PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu và sự gia tăng của hoạt động giao thương quốc tế, thì các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra ngày càng ph.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu và sự gia tăng của hoạt động giao thương quốc tế, thì các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra ngày càng phổ biến và khó tránh khỏi Khi hợp đồng được ký kết có hiệu lực pháp luật thì quyền và nghĩa vụ của các bên thỏa thuận trong hợp đồng luôn được thừa nhận và bảo vệ, đồng nghĩa với đó là việc áp dụng chế tài đối với vi phạm hợp đồng, đặc biệt là các vi phạm
cơ bản Lúc này, cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng quy định pháp luật, thỏa thuận của các bên để giải quyết tranh chấp Và ở phạm vi pháp luật quốc tế thì Công ước Viên về “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc” (CISG 1980) được là văn bản pháp lý quốc tế duy nhất có định nghĩa về vi phạm cơ bản hợp đồng CISG 1980 được ký kết vào năm 1980, có hiệu lực từ năm 1988 được xem là nguồn luật thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập vào ngày 18/12/2015 và chính thức trở thành viên thứ
84 của Công ước này Với việc gia nhập này, các thương nhân Việt Nam khi đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ tránh được một vấn đề luôn gây tranh cãi và khó khăn đó là vấn đề lựa chọn luật áp dụng Điều đó càng cần thiết phải đi sâu nghiên cứu để làm rõ quy định về vi phạm cơ bản theo CISG 1980, từ đó vận dụng có hiệu quả pháp luật trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Vì vậy học viên chọn đề tài “Vi phạm cơ bản theo CISG 1980 và phân tích một số vụ việc liên quan để rút ra kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Những phân tích trong tiểu luận mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc giao kết hợp đồng và hạn chế rủi ro, tranh chấp trong việc thực hiện hợp đồng, giúp Thương nhân Việt Nam hiểu và vận dụng tốt hơn quy định của CISG 1980 về vi phạm
cơ bản trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Bên cạnh đó,
Trang 2các khuyến nghị được đề xuất sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật thương mại
của Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, pháp luật và thực trạng áp dụng CISG 1980 về
vi phạm cơ bản Từ đó đưa ra các đề xuất và khuyến nghị cho doanh nghiệp trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong tiểu luận này là cơ sở lý luận về vi phạm cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo CISG 1980, so sánh với pháp luật Việt Nam
và phân tích một số vụ việc thực tiễn
Phạm vi nghiên cứu ở đây là lý luận và thực tiễn về quy định vi phạm cơ bản theo CISG 1980 và pháp luật Việt Nam hiện hành
5 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu làm 2 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về vi phạm cơ bản theo CISG 1980 và so sánh với pháp luật Việt nam
Chương 2: Một số vụ việc liên quan về vi phạm cơ bản theo CISG và kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM CƠ BẢN THEO CISG 1980 VÀ
SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.1 Khái niệm vi phạm cơ bản
1.1.1 Khái niệm vi phạm cơ bản theo CISG 1980
Vi phạm cơ bản hợp đồng được quy định tại Điều 25 CISG 1980, theo đó “một
sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu
họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự” Theo như cách quy định tại Điều 25 cho thấy
Công ước Viên tiếp cận khái niệm vi phạm cơ bản dựa trên tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây ra trên cơ sở so sánh, đối chiếu với những gì bên bị
vi phạm có quyền kỳ vọng từ hợp đồng
Vi phạm cơ bản hợp đồng đương nhiên là một dạng vi phạm hợp đồng nhưng không phải vi phạm hợp đồng nào cũng được xem là vi phạm cơ bản hợp đồng Vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần cần phải thỏa mãn hai yếu tố: (i) vi phạm hợp đồng; (ii) tính cơ bản của vi phạm hợp đồng Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa vi phạm cơ bản hợp đồng với các loại vi phạm hợp đồng khác là tính cơ bản của hành vi vi phạm; (iii) khả năng tiên liệu được hậu quả
Thứ nhất, xét yếu tố vi phạm hợp đồng
Tuy không đưa ra định nghĩa, CISG 1980 tiếp cận khái niệm “vi phạm hợp đồng” theo nghĩa rộng nhất, bao gồm tất cả các hành vi không tuân thủ quy định của hợp đồng như không thực hiện nghĩa vụ, chậm thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa
vụ không đầy đủ hoặc không phù hợp mà không phân biệt đó là nghĩa vụ chính hay phụ, kể cả những trường hợp được miễn trách nhiệm Trong một số trường hợp, Công ước Viên sử dụng thuật ngữ “không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng” theo nghĩa tương đương với thuật ngữ “vi phạm hợp đồng
Trang 4Thứ hai, vi phạm đó phải có tính cơ bản Tính cơ bản thể hiện ở tổn hạn mà hành vi vi phạm gây ra Vi phạm hợp đồng thường làm phát sinh tổn hại nhưng tổn hại không luôn luôn tồn tại khi có vi phạm hợp đồng Không hiếm trường hợp trong thực tế có việc vi phạm nhưng không gây ra tổn hại Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 25 CISG 1980, tổn hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra là yếu tố bắt buộc, tiên quyết cấu thành tính cơ bản của vi phạm hợp đồng Khi tiến đến giao kết hợp đồng, các bên đều hướng đến lợi ích Do đó, tính chất cơ bản của vi phạm hợp đồng
sẽ thể hiện ở chỗ làm cho các bên không đạt được lợi ích (đáng kể hoặc toàn bộ), không thực hiện được quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã dự liệu khi xác lập, thực hiện hợp đồng Để xác định vi phạm hợp đồng có phải là cơ bản hay không phụ thuộc vào việc xác định mức độ ảnh hưởng của hành vi vi phạm đối với lợi ích mong muốn
từ hợp đồng của bên bị vi phạm hay tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra và chủ thể xác định vi phạm cơ bản sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Thứ ba là khả năng tiên liệu hậu quả của bên vi phạm
Khả năng tiên liệu được hậu quả do hành vi vi phạm gây ra (tổn hại đến mức tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng từ hợp đồng) Khả năng tiên liệu được tổn hại đến mức tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng từ hợp đồng (hậu quả của hành vi vi phạm) là cơ sở, là điều kiện đủ để xem xét tính cơ bản của vi phạm hợp đồng về phía bên vi phạm Có thể nói, vi phạm hợp đồng chỉ có thể bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng khi thỏa mãn điều kiện về khả năng tiên liệu hậu quả của hành vi vi phạm – gây tổn hại đến mức tước đi đáng kể những gì bên
bị vi phạm có quyền kỳ vọng từ hợp đồng Xuất phát từ từ ngữ của Điều 25 Công ước Viên, vi phạm hợp đồng có phải là cơ bản hay không không chỉ tùy thuộc vào hậu quả của hành vi vi phạm đó mà còn tùy thuộc khả năng tiên liệu được những hậu quả
đó đối với bên kia
1.1.2 So sánh khái niệm vi phạm cơ bản theo CISG 1980 với pháp luật Việt Nam
Trang 5Pháp luật Việt Nam có quy định về “vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp đồng và coi đây là căn cứ có thể áp dụng các chế tài hủy hợp đồng hay đình chỉ thực hiện hợp
đồng Khoản 13, điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” Đối chiếu lại với quy định của CISG
thì theo quy định của CISG, xét về mặt lý thuyết, có thể thấy vi phạm cơ bản hợp đồng được xác định dựa trên các yếu tố là: phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà phải dẫn đến hậu quả là một bên mất đi điều mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng và thứ ba là bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn thấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó Còn dựa theo Luật Thương mại 2005 thì vi phạm cơ bản hợp đồng chỉ cần có hai yếu tố là phải có sự vi phạm hợp đồng và sự vi phạm của một bên đó gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng Định nghĩa về vi phạm cơ bản này chú trọng tới tính nghiêm trọng của hành vi vi phạm bằng việc xác định mối tương quan giữa thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra và sự tồn mất mục đích của việc giao kết hợp đồng của bên bị vi phạm1 Điều 25 của CISG và điều 3 khoản 13 Luật Thương mại 2005 đưa ra những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều thống nhất ở một điểm: vi phạm cơ bản là vi phạm gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho bên bị vi phạm, làm cho bên này không đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng Tương tự Luật Thương mại, CISG cũng không đưa ra sự giải thích cụ thể để xác định hành vi vi phạm như thế nào bị coi là vi phạm cơ bản
Tuy nhiên, điểm khác biệt trong định nghĩa về vi phạm cơ bản hợp đồng tại Điều 25 CISG và khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại là: CISG cho phép loại trừ tính
cơ bản của vi phạm hợp đồng, từ đó ngăn cản việc hủy hợp đồng của bên bị vi phạm nếu bên vi phạm chứng minh được “bên vi phạm không tiên liệu được và một người
có lý trí cũng không tiên liệu được hậu quả đó nếu họ ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự”, tức là một sự vi phạm hợp đồng, dù gây tổn hại đến mức làm cho bên kia bị tước
1 Võ Sỹ Mạnh – Vi phạm hợp đồng theo Công ước Viên 1980 Luận án tiến sỹ 2015 Trang 41
Trang 6đi những gì anh ta có quyền kỳ vọng từ hợp đồng, sẽ không bị coi là vi phạm cơ bản nếu bên vi phạm chứng minh được điều nói trên Thay vì quy định loại trừ vi phạm
cơ bản hợp đồng, Luật thương mại chỉ quy định các trường hợp miễn trách để loại trừ trách nhiệm khi có vi phạm hợp đồng, dù đó là vi phạm cơ bản hay không cơ bản như: xảy ra sự kiện bất khả kháng; hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng2
Cá nhân người viết cho rằng, khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng nên được định nghĩa dựa vào hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây ra cho bên kia hay vi phạm cơ bản hợp đồng là vi phạm gây ra hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đáng kể tời mục đích, lợi ích kinh tế là những gì mà các bên kỳ vọng khi xác lập và thực hiện hợp đồng, bởi các lẽ sau: Khi giao kết hợp đồng, các bên trong hợp đồng đều hướng tới một mục đích nhất định, đối với hợp đồng thương mại thì đó là lợi ích kinh tế phát sinh từ hợp đồng và mục đích đó chỉ có thể thực hiện được khi có sự thống nhất giữa những gì các bên đã thỏa thuận, cam kết và những gì đã diễn ra trong thực tế Nếu hành vi vi phạm của một bên dẫn đến sự khác biệt giữa những gì các bên
đã thỏa thuận, cam kết thực hiện và những gì đã diễn ra trong thực tế thì có thể hiểu
là hành vi vi phạm của bên vi phạm đã gây ra hậu quả có sự ảnh hưởng nghiêm trọng tới bên bị vi phạm Và chỉ khi có hành vi vi phạm đó, bên bị vi phạm có thể từ bỏ hợp đồng bởi xét thấy việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không còn ý nghĩa
1.2 Chế tài áp dụng đối với vi phạm cơ bản
1.2.1 Chế tài áp dụng đối với vi phạm cơ bản theo CISG 1980
CISG 1980 không có một chương riêng về vi phạm hợp đồng và chế tài do hành
vi vi phạm hợp đồng nói chung và vi phạm cơ bản nói riêng Vấn đề này được quy định rải rác ở các phần khác nhau, cụ thể là từ Điều 45 đến Điều 52 của Công ước liệt
2 Điều 294 Luật Thương mại 2005
Trang 7kê các chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hợp đồng của bên bán và từ Điều 61 đến Điều 65 của Công ước liệt kê các chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hợp đồng của bên mua và từ Điều 71 đến Điều 84 của Công ước về các điều khoản chung cho nghĩa
vụ của bên bán, bên mua Theo đó, những chế tài mà bên mua có thể áp dụng khi bên bán vi phạm hợp đồng bao gồm (i) buộc bên bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng, quyền sở hữu hàng hóa và các chứng từ liên quan đến hàng, (ii) hủy hợp đồng, (iii) giảm giá hàng, (iv) yêu cầu bồi thường thiệt hại; còn những chế tài mà bên bán có thể
áp dụng khi bên mua vi phạm hợp đồng bao gồm (i) buộc bên mua phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền, nhận hàng hay các nghĩa vụ khác của bên mua, (ii) hủy hợp đồng, (iii) yêu cầu bồi thường thiệt hại
Riêng đối với vi phạm cơ bản, khác với các vi phạm hợp đồng không cơ bản thì
vi phạm cơ bản hợp đồng được xem như căn cứ hợp pháp, ngoại lệ cho phép các bên được đơn phương rút khỏi hợp đồng Cơ chế điều chỉnh này đã được quy định tại Điều 49 và Điều 64 CISG, đó là: chỉ khi một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng thì bên kia có quyền hủy hợp đồng Trong một
số tình huống đặc biệt thì chế tài hủy hợp đồng cũng được áp dụng khi xảy ra vi phạm
cơ bản: người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc không giao hàng đầy đủ hoặc phù hợp với hợp đồng cầu thành vi phạm cơ bản hợp đồng3, hủy hợp đồng đối với vi phạm trước thời hạn4 và giao hàng từng phần5 Bên cạnh đó, vi phạm cơ bản hợp đồng còn là điều kiện tiên quyết đối với quyền yêu cầu giao hàng thay thế nếu hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng6 Vì vậy, vi phạm cơ bản hợp đồng
đã tạo ra “ranh giới” giữa các chế tài “thông thường” do vi phạm hợp đồng như bồi thường thiệt hại, giảm giá hàng hóa với chế tài “nặng nề” như hủy hợp đồng7 Với các vi phạm không cơ bản, bên bị vi phạm có thể áp dụng các chế tài bồi thường thiệt hại, buộc thực hiện đúng hợp đồng, giảm giá hàng bán….nhằm mục đích
3 Khoản 2 Điều 51 CISG 1980
4 Điều 72 CISG 1980
5 Điều 73 CISG 1980
6 Khoản 2 Điều 46 CISG 1980
7 Võ Sỹ Mạnh – Vi phạm hợp đồng theo Công ước Viên 1980 Luận án tiến sỹ 2015 Trang 51
Trang 8cân bằng lợi ích so với trước khi có hành vi vi phạm không cơ bản Tuy nhiên, với vi phạm cơ bản hợp đồng, bên vi phạm có thể hủy hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có) Hủy hợp đồng được xem là chế tài nặng nhất trong các chế tài trong mua bán hàng hóa quốc tế mà người bán và người mua có thể sử dụng trong trường hợp
có vi phạm hợp đồng
1.2.2 So sánh chế tài áp dụng đối với vi phạm cơ bản theo CISG 1980 với pháp luật Việt Nam
Theo Luật Thương mại 2005 thì vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng các chế tài trong thương mại, như chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc chế tài hủy bỏ hợp đồng khi các bên trong hợp đồng không có thỏa thuận về điều kiện áp dụng ba chế tài này8 Như vậy có thể thấy, cũng cùng căn cứ trên hành vi vi phạm cơ bản hợp đồng khi các bên không có thỏa thuận cụ thể, khác với Công ước Viên, Luật Thương mại còn quy định thêm chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng Luật Thương mại tuy quy định hệ quả pháp lý do vi phạm cơ bản hợp đồng rộng hơn Công ước Viên ở chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng nhưng đều có điểm chung với Công ước Viên là căn cứ áp dụng các chế tài nói trên đều dựa vào vi phạm cơ bản hợp đồng (vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng) Ngoài
ra, CISG lại khác Luật thương mại khi quy định bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên
vi phạm giao hàng thay thế9 như một chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Đồng thời, quy định về căn cứ hủy bỏ hợp đồng hiện nay trong Luật Thương mại chỉ có thể
áp dụng để hủy bỏ hợp đồng khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng – vi phạm thực
tế đã tồn tại, đã xảy ra nhưng không áp dụng đối với vi phạm trước khi đến hạn thực hiện hợp đồng hay vi phạm tiên liệu trước
8 Điều 293, Điều 308, Điều 310 và Điều 312 Luật Thương mại 2005
9 Điều 297 Luật Thương mại 2005
Trang 9CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VỤ VIỆC VỀ VI PHẠM CƠ BẢN THEO CISG
VÀ KINH NGHIỆP CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 Một số vụ việc về vi phạm cơ bản theo CISG
Công ước Viên không liệt kê cụ thể các yếu tố cấu thành tính cơ bản của vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà thực tiễn xác định các yếu tố này của tòa án, trọng tài của một số quốc gia thành viên Công ước Điều này dễ dẫn tới sự thiếu thống nhất, đa dạng và đôi khi là “cảm tính” và “tùy tiện” trong việc giải thích nội hàm của “tổn hại” là yếu tố tiên quyết xác định tính cơ bản của vi phạm hợp đồng theo Công ước Viên
Đối với việc xác định như thế nào là tổn hại đáng kể để coi đó là vi phạm cơ bản đang được Tòa án và Trọng tài vận dụng khác nhau và cảm tính Trong vụ Delchi
v Rotorex10, Tòa phúc thẩm Liên bang cho rằng tỷ lệ 93% hàng hóa có chất lượng không phù hợp quy định hợp đồng trong mối tương quan với tổng giá trị hợp đồng là tổn hại rất đáng kể và vi phạm hợp đồng như vậy được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng Nhưng trong một vụ việc khác như vụ Frozen Meat11 thì tỷ lệ hàng không phù hợp quy định hợp đồng ở mức thấp (khoảng 25%) thì Tòa án tối cao Thụy Sĩ lại xem như chưa đủ “đáng kể” Do các bên không có thỏa thuận cách xác định tổn hại đáng
kể nên việc quyết định xem đó có phải vi phạm cơ bản hay không sẽ tùy thuộc vào nhận định cảm tính, tùy nghi của Tòa án và/hoặc Trọng tài
Đối với việc xác định có hành vi vi phạm hay không, nếu trong hợp đồng không quy định thì rất khó và có thể phụ thuộc vào đánh giá của Tòa án và/hoặc Trọng tài Trong vụ “Shoes”12 rõ ràng hai bên đã không quy định đây là một giao dịch rất quan trọng về mặt thời gian Đối tượng của hợp đồng không phải là hàng thời vụ và việc giao hàng không đúng thời gian quy định cũng sẽ không tước đi của người mua các
10 http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/951206u1.html
11 http://cisgw3.law.pace.edu/cases/981028s1.html
12
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/970424g1.html
Trang 10lợi ích mà người mua mong đợi từ hợp đồng Điều này có thể thấy rõ ràng từ thực tế rằng người mua đã chấp nhận một phần hàng giao theo hợp đồng thậm chí 4 tháng sau thời điểm giao hàng quy định ban đầu Hay trong vụ vụ “Mobile car phones”: Tranh chấp hợp đồng mua bán điện thoại ô tô giữa người bán Đức và người mua Israel Trong tranh chấp này, về việc người bán không giao hàng đúng thời gian quy định, Tòa án tỉnh Düsseldorf (Đức) đã phán quyết rằng: Vi phạm trong việc giao hàng không đúng thời gian hợp đồng quy định được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng theo tinh thần của Điều 25 Công ước Viên nếu hai bên đã quy định trong hợp đồng rằng thời gian giao hàng là một thời điểm cố định và nếu hai bên đều nhận thức rõ ràng rằng việc giao hàng cần phải được thực hiện ở thời điểm cụ thể đó Tòa án cũng nhấn mạnh rằng, một vi phạm cơ bản hợp đồng thường không chỉ đơn thuần được xác định căn cứ vào hành động giao hàng không đúng thời điểm quy định mà hơn thế nữa, việc tuân thủ chính xác thời hạn giao hàng phải thực sự cần thiết đối với người mua, hay
cụ thể hơn, người mua thà rằng không nhận được hàng còn hơn là nhận được hàng giao không đúng thời gian (giao chậm) và người bán phải ý thức được việc này từ thời điểm giao kết hợp đồng Do đó, rất cần thiết phải quy định trong hợp đồng về thời gian giao hàng nói chung, và các quyền nghĩa vụ của các bên nói chung
Đối với việc hủy hợp đồng khi có vi phạm cơ bản, có thể nghiên cứu vụ việc giữa người mua - bên nước Pháp, đã đặt mua từ người bán - nước Tây Ban Nha13m hợp đồng ban đầu quy định việc nhận hàng vào tháng 9 Việc giao hàng vào cuối tháng 8 là đề xuất sửa đổi hợp đồng của người bán và được người mua chấp nhận Trong hợp đồng ban đầu, hợp đồng được sửa đổi và khi người mua chậm nhận hàng, người bán chưa từng đề cập tới việc nước cam ép không bền và cần thiết phải cô đặc lại nếu để đến sau tháng 8 Người mua không thể hiểu rằng, việc chậm nhận hàng vài ngày bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng theo Điều 25 CISG Tòa án cũng thấy rằng, đơn hàng thay thế của người mua cho tới tháng 12/1996 có đối tượng là nước cam ép nguyên chất của mùa năm 1996 cho thấy, việc cô đặc nước cam ép ngay khi người
13
http://www.cisgvn.org/an-l%E1%BB%87-cisg/vi-ph%E1%BA%A1m-h%E1%BB%A3p-d%E1%BB%93ng-va-b%E1%BB%93i-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-thi%E1%BB%87t-h%E1%BA%A1i/