶ LỆ PHỐI TRỘN CÁC NGUYÊN LIỆU TRONG THỨC ĂN VIÊN TỚI KHẢ NĂNG TIÊU HÓA, TÍCH LŨY NITƠ, SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ Ở
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012
ẢNH HƯỞNG TỶ LỆ PHỐI TRỘN CÁC NGUYÊN LIỆU TRONG THỨC ĂN VIÊN TỚI KHẢ NĂNG TIÊU HÓA, TÍCH LŨY NITƠ, SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ Ở THỎ NUÔI THỊT TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Dư Thanh Hằng 1 , Lê Trần Tịnh Quyên 2 1
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế 2
Học viên cao học khóa 15, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Tóm tắt 25 thỏ lai (Địa phương x New Zealand), có trọng lượng ban đầu 1,5 kg
± 0,2 được thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn ở 5 nghiệm thức KF0, KF7.5; KF15; KF22.5; KF30 (tương ứng 5 mức 0; 7,5; 15; 22,5 và 30% bột lá sắn trong thức ăn viên) đến khả năng tiêu hóa và tích lũy nitơ ở thỏ Kết quả cho thấy, có sự khác nhau về khả năng tiêu hóa hợp chất hữu cơ (OM) và vật chất khô giữa các nghiệm thức (P<0,05) N được tiêu hóa giảm dần theo mức tăng dần của bột lá sắn (P<0.05) N tích lũy ở các nghiệm thức KF0, KF7.5, KF15 và KF22.5 không có
sự sai khác (p> 0,05) (từ 1,98 đến 2,06 g/ngày) cao hơn nghiệm thức KF30 (1,84 g) (p = 0,001)
Năm mươi thỏ lai (Địa phương x New Zealand), có trọng lượng ban đầu 0,8 ± 0,2 kg, được thiết kế theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 nghiệm thức: KF0; KF7.5; KF15, KF22.5 và được so sánh với thức ăn công nghiệp (KFDC), với 5 lần lặp lại (5*2*5) Kết quả cho thấy, tăng trọng đạt cao nhất ở KF22,5 (24,5g/ngày) rồi đến KF15 (22,3 g/ngày), thấp hơn ở KF0 (20,3 g/ngày); KFDC (20,6 g/ngày) và KF7.5 (19,6 g/ngày) (p <0,05) FCR từ 4,2 đến 4,9 (P> 0,05) Hiệu quả kinh tế có xu hướng tăng dần theo mức tăng bột lá sắn trong các nghiệm thức Từ đó có thể kết luận, có thể sử dụng mức 22,5% bột lá sắn trong thức ăn viên như nguồn protein cho thỏ mang lại hiệu quả kinh tế
Từ khóa Cân bằng N, lá sắn, tiêu hóa, tăng trọng, chuyển hóa thức ăn, hiệu quả
kinh tế, thỏ
1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây (sau khi dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh ở lợn xảy ra tại Việt Nam), chăn nuôi thỏ đã được nông dân và các cơ quan Chính phủ quan tâm nhiều hơn, chăn nuôi thỏ được xem như là một phương tiện để nâng cao thu nhập của người nghèo nông thôn Hiện nay, số lượng thỏ ở nước ta vào khoảng 6,45 triệu con, phân bố đều trên cả ba miền đất nước và sản lượng thịt thỏ sản xuất ra năm 2005 là
Trang 22.516 tấn và năm 2006 là 2.635 tấn (Đinh Văn Bình, 2009) Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, song hàng năm cả nước mới chỉ có khoảng 19 triệu thỏ sản phẩm cung cấp trung bình 22500 tấn thịt thỏ (Cục Chăn nuôi, 2007) Theo định hướng của Cục Chăn nuôi đến năm 2020, chuyển đổi chăn nuôi thỏ từ nông hộ sang chăn nuôi trang trại công nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, kiểm soát dịch bệnh; đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm (Cục chăn nuôi, 2007)
Để thực hiện được định hướng này, ngoài công tác giống và qui hoạch vùng giống trọng điểm thì thức ăn được quan tâm hàng đầu Đồng nghĩa với chăn nuôi công nghiệp thì thức ăn hỗn hợp không thể thiếu Đứng trước tình hình giá cả thức ăn liên tục tăng cao trong những năm vừa qua, việc tìm kiếm lựa chọn những nguyên liệu là các phụ phẩm chế biến hay sản phẩm phụ sau thu hoạch đồng thời xác định tỷ lệ các nguyên liệu này trong thức ăn hỗn hợp nhằm giảm chi phí thức ăn và tăng hiệu quả chăn nuôi là hướng đi cần thiết
Lá sắn là nguồn cung cấp protein có giá trị trong chăn nuôi Thành phần protein thô trong lá sắn phụ thuộc vào giống, chế độ chăm sóc, phân bón nhưng biến động vào khoảng từ 16,7 tới 39% trong vật chất khô (Eggum, 1970; Allen 1984; Phuc, 2000; Hang 2007) Protein trong lá sắn tương đối đầy đủ axit amin thiết yếu (trừ Meth
và Cys.) (Phuc, 2001) tương đương với axit amin của cỏ alfalfa và bột đậu tương Nghiên cứu sử dụng bột lá sắn làm thức ăn cho thỏ đã được một số tác giả quan tâm Khi nghiên cứu việc thay thế thức ăn đậm đặc bởi lá sắn trong khẩu phần ăn của thỏ, Okonkwo (2010) cho thấy lượng VCK ăn vào dao động 44 - 67g /con/ngày nằm trong khoảng 40 - 80 g/con/ngày, tương tự với báo cáo của Joyce (1971) và kết quả nghiên cứu của Omole (2005), tỉ lệ % của bột lá sắn trong khẩu phần từ 0 - 15% thì hệ số tiêu hóa vật chất khô đạt từ 67 – 81%, tiêu hóa protein thô đạt từ 54 - 77,5%, tiêu hóa xơ từ
25 – 44% Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) từ 3,1-5,3 Các mức 15% và 30% bột lá sắn không ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ tiêu hóa Thỏ có tỷ lệ tiêu hóa cao ở mức 30% bột lá sắn trong khẩu phần
Mục tiêu của nghiên cứu: Đánh giá giá trị dinh dưỡng của các công thức thức
ăn viên khi sử dụng các tỷ lệ phối trộn khác nhau trong đó bột lá sắn được sử dụng như nguồn protein thay thế khô dầu đậu tương và bã đậu nành với các mức khác nhau
2 Nội dung và phương pháp thí nghiệm
Sử dụng các nguyên liệu chủ yếu từ địa phương và các phụ phẩm chế biến bao gồm: cám gạo, ngô, thóc lép, bã sắn, lá sắn, bã bia, bã đậu làm nguyên liệu phối trộn trong các công thức thức ăn viên Mặc dù tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu thức ăn khác nhau nhưng thành phần dinh dưỡng như protein, xơ, chất béo của các nghiệm thức được cân bằng gần như tương đương nhau
Trang 32.1.Công thức thí nghiệm
Sử dụng 5 nghiệm thức (KF0; KF7,5; KF15; KF22,5 và KF30) với tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu khác nhau, trong đó bột lá sắn được sử dụng với các mức tương ứng: 0, 7,5; 15; 22,5 và 30% (tính theo DM) Cám gạo và ngô được sử dụng như nguồn cung cấp năng lượng nhưng chỉ chiếm tỷ lệ thấp từ 9,5-11% ở cám và 4% ở ngô Bã bia,
bã sắn, thóc lép là phụ phẩm các ngành chế biến được sử dụng với tỷ lệ cao từ 15 đến 24% trong các nghiệm thức nhằm giảm giá thành của sản phẩm Khô dầu đậu tương, bã đậu nành là những nguyên liệu giầu đạm được sử dụng với tỷ lệ giảm dần theo mức tăng của bột lá sắn, trong đó khô dầu đậu tương mức 12% ở KF0 giảm xuống còn 6% ở KF30%; Bã đậu nành cũng giảm từ 12% xuống còn 6% Mức giảm cao nhất chiếm 50%
so với mức ban đầu Tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu được thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 Tỷ lệ các nguyên liệu và giá trị dinh dưỡng trong các công thức thức ăn viên
(% trong DM)
Nguyên liệu
Premix
Giá trị dinh dưỡng của các công thức thí nghiệm (% trong DM)
(*Chú thích: CP: Protein thô; EE: Chất chiết (mỡ thô); CF: Xơ thô; Ash: Khoáng tổng số; ME: Năng lượng trao đổi)
Trang 4Giá trị dinh dưỡng của các công thức thức ăn dựa trên cơ sở nhu cầu dinh dưỡng của thỏ nuôi thịt và khuyến cáo của các nghiên cứu Theo khuyến cáo của Jenkins (1999), thức ăn viên hoàn chỉnh của thỏ cần chứa 20-25% xơ thô; năng lượng 2200 Kcal/kg thức ăn (Cheeke, 1994) Theo khuyến cáo của Đinh Văn Bình (2003), nếu hàm lượng xơ dưới 8% thì làm thỏ đói, ỉa chảy, ngược lại nếu tăng lên cao hơn 16% thì làm thỏ chậm lớn và gây táo bón McNitt (1996) chứng minh rằng, không giống như gia súc
dạ dày kép, protein vi sinh vật chỉ đóng góp một phần nhỏ cho nhu cầu protein của thỏ Theo Nizza (2000) thì mức protein trong thức ăn của thỏ từ 17-20% và năng lượng từ 10,73-12,66 MJDE/kg Maertens và Villamide (1998) khuyến cáo: Chiều dài của thức
ăn viên vào khảng từ 0,8-1,0cm nếu dài hơn sẽ gây dễ vỡ và dập nát khi vận chuyển Theo McNitt (1996), Thức ăn viên cần cứng và có đường kính 0,47 cm và chiều dài là 0,63 cm
Các nguyên liệu sau khi thu mua về lấy mẫu trung bình để phân tích vật chất khô, rồi phơi khô nghiền mịn trên cùng mắt sàng sau đó và sấy ở 650C để phân tích các chỉ tiêu CP Li CF và khoáng tổng số Tất cả các nguyên liệu sau khi được cân theo tỷ lệ của từng nghiệm thức được trộn đều, kỹ và trộn với nước theo tỷ lệ 2:1 (2 phần thức ăn,
1 phần nước) và ép thành dạng viên rồi sấy khô ở nhiệt độ 650C và bảo quản nơi khô ráo tránh nấm mốc
2.2 Chuồng thí nghiệm
Khung chuồng bằng inox, dài: 50cm, rộng 15cm, cao 30cm, bao quanh bằng lưới sắt (diện tích mắt lưới: 1 x 1cm); chuồng cao cách mặt đất: 50cm Các chuồng tiêu hóa được thiết kế đảm bảo tách phân và nước tiểu riêng biệt Phần dưới đáy chuồng lót tấm lưới để thu phân và dưới lưới thu phân là lớp nilon dày để thu nước tiểu Máng thức ăn viên, máng thức ăn xanh và nước uống được tách biệt
2.3 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm (TN) thử mức tiêu hóa với 25 thỏ lai địa phương, trọng lượng TB: 1,5 kg ± 0,2 nuôi cá thể Bố trí theo kiểu ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức, 5 lần lặp lại (5 x
5 =25) Mỗi nghiệm thức có 5 con như 5 lần lặp lại, tỷ lệ đực cái như nhau Thỏ được đưa vào từng ô cũi trao đổi và được cố định 1 chân trước và 1 chân sau bằng dây vải mềm để đảm bảo thỏ không cúi ăn lại phân Tiêu hóa biểu kiến được xác định thông qua phương pháp thu phân (thỏ được khống chế không cho ăn lại phân mềm)
TN nuôi dưỡng với 50 thỏ lai địa phương đang trong giai đoạn sinh trưởng (khoảng 1,5 đến 2 tháng tuổi) có trọng lượng trung bình 0,8kg ± 0,2 kg được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 nghiệm thức bao gồm: khẩu phần đối chứng (KFĐC), KF0; KF7.5; KF15 và KF22.5 Mỗi nghiệm thức có 10 con và được chia thành 5 ô chuồng (mỗi ô 2 con), 5 lần lặp lại (5*2*5)
Trang 52.4 Thức ăn và cách cho ăn
Ở TN tiêu hóa, thức ăn viên và thức ăn xanh được cho ăn cùng một lúc ở 2 máng riêng biệt và thức ăn được cho ăn 3 lần/ngày: vào lúc 7 giờ sáng, 12 giờ trưa và 19 giờ tối Ở TN nuôi dưỡng thức ăn viên và thức ăn xanh được cho ăn tự do và chia làm hai lần trong một ngày vào buổi sáng lúc 6h và buổi chiều lúc 17h luôn đảm bảo thức ăn có trong máng Lượng thức ăn viên được cho ăn bằng 5% theo trọng lượng cơ thể (McNitt ,1996; Jenkins’s 1999; NIH 2005) Ở TN tiêu hóa, thức ăn xanh sử dụng là rau khoai lang, lượng cho ăn được ước tính theo số lượng ăn tự do ở giai đoạn thích nghi và được khống chế bằng 80% ở giai đoạn thu mẫu để đảm bảo thỏ ăn hết khẩu phần (tinh
và xanh) theo dự kiến Ở TN nuôi dưỡng, thức ăn xanh là cỏ ghi nê, nước uống tự do bằng vòi uống tự động
Thức ăn viên sử dụng ở lô đối chứng chúng tôi dùng thức ăn viên Thanh Phương là loại thức ăn hỗn hợp có thành phần ME: 2500 kcal/kg; CP: 17%; Li: 3%
và CF: 11%
2.5 Thời gian thí nghiệm
TN tiêu hóa được tiến hành trong 30 ngày trong đó 15 ngày làm quen cũi trao đổi, 8 ngày làm quen thức ăn TN và 7 ngày thu phân, nước tiểu Phân và nước tiểu thu làm 3 lần/ ngày vào lúc 6 giờ, 11 và 18 giờ Để đảm bảo nitơ không bị phân hủy, nước tiểu được bổ sung thêm H2SO4 (10%) để pH luôn < 4 Mẫu phân trong ngày được trộn đều theo từng con của từng công thức rồi lấy mẫu xác định vật chất khô, phần còn lại được bảo quản trong tủ lạnh sâu âm 18oC
2.6 Xử lý mẫu
Sau 7 ngày thu phân, nước tiểu, mẫu phân được lấy ra, trộn đều và sấy ở nhiệt độ 650C và lấy mẫu trung bình để phân tích cho từng con như lần lặp lại Với các chỉ tiêu, vật chất khô, protein, xơ, khoáng Tất cả các chỉ tiêu phân tích được tiến hành tại phòng Phân tích Trung tâm, khoa Chăn nuôi - Thú Y Trường Đại học Nông Lâm Huế
3 Xử lý số liệu
Số liệu thu thập trong suốt quá trình TN được quản lý trong phần mềm Excel và
xử lý bằng phần mềm Minitab 15.1.2 (2007) Số liệu đã được xử lý theo ANOVA trên
mô hình GLM và biểu thị kết quả theo Least Square Mean và sai số của giá trị trung bình (SEM) So sánh sai khác giá trị trung bình của các nghiệm thức bằng phương pháp TUKEY với khoảng tin cậy 95%
Trang 64 Kết quả và thảo luận
4.1 Giá trị dinh dưỡng thức ăn và lượng ăn vào của thỏ ở các nghiệm thức thí nghiệm
Do đặc điểm và cấu trúc bộ máy tiêu hóa của thỏ phù hợp với thức ăn thô xơ, vì vậy các nguyên liệu chủ yếu trong nghiên cứu này là thức ăn thực vật và phụ phẩm chế biến sẵn có tại địa phương và cơ sở nghiên cứu như bã sắn, bã bia, lá sắn, bã đậu nành, thóc lép…Kết quả phân tích thành phần hóa học của các nguyên liệu thức ăn dùng cho thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3
Bảng 3 Thành phần và giá trị dinh dưỡng các nguyên liệu sử dụng trong thí nghiệm
(% trong DM)
(Kcal/kg)
Cám gạo 89,50 14,90 16,80 5,96 8,70 0,22 1,33 4351 Ngô 86,70 8,01 5,13 2,60 1,40 0,12 0,23 5352 Khô dầu đậu tương 84,50 42,60 7,40 6,20 5,90 0,26 0,67 4870 Bột lá sắn 89,50 26,00 6,03 15,88 10,50 1,40 0,75 3965
Bã đậu 84,54 30,70 9,15 18,10 3,26 0,18 0,36 3260
Bã bia 89,40 25,20 6,48 14,50 4,29 0,26 0,48 3382
Bã sắn 87,00 1,80 3,30 5,10 1,70 0,11 0,20 3088 Thóc lép 88,50 5,30 2,20 22,50 17,00 0,21 0,23 2834 Kết quả bảng 3 cho thấy: khô dầu đậu tương là nguyên liệu có giá trị protein cao nhất (42%) rồi đến bã đậu (sản phẩm phụ của ép bánh đậu phụ thủ công) Các loại phụ phẩm khác như bã bia cũng có hàm lượng protein đáng kể (25,2%) và đặc biệt bột lá sắn
có hàm lượng protein thô lên tới 26% Trong khi đó cám gạo và ngô là các nguyên liệu truyền thống trong chăn nuôi thì hàm lượng protein cũng chỉ lần lượt là 14,9 và 8% Các nguyên liệu bao gồm chủ yếu là các phụ phẩm nên hàm lượng xơ thô tương đối cao đặc biệt trong bã bia, bã sắn và bã đậu hàm lượng xơ thô từ 14,5 đến 18,1% Các nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu này cũng phù hợp với khuyến cáo của tổ chức NIH (NSN-8710-01-005-8439) rằng: thức ăn viên cho thỏ nên bao gồm các nguyên liệu chủ yếu: thức ăn tinh, bột lá giầu đạm, đạm thực vật, men bia (rượu) khô Với tỷ lệ phối trộn khác nhau trong thời gian thí nghiệm, kết quả lượng ăn vào thực tế của các khẩu phần ở các lô được thể hiện ở bảng 4
Trang 7Bảng 4 Lượng ăn vào thực tế của thỏ ở các khẩu phần thí nghiệm (g DM/thỏ/ngày)
Rau khoai lang 20,34 22,12 20,39 20,91 21,42 0,5799 0,16 Thức ăn viên 79,18 79,38 79,20 79,42 78,17 0,3497 0,08 Tổng g DM ăn vào 99,52 101,5 99,59 100,33 99,59 0,6517 0,18 Tổng g CP ăn vào 18,41 18,42 18,55 18,41 18,26 0,0949 0,32 Tổng g xơ ăn vào 13,96a 14,11a 13,81b 13,74b 13,70b 0,0799 0,02
(Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng với các ký tự a, b, c khác nhau thì sai khác
có ý nghĩa thống kê (P<0,05))
Sử dụng rau khoai lang bổ sung trong suốt thời gian TN chiếm gần ¼ tổng lượng
DM ăn vào Kết quả cho thấy, lượng ăn vào giữa các lô TN không có sự sai khác (p= 0,16) biến động trong khoảng từ 20,35 đến 22,12 g/con/ngày Điều đó cũng đồng nghĩa rằng, sự sai khác về tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi thức
ăn viên hay tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu trong thức ăn viên Lượng thức ăn tinh ăn vào biến động từ 78,17đến 79,42g/con/ngày, nhưng cũng không có sự sai khác thống kê (p=0,08) Mặc dù tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu trong công thức thức ăn có khác nhau nhưng tổng lượng DM, lượng protein và xơ ăn vào ở thỏ giữa các lô TN đều có xu thế tương đương nhau (với p > 0.05) Lượng protein thô ăn vào từ 18,26 đến 18.55 g/con/ngày và lượng xơ ăn vào đạt 13,70-14,11g/con/ngày
4.2 Khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở thỏ
Với kết quả trên, chứng tỏ tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu có khác nhau và tỷ lệ bột lá sắn thay thế khô dầu đậu tương và một số nguyên liệu dầu đạm tăng từ 0, đến 30%, tỷ lệ KDĐT và bã đậu giảm dần từ 12% còn 6% không làm ảnh hưởng đến tính ngon miệng và lượng ăn vào của thỏ Để có cơ sở khẳng định kết luận trên, chúng tôi xem xét ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu tới khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở các lô thí nghiệm Kết quả được trình bày ở bảng 5
Bảng 5 Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng (% theo DM)
và tích lũy N của thỏ ở các nghiệm thức
Trang 8Tỷ lệ lợi dụng khoáng 46,9 44,4 45,4 40,8 38,3 2,899
N ăn vào (g/con/ngày) 2,945 2,948 2,968 2,946 2,922 0,0152
N phân 0,618a 0,636a 0,684b 0,747b 0,803b 0,037
N nước tiểu 0,281 0,256 0,262 0,221 0,274 0,022
N tiêu hóa (g/con/ngày) 2,33a 2,31a 2,28a 2,20b 2,12c 0,040 Tiêu hóa N (%) 78,99a 78,38a 76,96a 74,67b 72,50c 1,270
N tích lũy (g/con/ngày) 2,05a 2,06a 2,02a 1,98a 1,84b 0,039
Pr tích lũy/Pr ăn vào (%) 69,46a 69,73a 68,13a 67,18a 63,13b 1,262
(Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng với các ký tự a, b, c khác nhau thì sai khác
có ý nghĩa thống kê (P<0,05))
Kết quả bảng 5 cho thấy, khả năng tiêu hóa xơ và khoáng ở các lô thí nghiệm không có sự sai khác (P > 0,05) Tiêu hóa xơ đạt từ 55,6% - 58,8% Kết quả của nghiên
cứu này cao hơn nhiều so với công bố của Aziza, 2008 khi bổ sung lõi hạt carob mức từ
0 đến 20% thì tiêu hóa xơ chỉ đạt từ 28-33%; So sánh số liệu này với tỷ lệ tiêu hóa NDF của Nguyen Van T và Nguyen Thi K.D (2008) thì kết quả của chúng tôi cũng cao hơn Nhưng số liệu này thấp hơn công bố của Singh, 1997 khi nghiên cứu tỷ lệ tiêu hóa của
lá robinia, đạt 60%, và tương đương với thông báo của Ani, A.O 2008 khi thay thế hạt Pigeon Pea (Cajanus Cajan) với các mức 0, 10, 20 và 30% trong thức ăn viên thì tỷ lệ
tiêu hóa xơ đạt từ 52,4 đến 61,5%
Kết quả tiêu hóa DM và chất hữu cơ cho thấy: các công thức thức ăn viên có tỷ
lệ bột lá sắn càng cao thì có xu thế làm giảm (P < 0,05), lô không sử dụng bột lá sắn cho kết quả cao nhất Tuy nhiên trong thức ăn viên khi tăng tỷ lệ bột lá sắn từ 7,5 lên 15, 22,5 và 30% nhưng dường như chiều hướng sự sai khác không rõ rệt về tiêu hóa DM và hợp chất hữu cơ, cụ thể giữa các lô thay thế mức 15, 22,5 và 30% không có sự sai khác (p>0,05) Kết quả này cao hơn công bố của Aziza, 2008 tiêu hóa DM lõi hạt carob chỉ đạt từ 57-61% và tiêu hóa hợp chất hữu cơ đạt từ 59-62% Nhưng tương đương với kết quả của Singh, 1997, tiêu hóa vật chất khô: 74%, Chất hữu cơ: 77% Các số liệu của chúng tôi thu được cao hơn công bố của Ani, A.O 2008 rằng tiêu hóa DM đạt từ 57,3 đến 66,2%
Với mục tiêu sử dụng bột lá sắn như nguồn thức ăn giầu đạm để thay thế khô dầu đậu tương và bã đậu nành đồng thời tận dụng các phụ phẩm bã bia, bã sắn và thóc lép trong thức ăn viên, kết quả cho thấy N tiêu hóa có xu thế giảm dần theo cùng chiếu hướng với mức tăng dần của bột lá sắn Cụ thể N tiêu hóa từ 2,33g/con/ngày ở lô không
Trang 9có lá sắn (KF0) giảm xuống còn 2,12g ở lô 30% bột lá sắn (KF30) Tỷ lệ tiêu hóa N đạt cao nhất ở lô KF0, KF7,5 và KF15(p>0,05) rồi đến lô KF22,5 và thấp nhất lô KF30 (từ 78,99 xuống 72,5%) Kết quả của chúng tôi cao hơn nhiều so với kết quả của Ani, A.O
2008 đạt từ 53,5 đến 62,3% Nhưng lại thấp hơn công bố của Nguyen Van T và Nguyen Thi K.D (2008) thì tỷ lệ tiêu hóa N đạt từ 62,7 đến 84,4% và tương đương với kết quả của Uko, 1999; Và Xiccato và CS, 2003) giá trị tiêu hóa N trung bình là 73,2%, với số mẫu thí nghiệm n = 164 Do tỷ lệ tiêu hóa N có khác nhau nên N tích lũy cũng khác nhau (p=0,001) Lượng N tích lũy giữa các lô KF0, KF7,5; KF15 và KF22,5 không có
sự sai khác (p > 0,05), biến động từ 1,98 đến 2,06 g cao hơn ở lô KF30% bột lá sắn (1,84 g) (p = 0,001) Kết quả này thấp hơn công bố của Aziza, 2008 (N tích lũy đạt 2,34-2,59g/con/ngày) nhưng tương đương với kết quả của nghiên cứu của Nguyen Van T và Nguyen Thi K.D (2008) và J.A Oluokun (2005)
Khi xem xét tỷ lệ giữa protein tích lũy so với protein ăn vào, chúng tôi thấy rằng với tỷ lệ bột lá sắn trong thức ăn viên tăng từ 0 đến 22,5% không làm ảnh hưởng nhưng nếu tăng mức lá sắn lên 30% sẽ làm giảm đáng kể tới tỷ lệ này Tuy nhiên nếu xem xét
tỷ lệ giữa protein tích lũy so với protein tiêu hóa (BV: Giá trị sinh vật học protein thức ăn) thì giữa các lô thí nghiệm không có sự sai khác hay có thể nói, tỷ lệ bột lá sắn tăng
từ 0 đến 30% trong thức ăn viên không làm ảnh hưởng đến giá trị sinh vật học của protein khẩu phần Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét rằng, thỏ có khả năng tiêu hóa protein trong thức ăn thô xanh tương đối tốt, protein trong cỏ alfalfa được tiêu hóa
từ 75-80% trong khi đó ở ngựa cũng loại thức ăn này nhưng chỉ tiêu hóa được 50% (McNitt et al., 1996)
4.3 Tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn ở thỏ
Sau khi kết thúc TN thử mức tiêu hóa, kết quả cho thấy các công thức KF0, KF7.5; KF15 và KF22.5 cho kết quả về tiêu hóa và tích lũy N tương đương nhau (P>0.05) và cao hơn nghiệm thức KF30 vì vậy chúng tôi lựa chọn 4 công thức này để thử nghiệm nuôi dưỡng và so sánh với thức ăn công nghiệp (thức ăn viên Thanh Phương) được xem là thức ăn đối chứng có giá trị dinh dưỡng tương đương với thức
ăn TN
Kết quả về lượng ăn vào thực tế của thỏ ở các lô TN thể hiện ở bảng 7:
Bảng 7 Lượng ăn vào thực tế ở các khẩu phần TN (g/ô/ngày)
Thức ăn tinh 146,6a 182,8c 167,7b 161,9b 182,9c 2,807 Thức ăn xanh 237,2b 238,1ac 250,2bc 256,2b 242,8ac 3,302
DM thức ăn tinh 131,9a 164,5c 150,9b 145,7b 164,6c 2,527
Trang 10DM thức ăn xanh 27,7 27,9 29,3 30,0 28,4 0,386
CP thức ăn tinh 22,4a 31,1c 28,7b 27,7b 31,1c 0,470
CP thức ăn xanh 4,4a 4,4ac 4,7bc 4,8b 4,5a 0,061 Tổng gDM 159,7a 192,4c 180,2b 175,7b 193,0c 2,659
DM /con 79,8a 96,2c 90,1b 87,7b 96,5c 1,329 Tổng CP/con 13,5a 17,8b 16,7b 16,2b 17,8b 0,290
Giá trị dinh dưỡng của các khẩu phần thí nghiệm
CP (%) 16,8a 18,4b 18,5b 18,5b 18,4b 0,008
CF (%) 13,39a 13,76b 13,89b 13,76b 13,75b 0,001
(Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng với các ký tự a, b, c khác nhau thì sai khác
có ý nghĩa thống kê (P<0,05))
Kết quả bảng 7 cho thấy lượng thức ăn tinh, thức ăn xanh ăn vào giữa các nghiệm thức có sự sai khác đáng kể dẫn đến tổng DM, tổng protein thô (CP) ăn vào cũng khác nhau (p<0,05) Lượng thức ăn xanh ăn vào chiếm khoảng 30% tổng lượng
DM ăn vào Lượng DM ăn vào ở KF0 và KF22,5 là tương đương nhau (96,2 và 96,5 g/con/ngày), KF7,5 và KF15 (90,1 và 87,7g/con/ngày) cao hơn hẳn KFĐC (79,8g/con/ngày) (P<0,05) Lượng protein thô ăn vào ở KF0, KF22,5, KF15 gần giống nhau và cao hơn so với KFĐC và KF7,5 (với P<0,05) Điều này chứng tỏ khi bổ sung bột lá sắn trong khẩu phần thay thế một phần các loại thức ăn đạm truyền thống như khô dầu đậu tương, bã đậu tương không làm ảnh hưởng đến lượng ăn vào của thỏ cũng như giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần thí nghiệm Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với công bố của Okonkwo (2010) khi sử dụng bột lá sắn để thay thế ngô trong công thức thức ăn hỗn hợp với các mức là 0, 15, 30, 45 và 60% thì lượng DM ăn vào cao nhất là ở lô chứa 15% bột lá sắn (66,85 g/con/ngày) và có xu thế giảm dần ở những
lô có tỷ lệ bột lá sắn tăng dần (khẩu phần 30; 45; 60% bột lá sắn lượng ăn vào tương ứng là 56,76; 55,61; 44,24 g/con/ngày (P<0,05)) Tuy nhiên, kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Việt Chương (2003) và R Ramchun (2000)
Khả năng tăng trọng và chuyển hóa thức ăn ở thỏ thí nghiệm:
Với lượng ăn vào thực tế có khác nhau giữa các nghiệm thức, trong đó cao nhất
ở các lô KF0, KF22,5 và thấp hơn ở các lô còn lại Kết quả tăng trọng và chuyển hóa thức ăn của thỏ ở các lô TN được trình bày ở bảng 8
Kết quả ở bảng 8 cho thấy rằng, trọng lượng ban đầu (P ban đầu) của thỏ ở các lô
TN là tương đương nhau (P>0,05), biến động từ 1,55 đến 1,63 kg/ô (2 con) Qua thời gian nuôi 60 ngày, trọng lượng của thỏ kết thúc TN ở công thức KF22,5 (4,57 kg/ô) cao