1. Trang chủ
  2. » Tất cả

DI sản KHÔNG có NGƯỜI THỪA kế sẽ CHỊU sự điều CHỈNH của hệ THỐNG PHÁP LUẬT nơi có DI sản đó

10 30 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 326,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Nhận định về quan điểm Di sản không có người thừa kế sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nơi có di sản đó” được tác giả triển khai gồm ba nội dung chính bao gồm : (1) phân tích các quy định có liên quan đến thừa kế có yếu tố nước ngoài, từ đó học viên đưa ra định nghĩa cho khái niệm này; (2) Phân tích về di sản không có người thừa kế; (3) Đánh giá quan điểm kể trên theo góc độ các điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam và đưa ra lập luận cá nhân. Tiểu luận đi sâu phân tích khái niệm, đối chiếu và đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam từ đó đưa ra nhận định đối với quan điểm.

Trang 1

NHẬN ĐỊNH VỀ QUAN ĐIỂM: “DI SẢN KHÔNG CÓ NGƯỜI THỪA KẾ SẼ CHỊU SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NƠI CÓ DI SẢN ĐÓ”

VÀ ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

[Tên tác giả]

Tóm tắt

Tiểu luận: Nhận định về quan điểm "Di sản không có người thừa kế sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nơi có di sản đó” được tác giả triển khai gồm ba nội dung chính bao gồm : (1) phân tích các quy định có liên quan đến thừa kế có yếu tố nước ngoài, từ đó học viên đưa ra định nghĩa cho khái niệm này; (2) Phân tích về di sản không có người thừa kế; (3) Đánh giá quan điểm kể trên theo góc độ các điều ước quốc

tế, pháp luật Việt Nam và đưa ra lập luận cá nhân Tiểu luận đi sâu phân tích khái niệm, đối chiếu và đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam từ đó đưa ra nhận định đối với quan điểm

Từ khóa: Di sản không có người thừa kế, xung đột pháp luật, tư pháp quốc tế

NỘI DUNG TIỂU LUẬN

1 KHÁI NIỆM VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Lịch sử đã cho thấy rằng, thừa kế nói chung và quyền thừa kế theo pháp luật nói riêng của công dân Việt Nam có sự biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế – xã hội qua các thời kỳ Trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế, một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của

hệ thống pháp luật một quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Thừa kế tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản (của cải) của người chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục

Trang 2

tập quán của từng dân tộc Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển giá trị vật chất, giá trị tinh thần và truyền thống, tập quán mà hệ trước để lại Trong xã hội có giai cấp, quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan

hệ thừa kế nhằm đạt được những mục đích nhất định Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản Thừa kế được chia thành thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho người còn sống theo sự định đoạt của người đó khi còn sống Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản thừa kế của người đã chết cho người sống theo quy định của pháp luật nếu người chết không để lại di chúc hoặ di chúc không hợp pháp Thừa kế là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự

Theo quy định của BLDS 2015 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ thuộc trường hợp sau: (i) Trong các bên tham gia có ít nhất một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; (2) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân có quốc tịch Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; (3) Các bên tham gia đều công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài

Trong tư pháp quốc tế, khái niệm thừa kế cũng được hiểu với nghĩa tương tự quy định pháp luật Dân sự (vì đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế cũng là các quan hệ dân sự) tuy nhiên, điểm khác là quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc tế là quan hệ thừa

kế có yếu tố nước ngoài Trong khoa học tư pháp quốc tế, một quan hệ thừa kế có yếu

tố nước ngoài khi có một trong các dấu hiệu sau: (i) Chủ thể có yếu tố nước ngoài: Người

để lại thừa kế và người thừa kế mang quốc tịch khác nhau hoặc một bên mang quốc tịch của một nước này và bên kia là người quốc tịch (ii) Di sản thừa kế đang ở nước ngoài (iii) Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài: một công dân Việt Nam sống và chết ở nước ngoài, khi chết còn một số tài sản trong nước Quan hệ thừa kế giữa người thân (vợ, con) của người đó đối với tài sản trên phát sinh dựa trên cơ sở pháp lý là cái chết của công dân Việt Nam ở nước ngoài

Trang 3

Như vậy, thừa kế có yếu tố nước ngoài có thể định nghĩa như sau: Thừa kế có yếu

tố nước ngoài là quan hệ thừa kế mà người để lại thừa kế là cá nhân nước ngoài hoặc người nhận thừa kế là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; hoặc di sản thừa kế tồn tại ở nước ngoài; hoặc sự kiện chết xảy ra ở nước ngoài Chỉ cần một trong các điều

kiện trên được đáp ứng thì quan hệ thừa kể đó được coi là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Thừa kế là một chế định quan trọng được pháp luật cụ thể hóa trong bộ luật

và các văn bản quy phạm pháp luật khác Trong tư pháp quốc tế nó vẫn giữ nguyên vai trò của nó nhưng được nhìn nhận với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cùng cơ chế thị trường mở pháp luât luật nước ta cụ thể hóa vấn thừa theo pháp luật trong tư pháp quốc tế để phù hợp với thông lệ quốc tế, hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới Về quy định của pháp luật Việt Nam trong vấn đề này, mãi đến BLDS 2005 và BLDS 2015 mới có các điều luật ghi nhận về vấn đề thừa kế trong tư pháp quốc tế và một số quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan Nếu so sánh với pháp luật quốc tế thì pháp luật Việt Nam khá tương đồng, không có khác biệt

2 KHÁI NIỆM DI SẢN KHÔNG CÓ NGƯỜI THỪA KẾ

Vấn đề di sản không người thừa kế luôn được quan tâm giải quyết trong thực tiễn điều ước liên quan đến vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng như trong pháp luật liên quan của các nước khác nhau Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống Di sản bao gồm tài sản là bất động sản, động sản, hoa lợi; lợi tức thuộc quyền sở hữu, sự dụng của người chết, vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc

sở hữu của người để lại di sản Khái niệm di sản thừa kế chưa được văn bản pháp luật nào đưa ra cụ thể mà hầu hết chỉ được nêu ra với cách liệt kê di sản gồm những tài sản nào Khái niệm này đã được một số nhà khoa học đưa ra khi nghiên cứu pháp luật về

thừa kế trên cơ sở một số phương diện Xét trên phương diện đạo đức - xã hội: Di sản

thừa kế là của cải, vật chất (tài sản), là phương diện thực hiện bổn phận tiếp theo của người chết nhằm gây dựng và chăm lo cho tương lai đối với những người hưởng thừa

kế Xét trên phương diện kinh tế: Di sản thừa kế là của cải vật chất (tài sản) của người

chết để lại cho những người khác còn sống để dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng Xét trên phương diện khoa học luật dân sự: Di sản thừa kế là

Trang 4

toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại, là đối tượng của quan hệ dịch chuyển tài sản của người đó sang cho những người hưởng thừa kế, được nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào giấy tờ,tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó và được thực hiện trên cơ sở của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân & gia đình Luật Đất đai, Luật Nhà ở và một số văn bản pháp luật khác có liên quan Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì di sản là tài sản của người mất để lại khi họ qua đời Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với những người khác.Việc phân chia di sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ: di chúc của người để lại di sản, chia di sản theo pháp luật hoặc một số người thuộc đối tượng được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật Do đó, có thể khẳng định, việc nhận di sản thừa kế được thực hiện theo 02 hình thức: Theo di chúc và theo pháp luật

Để được hưởng di sản thì người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là

cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Trường hợp thừa kế mà không có người thừa kế hoặc có nhưng họ không nhận thừa kế theo di chúc và theo pháp luật Di sản trở thành không có người nhận thừa kế

Trang 5

3 XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI DI SẢN KHÔNG CÓ NGƯỜI THỪA KẾ THEO TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Di sản không có người thừa kế là không có người hưởng số di sản mà người đó để lại Ở một số nước như Nga, Hunggari, Tây Ban Nha, Italia… nhà nước hưởng một số

di sản thừa kế với tư cách là người thừa kế Ở một số nước khác như Anh, Mỹ, Pháp nhà nước hưởng số di sản như là tài sản vô chủ trên cơ sở thực thi quyền chiếm hữu các tài sản vô chủ đó Di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về nhà nước nơi có bất động sản đó, di sản không có người thừa kế là động sản thì thuộc về nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết Tương tự vậy, pháp luật Việt Nam áp dụng cho quan hệ thừa kế không có yếu tố nước ngoài quy định trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước

Thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng được xếp vào nhóm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quan hệ này đã xuất hiện từ lâu và được xem như là một hiện tượng tất yếu khách quan của giao lưu dân sự quốc tế và đồng thời các quốc gia cũng phải thừa nhận

về tình trạng có thể xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật giữa các nước trong việc điều chỉnh vấn đề này Nguyên tắc giải quyết tình trạng xung đột pháp luật trong quan hệ thừa kế theo pháp luật Việt Nam dựa trên hại hệ thuộc luật chính là Luật nơi có tài sản

và Luật quốc tích Cụ thể, Điều 680 và Điều 681 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: (i) Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế

có quốc tịch ngay trước khi chết (ii) Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó Như vậy, về cơ bản thì nhà nước Việt Nam đảm bảo quyền thừa kế và bình đẳng về quyền thừa kế mọi cá nhân (kể cả nước ngoài) đều có quyền thừa kế và để lại di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật, thậm chí còn quy định các các trường hợp dù di chúc được lập theo pháp luật nước ngoài những vẫn được công nhân tại Việt Nam

Trang 6

Đối với di sản thừa kế là động sản, tư pháp quốc tế Việt Nam áp dụng nguyên tắc Luật quốc tịch Điều này có nghĩa là luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài mà di sản để lại thừa kế là động sản là luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch trước khi chết Pháp luật Việt Nam sẽ áp dụng đối với các quan hệ thừa kế mà công dân Việt Nam là người để lại di sản thừa kế là động sản bất kể quan hệ này xảy ra

ở đâu và di sản đang hiện diện ở nước nào Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam sẽ không được áp dụng khi công dân nước ngoài để lại di sản là động sản hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam và quan hệ thừa kế xảy ra tại Việt Nam

Riêng đối với thừa kế theo luật mà di sản thừa kế là bất động sản, tư pháp quốc tế Việt Nam áp dụng nguyên tắc Luật nơi có vật Điều này có nghĩa là công dân Việt Nam

để lại di sản thừa kế là bất động sản thì pháp luật Việt Nam không có cơ hội áp dụng nếu bất động sản không hiện diện ở Việt Nam và ngược lại, pháp luật Việt Nam sẽ được

áp dụng khi công dân nước ngoài để lại di sản thừa kế là bất động sản hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam

Pháp luật các nước quy định khá phức tạp và khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, di sản không người thừa kế có yếu tố nước ngoài được quy định

là sẽ thuộc về nhà nước có quan hệ gắn bó nhất với tài sản đó Nhà nước đó có thể là nước mà người để lại di sản có quốc tịch vào thời điểm chết hoặc nhà nước là nơi có di sản thừa kế Nếu xét rộng ra, quan điểm này ủng hộ trường phái “Nhà nước là người thừa kế di sản của công dân mình” được cụ thể tại Khoản 5 Điều 53 Luật doanh nghiệp

2020 và Khoản 3 Điều 78 Luật doanh nghiệp 2020 Các quy định này áp dụng cho trường hợp thừa kế có yếu tố nước ngoài

Thông qua các điều luật nêu trên có thể thấy rất rõ pháp luật Việt Nam có quan điểm nhà nước là người thừa kế di sản của công dân mình Điều này tạo thuận lợi cho Việt Nam khi giải quyết tranh chấp với các nước có cùng quan điểm như Nga, Ba Lan, Tây Ban Nha…Nhưng lại đặt ra những khó khăn rất lớn khi có những tranh chấp với các nước có những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm như Pháp, Áo, Hoa Kỳ…

Trang 7

Việc áp dụng dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam còn khá hạn chế Dù pháp luật đã quy định về vấn đề này nhưng do tính chất phức tạp của nó cũng như sự hạn chế về chuyên môn của các thẩm phán Mặc dù vậy, thực tiễn cho thấy rằng tòa án Việt Nam chưa bao giờ áp dụng pháp luật quốc gia khác để giải quyết các

vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, mà cụ thể là xử lý di sản không có người thừa kế

3 NHẬN ĐỊNH VỀ QUAN ĐIỂM: “DI SẢN KHÔNG CÓ NGƯỜI THỪA KẾ

SẼ CHỊU SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NƠI CÓ DI SẢN ĐÓ”

Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, nhiều quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi của quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Đây là một trong những chế định quan trọng của tư pháp quốc tế và cũng là một quan hệ phức tạp, gắn bó với nhiều hệ thống pháp luật Chính vì vậy, việc xác định luật áp dụng là một trong những vấn đề quan trọng trong tư pháp quốc tế Việt Nam và các nước. Khi phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì chắc chắn sẽ xảy ra xung đột pháp luật Riêng đối với quan hệ thừa kế mà cụ thể là thừa kế đối với di sản không có người thừa kế có yếu tố nước ngoài thì sẽ xảy ra xung đột pháp luật

Tương tự khái niệm chung về xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế, xung đột pháp luật về thừa kế trong tư pháp quốc tế là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ thừa kế mà nếu áp dụng một trong các hệ thống pháp luật thể sẽ xảy ra các kết quả không giống nhau Về nguyên tắc tất cả các quan hệ trong lĩnh vực thừa kế phát sinh trong phạm vi quốc gia nào thì do luật pháp của quốc gia đó điều chỉnh Nhưng khi các quan hệ về thừa kế vượt qua khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật trong nước, hay nói cách khác, quan hệ thừa

kế có yếu tố nước ngoài, thì chúng thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế Hiện tượng xung đột pháp luật về thừa kế nói trên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: Trên thực tế, mỗi nước có điều kiện cơ sở hạ tầng khác nhau, bởi vậy pháp luật của các nước được xây dựng trên các nền tảng đó cũng có sự khác nhau Hoặc các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế – xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử thậm chí là sự khác nhau về đặc điểm thể chất, tâm lý của công dân cũng dẫn đến sự khác nhau trong các quy định pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề

Trang 8

Câu hỏi đặt ra là hệ thống pháp luật của quốc gia nào sẽ được áp dụng để giải quyết, là nơi có di sản hay nơi người để lại thừa kế mang quốc tịch lúc chết Có quan

điểm cho rằng: “Di sản không có người thừa kế sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nơi có di sản” Học viên cho rằng quan điểm trên là chưa đúng, vì có những trường

hợp pháp luật nơi người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm chết điều chỉnh Việc xác định pháp luật nào được áp dụng để điều chỉnh sẽ phụ thuộc vào việc có điều ước quốc tế quy định không và pháp luật quốc gia quy định như thế nào Để làm rõ quan điểm của mình, học viên đưa ra lập luận như sau:

Đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì căn cứ Điều 664 BLDS 2015, pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam Như vậy, đầu tiên cần xem có điều ước quốc tế nào điều chỉnh về quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng hay không Trường hợp 1, tồn tại Điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Ví dụ, Việt Nam và Nga đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp có hiệu lực kể từ ngày 27/07/2012 Do đó, quan hệ thừa kế đối với di sản của công dân Việt Nam tại Nga nhưng không có người nhận thừa kế sẽ được xác định theo Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nga Điều 39 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nga quy định pháp luật sẽ được áp dụng được xác định căn cứ theo (1) quan hệ thừa kế động sản do pháp luật của Bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm chết điều chỉnh, (2) Quan hệ pháp luật về thừa kế bất động sản do pháp luật của Bên ký kết nơi có bất động sản đó điều chỉnh (3) Việc phân biệt di sản là động sản hay bất động sản được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi có di sản đó

Lúc này, việc xác định di sản đó là động sản hay bất động sản thì sẽ theo pháp luật nơi có di sản tức là theo pháp luật Nga Nếu theo pháp luật Nga mà di sản đó là bất động sản thì quan hệ thừa kế đối với di sản này sẽ theo quy định của pháp luật Nga Ngược lại, nếu di sản đó là động sản thì quan hệ thừa kế đối với di sản này sẽ căn cứ vào pháp luật nơi người để lại thừa kế là công dân tại thời điểm chết tức là pháp luật thừa kế của

Trang 9

Việt Nam sẽ được áp dụng Mà theo Điều 622 BLDS thì trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước Như vậy, theo quy định pháp luật Việt Nam thì việc tài sản của người mất để lại, sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ về tài sản mà không

có ai nhận thừa kế, thì bất kể đó là động sản hay bất động sản, đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước

Việt Nam đã kí kết với nhiều nước hiệp định tương trợ tư pháp về Dân sự, Hình

sự, Hôn nhân - Gia đình với nhiều nước trên thế giới như: Đức, Séc, Cu ba , Hungari,

Ba Lan, thì theo quy định của các hiệp định này (Điều 45 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Đức, Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Nga; Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Séc, Điều 34 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam

và Cuba; Điều 43 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Bungari và Điều 45 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Hungari quyền thừa kế được xác định như sau), đều

có nội dung giống nhau rằng: (i) Quyền thừa kế động sản được xác định theo pháp luật của nước ký kết mà người để lại tài sản thừa kế là công dân khi chết.(ii) Quyền thừa kế bất động sản được xác định theo pháp luật của nước ký kết, nơi có bất động sản (iii) Việc xác định tài sản thừa kế là động sản hay bất động sản được căn cứ theo pháp luật của nước ký kết, nơi có tài sản đó

Cho nên, với các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết thì trường hợp di sản là động sản thì di sản không có người thừa kế sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nơi người để lại thừa kế là công dân tại thời điểm chết Do đó chứng minh cho nhận định trên là không đúng trong trường hợp ví dụ kể trên

Trường hợp 2, không tồn tại Điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu

tố nước ngoài, thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ căn cứ vào các quy định trong nước của quốc gia mình để giải quyết vụ việc Cụ thể, các quy phạm thực chất thông thường sẽ được rà soát, quy phạm thực chất của tư pháp quốc tế tức là các quy phạm quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ có yếu tố nước ngoài

Trang 10

và do nhà nước ban hành, quy phạm này khác so với quy phạm của các ngành luật trọng nước Lúc này, theo quy định của Điều 680 BLDS thì nếu di sản là động sản thì sẽ theo pháp pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết, còn nếu di sản là bất động sản thì quyền thừa kế sẽ xác định theo định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó Nếu di sản của công dân Việt Nam đối với động sản ở Nga và di sản này không có người thừa kế thì theo Điều 680 BLDS 2015 thì pháp luật nơi công dân có quốc tịch, tức pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng

Cho nên, trường hợp di sản là động sản thì di sản không có người thừa kế sẽ chịu

sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nơi người để lại thừa kế là công dân tại thời điểm chết Do đó chứng minh cho nhận định trên là không đúng trong trường hợp ví dụ tại trường hợp 2 này

Tóm lại, quan điểm cho rằng: “Di sản không có người thừa kế sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nơi có di sản” không đúng trong mọi trường hợp Cần căn cứ

quy định của điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia nơi cơ quan tài phán giải quyết để xác định luật điều chỉnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 Bộ luật Dân sự 2015;

 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Đức;

 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Nga;

 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Séc;

 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Cuba;

 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Bungari

 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Hungari

Ngày đăng: 24/11/2022, 16:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w