BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THANH BÍCH TRÂM MỐI LIÊN QUAN GIỮA THÓI QUEN DINH DƯỠNG VỚI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ CỦA PHỤ NỮ MANG THAI TỪ 24 28 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN TỪ D[.]
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH BÍCH TRÂM
MỐI LIÊN QUAN GIỮA THÓI QUEN DINH DƯỠNG VỚI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ CỦA PHỤ NỮ
MANG THAI TỪ 24 - 28 TUẦN TẠI
BỆNH VIỆN TỪ DŨ
Ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Mã ngành: 8540101
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS.BS Nguyễn Văn Ân
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày tháng năm
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: NGUYỄN THANH BÍCH TRÂM MSHV: 19000101
Ngày, tháng, năm sinh: 25/12/1983 Nơi sinh: TP.HCM
Ngành: Công nghệ thực phẩm Mã ngành: 854010
I TÊN ĐỀ TÀI:
“Mối liên quan giữa thói quen dinh dưỡng với đái tháo đường thai kỳ của phụ nữ mang thai từ 24-28 tuần tại bệnh viện Từ Dũ”
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Thu thập các thông tin, tài liệu tổng quan, các số liệu của PNMT từ 24-28 tuần khám tại BV Từ Dũ có liên quan đến ĐTĐTK Từ đó xác định tình hình dân số chung; tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai (BMI) và mức tăng cân thai kỳ; mô tả thói quen
và tần suất tiêu thụ thực phẩm, các nhóm thực phẩm, nhận thức về sức khỏe và dinh dưỡng Tìm mối liên quan giữa ĐTĐTK với tình trạng dinh dưỡng trước mang thai
và mức tăng cân thai kỳ; thói quen dinh dưỡng; nhận thức về sức khỏe và dinh dưỡng của thai phụ có ĐTĐTK
Xác định được tỷ lệ ĐTĐTK và mối liên quan giữa ĐTĐTK với thói quen dinh dưỡng
và nhận thức của thai phụ về sức khỏe, dinh dưỡng với ĐTĐTK ở PNMT 24-28 tuần khám thai ngoại trú tại BV Từ Dũ
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 1345/QĐ-ĐHCN kí ngày
20/10/2021 về việc giao đề tài và cử người hướng dẫn luận văn thạc sĩ của trường Đại học Công Nghiệp
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 18/5/2022
Trang 4Người hướng dẫn 1: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Người hướng dẫn 2: PGS.TS.BS Nguyễn Văn Ân
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 20 …
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, tôi cũng đã hoàn thành nội dung của luận văn tốt nghiệp Việc hoàn thành luận văn không chỉ là sự nỗ lực của bản thân tôi mà còn có
sự giúp đỡ, hỗ trợ tích cực của nhiều thầy cô, anh chị và các bạn
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn Ban Giám hiệu, Viện Đào tạo quốc tế
và Sau đại học, Quý thầy cô Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm - Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi suốt trong thời gian học tập vừa qua Đặc biệt là đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS
Nguyễn Thị Minh Nguyệt và PGS.TS.BS Nguyễn Văn Ân đã tận tình hướng dẫn
và truyền đạt những kinh nghiệm, kiến thức về dinh dưỡng quý báu trong quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn Thầy cô đã dành cho tôi rất nhiều thời gian và tâm sức để đóng góp ý kiến, các quan điểm trong quá trình nghiên cứu, giúp luận văn của tôi được hoàn thiện hơn về nội dung và hình thức Thầy cô cũng luôn quan tâm, động viên, nhắc nhở kịp thời để tôi có thể hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ trong Hội đồng thông qua đề cương và Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để luận văn của tôi đạt mục tiêu đề ra
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Dinh dưỡng và các khoa phòng Bệnh viện Từ Dũ đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên
cứu
Đồng thời tôi cũng cảm ơn gia đình, đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài “Mối liên quan giữa thói quen thói quen dinh dưỡng với đái tháo đường thai
kỳ ở phụ nữ mang thai từ 24-28 tuần tại bệnh viện Từ Dũ” có mục tiêu xác định tỷ lệ ĐTĐTK và mối liên quan giữa ĐTĐTK với thói quen dinh dưỡng và nhận thức của thai phụ về sức khỏe - dinh dưỡng Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang mô
tả trên 151 thai phụ từ 24-28 tuần khám thai tại bệnh viện Từ Dũ Nghiên cứu được tiến hành phỏng vấn bộ câu hỏi soạn sẵn và bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm FFQ Kết quả: cung cấp tỷ lệ ĐTĐTK là 23,2%, tìm được mối liên quan ĐTĐTK với: BMI thừa cân béo phì trước khi mang thai (p=0,035); thói quen lọc bỏ mỡ, da (p=0.004); chế độ ăn trong đó thức ăn lên men/ muối (p=0,05); nhận thức đúng về quan niệm dùng trái cây ngọt (p=0.004) Cải thiện đường huyết sau ăn 2 giờ trước và sau can thiệp dinh dưỡng (p=0,002) ở các loại thực phẩm sau (p< 0,05): thức ăn chiên rán, thức ăn lên men/ muối, nhóm đồ uống (nước mía, nước cam), nhóm rau củ, nhóm
đồ ngọt, nhóm ngũ cốc, nhóm thịt đỏ và nhóm sữa
Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ thừa cân, béo phì trước mang thai; không có thói quen lọc bỏ mỡ, da; sử dụng thức ăn lên men/ muối; nhận thức chưa đúng về quan niệm dùng trái cây ngọt có tỷ lệ ĐTĐTK cao hơn ở nhóm không có yếu tố này PNMT mắc ĐTĐTK sử dụng nhiều thức ăn chiên rán, lên men/ muối, nước mía, nước cam, nhóm đồ ngọt, nhóm ngũ cốc, nhóm thịt đỏ, nhóm sữa và ít sử dụng nhóm rau củ hơn Hiệu quả của can thiệp dinh dưỡng giúp cải thiện đường huyết thai phụ mắc ĐTĐTK
Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ, phụ nữ mang thai, tăng cân thai kỳ, chế độ dinh
dưỡng, FFQ
Trang 7ABSTRACT
The study “The relationship between nutritional habits and gestational diabetes of
24-28 weeks-pregnant-women at Tu Du Hospital” aimed to determine the prevalence of gestational diabetes, its relationship with nutrition habits, and pregnant women’s perception of health-nutrition A cross-sectional study method was conducted Among 151 pregnant women with 24-28 weeks of gestation, attended the outpatient department of Tu Du hospital A designed food frequency questionnaire (FFQ) has been used Result: Gestational diabetes proportion was 23.2% There was a relationship between gestational diabetes and BMI before pregnancy (p= 0.035), eating habits that remove fat and animal skin (p=0.004), diet with fermented food (p=0.05), correct knowledge about using sweet fruits (p=0.046) Two-hour postprandial blood glucose was improved after nutritional intervention (p=0.002) with the following types of food (p<0.05): fried food, fermented food, beverages (sugarcane juice, orange juice), fruits and veggies, sugary food, cereals, red meats, and dairy products
The result showed that women who were overweight and obese before pregnancy; didn’t have the habit of removing fat and animal skin; consumed high quantities of fried food; had wrong awareness of using sweet fruits, was a more elevated prevalence of gestational diabetes mellitus than the others There was a recorded high intake of fried food, fermented food, sugarcane juice, orange juice, sugary food, cereals, red meats, dairy products, and low amounts of vegetable consumption in pregnant women with gestational diabetes mellitus Nutritional intervention may improve the blood sugar of gestational diabetes women
Keywords: gestational diabetes, pregnant women, weight gain, nutritional diet, FFQ
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Mối liên quan giữa thói quen dinh dưỡng với đái tháo đường thai kỳ của phụ nữ mang thai từ 24 - 28 tuần tại bệnh viện Từ Dũ” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Luận văn cũng không có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừa nhận Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Học viên
Nguyễn Thanh Bích Trâm
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ii
ABSTRACT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
6 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 9
1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của PNMT 9
1.1.1 Vai trò của dinh dưỡng ở PNMT 9
1.1.2 Chế độ dinh dưỡng hợp lý trong khi mang thai 9
1.2 Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) 11
Trang 101.2.2 Dịch tễ ĐTĐTK 11
1.2.3 Các yếu tố liên quan đến dinh dưỡng trong ĐTĐTK 12
1.2.4 Chẩn đoán ĐTĐTK 13
1.2.5 Mục tiêu đường huyết 13
1.2.6 Hậu quả của ĐTĐTK 14
1.3 Các nghiên cứu liên quan 15
1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài 15
1.3.2 Nghiên cứu trong nước 19
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2 Cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu 21
2.3 Thu thập dữ liệu 23
2.4 Xử lí dữ liệu 25
2.5 Phương pháp phân tích số liệu 33
2.6 Y đức 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 36
3.1 Đặc điểm chung của PNMT 36
3.2 Đặc điểm của thai phụ về chỉ số khối cơ thể (BMI) trước mang thai và tăng cân ở tuần 24-28 37
3.3 Đặc điểm sản khoa và bệnh lý 39
3.4 Thói quen tiêu thụ thực phẩm 40
Trang 113.5 Đặc điểm tần suất tiêu thụ các nhóm thực phẩm nói chung 42
3.6 Nhận thức chung về sức khỏe và dinh dưỡng của PNMT 43
3.7 Tỷ lệ ĐTĐTK ở PNMT 24-28 tuần 45
3.8 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với đặc điểm chung của PNMT 46
3.9 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với BMI trước mang thai và tăng cân thai kỳ ở PNMT 48
3.10 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với thói quen ăn uống chung 50
3.11 Mối liên quan ĐTĐTK với tần suất tiêu thụ theo tuần về cách chế biến và của các nhóm thực phẩm 52
3.12 Mối liên quan ĐTĐTK với nhận thức về dinh dưỡng và sức khỏe của thai phụ 54
3.13 Thay đổi thói quen dinh dưỡng, cách chế biến và tần suất sử dụng thực phẩm/ nhóm thực phẩm của thai phụ mắc ĐTĐTK 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
LÝ LỊCHTRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 67
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK sử dụng nghiệm pháp dung nạp glucose
đường uống với 75g glucose sau 2 giờ ở tuần 24-28 tại BV Từ Dũ theo
IADPSG 13
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của PNMT 36
Bảng 3.2 Đặc điểm của thai phụ về chỉ số khối cơ thể (BMI) trước mang thai 38
Bảng 3.3 Đặc điểm của thai phụ về và tăng cân ở tuần 24-28 38
Bảng 3.4 Đặc điểm sản khoa và bệnh lý 39
Bảng 3.5 Thói quen tiêu thụ thực phẩm (n=151) 40
Bảng 3.6 Thói quen về cách chế biến/ tiêu thụ (n= 151) 42
Bảng 3.7 Tần suất tiêu thụ các nhóm thực phẩm nói chung (n= 151) 42
Bảng 3.8 Nhận thức thai phụ về yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐTK (n=151) 43
Bảng 3.9 Nhận thức thai phụ về hậu quả của ĐTĐTK 44
Bảng 3.10 Nhận thức khác 44
Bảng 3.11 Tỷ lệ ĐTĐTK ở PNMT 24-28 tuần (n=151) 45
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với đặc điểm chung của PNMT 47
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với BMI trước mang thai 48
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với mức độ tăng cân thai kỳ ở PNMT 49
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với thói quen ăn uống chung 51
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa ĐTĐTK với tần suất theo tuần của các nhóm thực phẩm 52
Trang 13Bảng 3.17 Mối liên quan ĐTĐTK với nhận thức đúng về dinh dưỡng và sức khỏe của thai phụ 54Bảng 3.18 Thay đổi thói quen dinh dưỡng của thai phụ mắc ĐTĐTK 55
Bảng 3.19 Thay đổi cách chế biến thực phẩm của thai phụ mắc ĐTĐTK 56
Bảng 3.20 Thay đổi tần suất sử dụng nhóm thực phẩm của thai phụ mắc ĐTĐTK 56Bảng 3.21 Đường huyết sau ăn của 2 giờ trước và sau can thiệp của thai phụ mắc ĐTĐTK 57
Trang 14DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADA American Diabetes Association
(Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ)
ACOG American College of Obstetricians and Gynecologists
(Hiệp hội sản phụ khoa Mỹ)
ĐTĐ Đái tháo đường
ĐTĐTK Đái tháo đường thai kỳ
FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Hiệp Hội Lương Thực thế giới)
FFQ Food frequency questionnaire
(Câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm)
GDSK & DD Giáo dục sức khỏe và dinh dưỡng
GTLN Giá trị lớn nhất
GTNN Giá trị nhỏ nhất
Trang 15HAPO The Hyperglycemia and Adverse Pregnancy Outcome
(Tăng đường huyết và kết quả bất lợi khi mang thai)
KTPV Khoảng tứ phân vị
IADPSG International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups
(Hiệp hội các nhóm nghiên cứu đái tháo đường và thai kỳ quốc tế)
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là rối loạn chuyển hóa đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới Tại Hoa Kỳ, đây là một trong những biến chứng thường gặp nhất khi mang thai, mỗi năm ảnh hưởng đến hơn 276.000 thai phụ và chiếm 90% của các bệnh đái tháo đường ảnh hưởng đến thai nhi [1], khoảng 6% ảnh hưởng đến các ca mang thai và hiện tại đang có xu hướng gia tăng [2], [3] và là mối lo ngại trong những năm gần đây Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ ĐTĐTK ghi nhận trong nghiên cứu của Jane E Hirst và cộng sự năm 2012 tại bệnh viện Hùng Vương là 20,3% [4]
Ở các dân tộc khác nhau, tỷ lệ mắc ĐTĐTK nói chung đã được báo cáo dao động từ
1 – 17,8% [5], [6] và ở phụ nữ mang thai (PNMT) tùy theo từng vùng địa lí có dao động từ 1 – 14% [7] Những tai biến sản khoa, tăng nguy cơ mắc bệnh mãn tính cho
cả mẹ và con đều có liên quan đến ĐTĐTK [8] PNMT được chẩn đoán có ĐTĐTK
có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 trong tương lai chiếm khoảng 50% [7]
Theo một nghiên cứu HAPO, khảo sát sự ảnh hưởng của tăng đường huyết có làm tăng nguy cơ của mẹ lên thai được thực hiện năm 2010 ở 5 trung tâm/ 9 quốc gia thấy rằng: khi đường huyết của mẹ tăng ngay cả khi mức đường huyết được xem là bình thường lúc mang thai 24-28 tuần thì có sự tăng liên tục đường huyết có nguy cơ cho trẻ [9], [10] PNMT được chẩn đoán ĐTĐTK có nhiều khả năng bị béo phì [11], có
tỷ lệ sinh non và trẻ sinh ra có nguy cơ bị hạ đường huyết, và có nguy cơ mắc đái tháo đường sớm ở tuổi trưởng thành cao hơn ở nhóm PNMT không có ĐTĐTK [4]
PNMT có thể gặp khó khăn trong chế độ vận động ở thời gian mang thai nhằm khắc phục các yếu tố nguy cơ của ĐTĐTK Trong khi đó chế độ ăn uống của người mẹ không những đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các chất dinh dưỡng và năng lượng thích hợp ở từng giai đoạn phát triển của bào thai [12] mà còn có thể liên quan đến việc gia tăng của các rối loạn chuyển hóa như ĐTĐTK [8], nên một số ít
Trang 17các nghiên cứu đã kiểm tra chế độ ăn ở các giai đoạn trước và trong khi mang thai là một yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được của ĐTĐTK [13], [14] Theo một số nghiên cứu cho thấy rằng thời gian đầu của quá trình mang thai có sự khác nhau về tần suất
sử dụng các nhóm thực phẩm trong chế độ ăn uống ở phụ nữ có thể làm tăng nguy cơ ĐTĐTK [15], [16] Gần đây, một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu năm 2006 của Zhang
C cho thấy nếu tăng thêm một khẩu phần ăn thịt đỏ trong ngày thì có nguy cơ ĐTĐTK lên 1,61 lần [16] và theo một nghiên cứu năm 2011 của Qiu Chunfang tăng lên 1,77 lần nếu tiêu thụ trứng trong một tuần từ 7 lần trở lên [15] Nghiên cứu năm 2016 tại Hóc Môn cho thấy những thai phụ có thói quen uống trà có tỉ số mắc ĐTĐTK bằng 0.54 lần so với thai phụ không có thói quen uống trà Những nghiên cứu trên cho thấy các mối liên quan không nhất quán về nền văn hóa ẩm thực khác nhau [13], [17] Chính vì vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về chế độ ăn nhiều hơn tại nhiều địa điểm khác nhau Ngoài ra, một nghiên cứu cũng chứng minh rằng yếu tố dinh dưỡng có liên quan đến mức độ tăng cân thai kỳ [18] Trong khi đó, sự tăng cân quá mức trong lúc mang thai có liên quan mật thiết về mặt sinh học với ĐTĐTK vì tăng cân quá mức
có thể dẫn đến lắng đọng chất béo của mẹ lớn hơn, làm giảm tiết insulin [19] Phụ nữ tăng cân quá mức trong quá trình mang thai có nguy cơ mắc ĐTĐTK gấp 1,4 lần và mắc bệnh ĐTĐ type 2 sau này [20], [12]
Bệnh viện Từ Dũ là một BV đầu ngành tại khu vực phía Nam cũng như cả nước và
số lượng thai phụ đến khám tại BV rất đa dạng về đặc điểm kinh tế, xã hội Một nghiên cứu về ĐTĐTK tại BV Từ Dũ năm 2008 cho kết quả tỷ lệ ĐTĐTK tại đây là 10,69% [21] Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tầm soát trên đối tượng nguy cơ cao và tìm các yếu tố liên quan với ĐTĐTK mà chưa cập nhật được tình hình ĐTĐTK cũng như chế độ dinh dưỡng trong thai kỳ liên quan đến ĐTĐTK trong những năm gần đây Vì vậy chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ mắc ĐTĐTK và tìm hiểu mối liên quan chế độ dinh dưỡng trong thai kỳ với ĐTĐTK, từ
đó có kế hoạch tư vấn cho thai phụ chế độ ăn thích hợp
Trang 182 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Tỷ lệ ĐTĐTK ở PNMT từ 24-28 tuần khám ngoại trú tại bệnh viện Từ Dũ là bao
nhiêu?
Có hay không có mối liên quan giữa thói quen dinh dưỡng và nhận thức của thai phụ
về sức khỏe, dinh dưỡng với ĐTĐTK ở PNMT 24-28 tuần khám thai tại bệnh viện
Từ Dũ?
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ ĐTĐTK và mối liên quan giữa ĐTĐTK với thói quen dinh dưỡng và
nhận thức của thai phụ về sức khỏe, dinh dưỡng với ĐTĐTK ở PNMT 24-28 tuần
khám thai ngoại trú tại BV Từ Dũ
Mục tiêu cụ thể
Xác định dân số chung ở PNMT tuần 24-28 tại BV Từ Dũ
Xác định tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai (BMI) và mức tăng cân thai
kỳ ở các PNMT 24-28 tuần khám thai tại BV Từ Dũ
Xác định tỷ lệ ĐTĐTK ở PNMT 24-28 tuần khám thai ngoại trú tại BV Từ Dũ
Mô tả thói quen và tần suất tiêu thụ thực phẩm, các nhóm thực phẩm, nhận thức
về sức khỏe và dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai tuần 24-28 tại BV Từ Dũ
Xác định mối liên quan giữa ĐTĐTK với tình trạng dinh dưỡng trước mang thai
và mức tăng cân thai kỳ của thai phụ có ĐTĐTK 24-28 tuần khám tại BV Từ Dũ
Xác định mối liên quan giữa ĐTĐTK với thói quen dinh dưỡng của thai phụ có
ĐTĐTK từ 24-28 tuần khám tại BV Từ Dũ
Xác định mối liên quan giữa ĐTĐTK với giữa nhận thức về sức khỏe và dinh
dưỡng của thai phụ có ĐTĐTK từ 24-28 tuần khám tại BV Từ Dũ
Trang 19- Ngũ cốc
- Thịt đỏ, thịt trắng
- Rau củ và trái cây
- Sữa và sản phẩm
từ sữa
- Đồ uống
Trang 203 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Thai phụ từ 24-28 tuần khám thai tại bệnh viện Từ Dũ Nghiên cứu được tiến hành
phỏng vấn bộ câu hỏi soạn sẵn và bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm FFQ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát ngẫu nhiên thai phụ từ 24-28 tuần đến khám tại BV Từ Dũ về thói quen dinh dưỡng trong vòng 3 tháng gần nhất và kết quả xét nghiệm đường huyết được ghi nhận khách quan Thông qua đó, người nghiên cứu quan sát và phân loại thành 2 nhóm: thai phụ không ĐTĐTK và thai phụ có ĐTĐTK
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ tháng 4/2021 đến tháng 4/2022 tại khu vực khám thai bệnh viện Từ Dũ
Đối tượng được giải thích và tự nguyện đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu: lựa chọn thai phụ có thai từ 24 -28 tuần đồng ý tham gia nghiên cứu và có thể cung cấp được thói quen ăn uống trong vòng 3 tháng vừa qua
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành phỏng vấn bộ câu hỏi soạn sẵn và bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm FFQ
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
5.1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi mang thai, phụ nữ hay có quan niệm chưa đúng về chế độ ăn uống và vận động dẫn đến rối loạn dinh dưỡng trong thai kỳ (huyết áp, đường huyết, tim mạch ) như:
Ăn gấp đôi
Dùng sữa và chế phẩm từ sữa không có liều lượng bổ sung phù hợp với thể trạng
Trang 21 Không dám vận động nhiều khi mang thai
Tuy nhiên, các khuyến nghị về CĐA cụ thể tại các bệnh viện sản khoa hiện nay lại khá khiêm tốn và hầu như không có dữ liệu để hỗ trợ cho việc xây dựng một chế độ
ăn phù hợp Tương tự, tại bệnh viện Từ Dũ vẫn chưa có những công trình nghiên cứu cho phép xây dựng CĐA và hướng dẫn cho thai phụ mắc ĐTĐTK kiểm soát tốt và
ổn định đường huyết
5.2 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các dữ liệu khoa học đáng tin cậy, nhằm hỗ trợ trong việc can thiệp dinh dưỡng trước và trong lúc mang thai để phòng ngừa tối ưu nhất mắc ĐTĐTK do thói quen ăn uống hàng ngày của PNMT
5.3 Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ đề xuất quy trình tư vấn dinh dưỡng hợp lý dành cho phụ nữ chuẩn bị hoặc đang mang thai, xây dựng các chương trình tư vấn dinh dưỡng, hướng dẫn CĐA phù hợp với thể trạng và tình trạng bệnh lý của thai phụ ĐTĐTK, góp phần nâng cao hiệu quả khám và điều trị tại BV Từ Dũ
5.4 Tính mới của đề tài
Nghiên cứu là bước đầu tiên tìm hiểu tần suất tiêu thụ thực phẩm, cũng như mối liên quan đến ĐTĐTK ở PNMT 24-28 tuần tại BV Từ Dũ Do việc áp dụng bộ câu hỏi FFQ được dùng trong nghiên cứu còn hạn chế ở PNMT
Trang 22hiệu quả ĐTĐTK Nghiên cứu này là tiền đề để thực hiện các nghiên cứu khác và sử dụng bảng tần suất tiêu thụ thực phẩm cho PNMT tại các BV khác
Áp dụng tiêu chí chẩn đoán ĐTĐTK theo tiêu chuẩn mới nhất của Hiệp hội Đái tháo đường thế giới (IADPGS) Tiêu chí này có khả năng phát hiện tăng 5-10% tỷ lệ ĐTĐTK Nghiên cứu thực hiện tại BV Từ Dũ, là bệnh viện đầu ngành về sản phụ khoa của cả nước và lớn nhất khu vực phía Nam nên đa dạng về đặc điểm văn hóa xã hội Chúng tôi sử dụng dựa trên bộ câu hỏi FFQ đã được chuẩn hóa cho người trưởng thành và áp dụng trên đối tượng PNMT Mặt khác, những thực phẩm trong bộ câu hỏi này, được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi 24 giờ nên thể hiện được tính chặt chẽ
6 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu
6.1 Điểm mạnh
Áp dụng tiêu chí chẩn đoán ĐTĐTK theo tiêu chuẩn mới nhất của Hiệp hội Đái tháo đường thế giới (IADPGS) Tiêu chí này có khả năng phát hiện tăng 5-10% tỷ lệ ĐTĐTK Nghiên cứu thực hiện tại BV Từ Dũ, là bệnh viện đầu ngành về sản phụ khoa của cả nước và lớn nhất khu vực phía Nam nên đa dạng về đặc điểm văn hóa xã hội Chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi FFQ dựa trên bộ câu hỏi FFQ đã được chuẩn hóa cho người trưởng thành và áp dụng trên đối tượng PNMT Mặt khác, những thực phẩm trong bộ câu hỏi này, được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi 24 giờ nên thể hiện được tính chặt chẽ
6.2 Điểm hạn chế
Nghiên cứu phần lớn thu thập thông tin hồi cứu về tiền căn gia đình, tiền căn sản khoa nên có thể không chính xác và sai lệch khi nhớ lại Thêm nữa, về cân nặng trước khi mang thai hồi cứu quá lâu nên thai phụ nhớ không chính xác, chúng tôi phải hồi cứu trên hồ sơ khám thai lần đầu của thai phụ và hỏi lại nên có sự sai lệch xảy ra Do đó kết quả BMI trước mang thai của thai phụ cũng thiếu chính xác
Nghiên cứu cắt ngang tại một thời điểm nên chỉ phản ánh tỷ lệ tại thời điểm nghiên cứu và mối liên quan chưa xác định được cách rõ ràng Đồng thời nghiên cứu chọn
Trang 23mẫu thuận tiện và cỡ mẫu chưa đủ lớn cho dân số mục tiêu và cộng đồng nên có thể làm gia tăng tỷ lệ ĐTĐTK
Bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm chỉ khảo sát PNMT trung bình trong 3 tháng gần nhất nên bức tranh tổng quát về mô hình ăn uống của PNMT còn hạn chế Mặc khác, mục đích chính của FFQ là thói quen ăn uống, không định lượng thực phẩm tiêu thụ nên có thể sẽ ảnh hưởng đến tính giá trị của nghiên cứu Đồng thời, bảng hỏi này hoàn toàn phụ thuộc vào trí nhớ của PNMT có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Các kiểm định chưa loại trừ được những yếu tố nguy cơ ĐTĐTK mà chúng tôi khảo sát chung Vì vậy nhiều mối liên quan giữa các thực phẩm chưa tìm ra được Chính vì thế, những kết quả mối liên quan ĐTĐTK và thực phẩm chỉ mang tính chất tham khảo
Trang 24CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của PNMT
1.1.1 Vai trò của dinh dưỡng ở PNMT
Chế độ ăn uống có vai trò quan trọng trong thời gian mang thai vì nó cung cấp chất dinh dưỡng cũng như năng lượng một cách phù hợp cho từng giai đoạn cụ thể của sự phát triển của thai nhi và cũng duy trì sức khỏe cho thai phụ [12]
Chế độ ăn không đủ chất dinh dưỡng làm chậm phát triển của thai nhi trong tử cung,
có thể gây dị tật, sinh non và ảnh hưởng đến trọng lượng của trẻ sơ sinh [22] Mặt khác, dinh dưỡng trong thai kỳ có ảnh hưởng đến sự phát triển các rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) và các vấn đề sức khỏe cho trẻ từ sơ sinh đến khi trưởng thành [8]
1.1.2 Chế độ dinh dưỡng hợp lý trong khi mang thai
Trái với một câu nói đôi phải "ăn cho hai người" hoặc “tăng gấp đôi” lượng thức ăn
so với trước khi mang thai Từ khoảng tháng thứ 4 của thai kỳ PNMT chỉ cần thêm 200-300 Kcal mỗi ngày
Thực phẩm được chia thành 5 nhóm sau: [23]
1.1.2.1 Nhóm ngũ cốc
Theo Viện Dinh dưỡng giai đoạn 2016-2020, ngũ cốc là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho cơ thể, 6-11 phần/ ngày Thực phẩm từ nhóm này cung cấp cho PNMT nguồn chính của năng lượng Gạo chưa xay kỹ và bánh mì là nguồn cung cấp chất xơ ngăn ngừa táo bón hay gặp phải trong thai kỳ [24]
1.1.2.2 Các loại rau và trái cây
PNMT cần ăn ít nhất 5 phần/ ngày (hơn 400g) Rau và trái cây là nguồn cung cấp tốt nhất của nhiều vitamin và khoáng chất Do đó, điều quan trọng là ăn nhiều rau và trái cây mỗi ngày [24]
Trang 25để tránh lượng dư thừa vitamin A Chọn thịt nạc hoặc bỏ mỡ khi ăn, hạn chế những thực phẩm muối, xúc xích, hun khói [24]
1.1.2.5 Mỡ động vật, thực vật [23]
Nhóm này bao gồm bơ, bơ thực vật, dầu, mỡ, đường, bánh kẹo, bánh ngọt, đồ uống ngọt Những thực phẩm này chứa một lượng chất béo cao, muối, hàm lượng đường cao
Những thực phẩm này chứa nhiều năng lượng nhưng lại cung cấp rất ít các chất dinh dưỡng
Tiêu thụ muối ở mức vừa phải (không quá 5g/ ngày): cố gắng sử dụng ít muối trong nấu ăn, ăn thức ăn ít muối Điều này sẽ làm giảm nguy cơ huyết áp cao và các vấn đề sức khỏe liên quan
1.1.2.6 Những thực phẩm nên hạn chế trong khi mang thai [23]
Bia, rượu: cố gắng không uống rượu trong khi mang thai Rượu qua nhau thai và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và các vấn đề tâm thần ở một số trẻ Điều đặc biệt quan trọng là không uống rượu tại thời điểm thụ thai và trong 3 tháng đầu của thai kỳ vì đó là thời điểm phôi thai dễ bị tổn thương nhất bởi những tác động độc hại của rượu
Trang 26Thực phẩm chứa cafein: ảnh hưởng của cafeine vẫn chưa được chứng minh Trà, ca cao và nước ngọt chứa cùng một lượng cafein trong khi cà phê chứa gấp hai lần lượng cafein
1.2 Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK)
1.2.1 Định nghĩa ĐTĐTK
ĐTĐTK là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang thai
Định nghĩa này không loại trừ trường hợp bệnh nhân đã có rối loạn dung nạp glucose
từ trước (nhưng chưa được phát hiện) hay là xảy ra đồng thời với quá trình mang thai [7], [25]
PNMT phát hiện ĐTĐ trong ba tháng đầu thai kỳ được xem là ĐTĐ có từ trước, không phải ĐTĐTK [26]
1.2.2 Dịch tễ ĐTĐTK
ĐTĐTK gặp khoảng 3 - 8% trong số các phụ nữ có thai ở các trung tâm Bắc Mỹ, ở Anh là 4% và ở Đan Mạch là 1 – 7% [7] Ở Hoa Kỳ các ca mang thai bị ảnh hưởng 6% bởi ĐTĐTK [3], mỗi năm ảnh hưởng đến hơn 276.000 thai phụ và chiếm 90% ảnh hưởng đến thai nhi về các bệnh ĐTĐ [1] ĐTĐTK tác động đáng kể đến sức khỏe của mẹ và con, bao gồm cả nguy cơ cao bị tiền sản giật và tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở mẹ và con Trong thực tế, phụ nữ bị ĐTĐTK có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 là 35-60% khoảng 10-20 năm sau khi sinh Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Obstetrics and Gynecology năm 2011 cho thấy chỉ có 68% PNMT đã được sàng lọc ĐTĐTK và chỉ có 19% phụ nữ được chẩn đoán ĐTĐTK [1]
Ở Việt Nam, chưa có số liệu thống kê về tỷ lệ ĐTĐTK trên toàn quốc, tuy nhiên một
số nghiên cứu tại một số bệnh viện trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK tăng nhanh qua các năm, giữa năm 2008 và 2010 tỷ lệ ĐTĐTK tăng gấp 2 lần từ 10,29% lên 20,3% [21], [4]
Trang 271.2.3 Các yếu tố liên quan đến dinh dưỡng trong ĐTĐTK
1.2.3.1 Thịt đỏ
Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu của C Zhang năm 2006 về chế độ ăn uống, sử dụng thịt đỏ và nguy cơ mắc ĐTĐTK cho thấy nguy cơ tương đối cho mỗi khẩu phần tăng thêm/ngày là 1.61 (95% CI 1.25-2.07) [16] Và trong nghiên cứu của AnaM Ramos-Leví cho thấy được có sự khác biệt thịt đỏ và thịt chế biến (lớn hơn 6 phần/ tuần) ở nhóm có ĐTĐTK với p = 0.023 [27]
1.2.3.2 Trứng
Nghiên cứu của Chunfang Qiu năm 2010 cho thấy phụ nữ tiêu thụ nhiều trứng trước
và đầu thời kì mang thai tiêu thu từ 7 trứng/ tuần trở lên có nguy cơ ĐTĐTK cao gấp 1,8 lần so với những PNMT tiêu thụ ít trứng [15]
1.2.3.3 Thực phẩm giàu đường
Theo nghiên cứu của AnaM Ramos-Leví năm 2011 cho thấy được mức tiêu thụ nhiều bánh quy và bánh ngọt (lớn hơn 4 lần/ tuần) cao hơn ở nhóm có ĐTĐTK nhưng chưa tìm ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p = 0.068 giữa bánh quy và bánh ngọt [27], và tăng nguy cơ lên 1.23 lần khi sử dụng bánh ngọt ở một nghiên cứu được tiến hành ở Trung Quốc [13]
1.2.3.4 Trà, cà phê, đồ uống có đường
Cũng căn cứ theo nghiên cứu của AnaM Ramos-Leví năm 2011 cho thấy được việc tiêu thụ cà phê (>3 lần/ngày), còn đồ uống có đường (> 4 lần/tuần) và cao hơn ở nhóm
có ĐTĐTK Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p = 0.035 ở đồ uống có đường và p = 0.022 với cà phê [27]
1.2.3.5 Rau, củ, quả
Một nghiên cứu được thực hiện tại Trung Quốc cho thấy chế độ ăn nhiều rau củ, quả cũng có liên quan với việc làm giảm nguy cơ ĐTĐTK 0.79 lần [13]
Trang 281.2.4 Chẩn đoán ĐTĐTK
Trong hội nghị quốc tế ĐTĐ lần thứ 5 về ĐTĐTK khuyến cáo thời điểm tốt nhất để phát hiện bất thường chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ là tầm soát ĐTĐTK cho PNMT từ 24 - 28 tuần [2] Khuyến cáo đã nhấn mạnh, việc đánh giá các nguy cơ của ĐTĐTK ngay từ lần khám thai đầu tiên cho thai phụ có nguy cơ là rất cần thiết để can thiệp kịp thời Nhóm nguy cơ cao nên tầm soát sớm và kết quả NPDNG âm tính
sẽ lặp lại khi tuổi thai 24 - 28 tuần [28], [29], [30] Hiệp hội quốc tế của các nhóm nghiên cứu ĐTĐ và thai kỳ (IADPSG) và WHO khuyến cáo sử dụng NPDNG 75gam
- 2 giờ để chẩn đoán ĐTĐTK [31]
Tầm soát và chẩn đoán theo IADPSG được tiến hành qua một bước, đơn giản phù hợp với tình hình thực tế tại đa số các BV hiện nay Để chẩn đoán ĐTĐTK và tỷ lệ tích lũy của HAPO nhóm hoặc vượt qua các ngưỡng (*) [9]
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK sử dụng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống với 75g glucose sau 2 giờ ở tuần 24-28 tại BV Từ Dũ theo IADPSG
Thời điểm xét nghiệm mg/dL mmol/L
Đường huyết đói ≥ 92 ≥ 5.1 Đường huyết 1 giờ sau uống 75g glucose ≥ 180 ≥ 10 Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g glucose ≥ 153 ≥ 8.5 (*) một hoặc nhiều hơn một giá trị chẩn đoán
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán trên thì ĐTĐTK được chẩn đoán nếu có ít nhất một kết quả ≥ giới hạn trên [32] Tiêu chuẩn chẩn đoán theo IADPSG đã được áp dụng trong phác đồ điều trị Sản phụ khoa của bệnh viện Từ Dũ năm 2019 Tầm soát và chẩn đoán theo IADPSG được tiến hành qua một bước, đơn giản phù hợp với tình hình thực tế tại đa số các bệnh viện hiện nay
1.2.5 Mục tiêu đường huyết
PNMT nên kiểm soát đường huyết chặt chẽ trước và sau các bữa ăn như sau [33]:
Lúc đói ≤ 5.3 mmol/L (≤ 95mg/dL)
Trang 291 giờ sau khi uống 75g glucose ≤ 7.8 mmol/L (≤ 140 mg/dL)
2 giờ sau khi uống 75g glucose ≤ 6.7 mmol/L (≤ 120 mg/dL)
1.2.6 Hậu quả của ĐTĐTK
1.2.6.1 Đối với mẹ [7]
Có nguy cơ bị các tai biến sản khoa cao hơn các thai phụ bình thường
Tiền sản giật và sản giật: thai phụ ĐTĐTK có nguy cơ bị tiền sản giật cao hơn các thai phụ thường Tỷ lệ các phụ nữ mắc ĐTĐTK bị tiền sản giật khoảng 12% cao hơn các phụ nữ không bị ĐTĐTK (8%)
Sảy thai và thai chết lưu: người mắc ĐTĐTK tăng nguy cơ bị sảy thai tự nhiên nếu ở
3 tháng đầu thai kỳ không kiểm soát tốt glucose trong máu
Ngoài ra thai phụ ĐTĐTK sẽ tăng nguy cơ bị ĐTĐTK trong những lần mang thai tiếp theo Họ cũng dễ bị béo phì, tăng cân quá mức sau sanh nếu không có chế độ ăn và tập luyện thích hợp
1.2.6.2 Đối với con [7]
Thai to: làm tăng nguy cơ phải mổ đẻ Tỷ lệ mổ đẻ ở các thai phụ ĐTĐTK khá cao 47%
Hạ glucose máu sơ sinh trong những ngày đầu sau sanh: thời gian hạ glucose máu kéo dài tới 24-72 giờ sau khi sanh Vì vậy, kiểm soát tốt glucose máu cho các thai phụ ĐTĐTK trong thời gian mang thai và thời điểm chuyển dạ sẽ tránh được tai biến này Và cũng vì vậy mà cần phải theo dõi sát glucose máu cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu sau sanh
Hạ canxi máu sơ sinh: tỷ lệ hạ canxi máu sơ sinh của các trẻ đẻ non hoặc ngạt có mẹ
bị ĐTĐ cao hơn các trẻ có mẹ không bị đái tháo đường, trong 3 ngày đầu, nếu glucose máu của mẹ không được kiểm soát tốt thì tỷ lệ hạ canxi có thể lên đến 50% Tăng tỷ
lệ tử vong chu sinh: tỷ lệ tử vong chu sinh của các trẻ sinh ra từ các thai phụ ĐTĐTK
Trang 30cao hơn các thai phụ không bị đái tháo đường Về lâu dài làm tăng nguy cơ béo phì
ở các trẻ em và đái tháo đường type 2
1.3 Các nghiên cứu liên quan
1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài
Năm 2006, một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu của C Zhang về “Chế độ ăn uống, sử dụng thịt và nguy cơ ĐTĐTK” Nghiên cứu trên 13110 thai phụ, trong đó ghi nhận
có 758 trường hợp có ĐTĐTK Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra xem chế độ
ăn uống có liên quan đến nguy cơ ĐTĐTK hay không? Nghiên cứu so sánh giữa 2 chế độ ăn: chế độ ăn thận trọng (gồm một lượng lớn trái cây, rau xanh, thịt gia cầm và cá) và chế độ ăn phương Tây (đặc trưng bởi lượng lớn thịt đỏ, thịt đã qua xử
lý, ngũ cốc, bánh kẹo) Kết quả ghi nhận được nguy cơ tương đối (RR) cho mỗi khẩu phần tăng thêm/ngày là 1,61 (95% CI 1.25 - 2.07) cho thịt đỏ (thịt bò, thịt lợn hoặc thịt cừu) và 1,64 (95% CI 1.13 - 2.38) cho thịt đã qua xử lý (thịt xông khói, xúc xích
và các loại thịt đã qua chế biến khác) Trong nghiên cứu này cho thấy có mối liên quan mạnh mẽ giữa chế độ ăn uống phương Tây và chế độ ăn thận trọng với nguy cơ ĐTĐTK Một chế độ ăn nhiều thịt đỏ và thịt đã qua xử lý có mối liên quan với một nguy cơ cao đáng kể Nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn uống trong thai kỳ có thể ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển ĐTĐTK Điểm mạnh của nghiên cứu là có mức độ giám sát rất cao quá trình mang thai và tính chính xác cao trong tự báo cáo ĐTĐTK Hạn chế của nghiên cứu là thông tin cung cấp về chế độ ăn trong khi mang thai không thể đo được cụ thể, nghiên cứu này chỉ giải quyết mối quan hệ giữa chế độ ăn và nguy
cơ ĐTĐTK [16]
Năm 2008, nghiên cứu của Jenny S Radesky về “Chế độ ăn trong giai đoạn đầu thai
kỳ và sự gia tăng ĐTĐTK” Mục đích của nghiên cứu này là để tìm kiếm mối liên quan giữa những chất dinh dưỡng cũng như các thực phẩm và chất dinh dưỡng khác như acid béo n-3, chất béo dạng trans, ngũ cốc nguyên hạt và chế độ ăn uống với nguy cơ ĐTĐTK Nghiên cứu được thực hiện với 1733 phụ nữ tham gia vào dự án Viva (một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu về mang thai và sinh nở), trong đó 91 trường hợp gia tăng
Trang 31ĐTĐTK Nghiên cứu kiểm tra các mối liên quan của chế độ ăn uống ba tháng đầu, đánh giá bằng cách xác nhận câu hỏi tần số thực phẩm, với kết quả thử nghiệm dung nạp glucose ở 26-28 tuần của thai kỳ Kết quả của nghiên cứu này cho thấy BMI trước khi mang thai là một yếu tố dự báo mạnh mẽ đối với nguy cơ ĐTĐTK (OR 3.44 [95%
CI 1.88 - 6.31] cho BMI trước khi mang thai ≥ 30 và < 25 kg/m2), nguy cơ ĐTĐTK cho tổng số chất béo trong chế độ ăn uống là 1,00 [0.96 - 1.05], cho chất béo bão hòa
là 0.98 [0.88 - 1.08], cho chất béo không bão hòa đa là 1.09 [0.94 - 1.26], cho chất béo dạng trans là 0.87 [0.51 - 1.49], và cho tinh bột là 1.00 [0.96 - 1.03] lượng axit béo n-
3 tiêu thụ có liên quan với tăng nguy cơ ĐTĐTK (OR 1.11 [95% CI 1.02 - 1.22] cho mỗi 300 mg/ngày), chế độ ăn uống và tiêu thụ các loại thịt đỏ và chế biến sẵn không tiên đoán được kết quả dung nạp glucose Ngoại trừ phát hiện này, những dữ liệu này không cho thấy chất dinh dưỡng hoặc thực phẩm tiêu thụ vào đầu thai kỳ có liên quan đến nguy cơ ĐTĐTK Tình trạng dinh dưỡng khi bước vào thời kỳ mang thai, được phản ánh bởi BMI trước khi mang thai, có lẽ là quan trọng hơn so với chế độ ăn uống khi mang thai trong sự phát triển của ĐTĐTK [8]
Năm 2010, nghiên cứu bệnh chứng của Qiu Chunfang về “Nguy cơ ĐTĐTK trong mối liên quan tới lượng tiêu thụ trứng và cholesterol của người mẹ” Nghiên cứu đánh giá mối liên quan với tăng nguy cơ ĐTĐTK trong một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu (1996-2008; 3158 người tham gia) và một nghiên cứu bệnh chứng (giai đoạn 1998-2002; 185 trường hợp, 411 bệnh chứng).Nghiên cứu cho thấy phụ nữ với mức tiêu thụ trứng cao (≥ 7trứng/tuần) tăng nguy cơ ĐTĐTK gấp 1.77 lần so với những phụ
nữ có mức tiêu thụ thấp hơn (95% khoảng tin cậy (CI): 1.19 - 2.63), còn trong nghiên cứu bệnh chứng, số chênh hiệu chỉnh cho tiêu thụ ≥ 7 trứng/tuần so với < 7 trứng /tuần là 2.65 (95% CI: 1.48 – 4.72) Kết luận của nghiên cứu cho thấy phụ nữ tiêu thụ nhiều trứng trước và đầu thời kì mang thai có 1.8 lần tăng nguy cơ ĐTĐTK so với những phụ nữ tiêu thụ ít trứng Sự liên kết này độc lập với các yếu tố nguy cơ được thiết lập cho ĐTĐTK Hạn chế của nghiên cứu là tiêu thụ trứng của mẹ là tự báo cáo nên không thể loại trừ khả năng báo cáo lỗi, nghiên cứu đã không thu thập thông tin
Trang 32về việc tiêu thụ lòng đỏ trứng hoặc chỉ lòng trắng trứng Do đó, không thể để đánh giá nguy cơ ĐTĐTK liên quan đến thành phần khác nhau của việc tiêu thụ trứng [15] Năm 2011, nghiên cứu của AnaM Ramos-Leví về “Yếu tố nguy cơ của ĐTĐTK ở lượng lớn phụ nữ Tây Ban Nha: Hiệu quả của chiến thuật dự phòng” Mục đích của nghiên cứu này là để thiết lập một mô hình đánh giá nguy cơ cho ĐTĐTK bằng cách xác định các yếu tố nguy cơ thay đổi mà có thể dùng để dự đoán nguy cơ của ĐTĐTK Nghiên cứu trên 2194 phụ nữ sống ở Tây Ban Nha với 213 thai phụ được chẩn đoán
có ĐTĐTK Kết quả nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt đáng kể trong lượng tiêu thụ của thịt đỏ và thịt chế biến sẵn (p = 0.023), đồ uống có đường (p = 0.035), và cà phê (p = 0.022) đã được tìm thấy, quan sát thấy một xu hướng cho sự khác biệt trong tiêu thụ bánh quy và bánh ngọt (p = 0.068) Khi so sánh sự phân phối theo cặp, sự khác biệt đáng kể được tìm thấy: mức tiêu thụ nhiều bánh quy và bánh ngọt (> 4 lần/ tuần), thịt đỏ và thịt chế biến (> 6 phần/ tuần), đồ uống có đường (> 4 lần/ tuần), và cà phê (> 3 lần/ ngày), và mức độ thấp hoạt động thể thao (< 2 ngày/ tuần) và đi bộ nhẹ nhàng (< 30phút/ ngày) là cao hơn ở nhóm ĐTĐTK Tiêu thụ ít (< 2lần/ tuần) các loại đồ uống có đường là lớn hơn ở nhóm không ĐTĐTK Theo dữ liệu thu được trong nghiên cứu này, sự khác biệt giữa ĐTĐTK và không ĐTĐTK trong phân nhóm lượng tiêu thụ bánh quy, bánh ngọt, các loại thịt đỏ và chế biến, cà phê và thức uống
có đường đã được tìm thấy Hạn chế của nghiên cứu là số liệu liên quan đến thông tin
về xã hội học, đặc điểm nhân trắc học và hành vi được thu thập thông qua tự trả lời bảng câu hỏi và có sự sai lệch thông tin ở các nhóm tham gia [27]
Năm 2015, một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu về “Chế độ ăn của mẹ và ĐTĐTK” được thực hiện tại Trung Quốc Nghiên cứu được thực hiện với 3063 PNMT của Trung Quốc, trong đó có 544 được chẩn đoán với ĐTĐTK Nghiên cứu kiểm tra mối liên
hệ giữa chế độ ăn uống và các nguy cơ ĐTĐTK trong một dân số Trung Quốc Dữ liệu về chế độ ăn uống đã được thu thập bằng cách sử dụng bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm tại 24-27 tuần của thai kỳ Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ rau củ liên quan với giảm nguy cơ ĐTĐTK (nguy cơ tương đối (RR) 0.79; 95% CI 0.64 -
Trang 33ngọt và hải sản có liên quan với tăng nguy cơ ĐTĐTK (RR 1.23; 95% CI 1.02 - 1.49) Không có liên quan đáng kể đã được tìm thấy cho chế độ giàu protein và chế độ thận trọng Nghiên cứu kết luận được rằng các chế độ ăn rau củ liên quan với giảm nguy
cơ ĐTĐTK, trong khi chế độ ăn nhiều đồ ngọt và hải sản có liên quan với tăng nguy
cơ ĐTĐTK [13]
Năm 2015, một tổng quan hệ thống của Danielle A.J.M Schoenaker từ các nghiên cứu quan sát của về “Vai trò của năng lượng, dinh dưỡng, thực phẩm và chế độ ăn trong việc phát triển ĐTĐTK” Mục đích của nghiên cứu này là để tổng hợp bằng chứng từ các nghiên cứu quan sát trên các liên kết giữa các yếu tố dinh dưỡng với ĐTĐTK Tổng quan hệ thống bao gồm 34 bài báo được công bố cho đến tháng 1 năm
2015 gồm 21 nghiên cứu cá nhân (10 đoàn hệ tiến cứu, 6 cắt ngang mô tả, và 5 bệnh chứng) Chỉ có một số lượng hạn chế các nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu đã hiệu chỉnh cho yếu tố gây nhiễu chỉ ra được mối liên quan với nguy cơ cao của ĐTĐTK khi thay thế 1-5% năng lượng từ carbohydrate với chất béo và tiêu thụ nhiều của cholesterol (≥ 300 mg/ngày), sắt heme (≥ 1.1 mg/ngày), thịt đỏ và thịt chế biến (tăng
1 phần ăn/ngày), và trứng (≥ 7 lần/tuần) Một chế độ ăn uống giàu trái cây, rau, ngũ cốc nguyên hạt, cá và ít thịt đỏ và thịt chế biến, ngũ cốc tinh chế, và sữa nhiều béo đã được tìm thấy là có lợi Những phát hiện cho thấy hầu hết các loại thực phẩm hay nhóm thực phẩm không có ý nghĩa thống kê Trong số 4 nghiên cứu riêng biệt có 2 nghiên cứu có hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu chính luôn tìm thấy một mối liên quan với cao nguy cơ ĐTĐTK đối với lượng tiêu thụ cao hơn ở nhóm thịt đỏ và thịt chế biến, trứng [13]
Năm 2015, một nghiên cứu về “Mối liên quan giữa chế độ ăn lành mạnh của mẹ và nguy cơ ĐTĐTK” Nghiên cứu được tiến hành ở 168 PNMT, với 86 PNMT có BMI bình thường và 82 PNMT béo phì thừa cân được chẩn đoán ĐTĐTK Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống cẩn trọng (lượng tiêu thụ nhiều cho thủy sản; trứng; rau; trái cây và dâu; dầu thực vật; các loại hạt và hạt giống; mỳ ống; ngũ cốc ăn sáng; và
cà phê, trà và bột ca cao, và tiêu thụ ít cho nước ngọt và khoai tây chiên) có liên quan
Trang 34số con, cân nặng trước sinh, tiêu thụ năng lượng, tăng cân hàng tuần và tổng tương đương trao đổi chất mối liên quan vẫn tồn tại (OR: 0.36; 95% CI: 0.14 – 0.94) Kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở nhóm chỉ có phụ nữ thừa cân hoặc béo phì (OR: 0.31; KTC 95%: 0.13 - 0.75) Nghiên cứu cho thấy rằng tuân theo một chế độ ăn uống cẩn trọng trong thai kỳ rõ ràng có liên quan với giảm nguy cơ ĐTĐTK, đặc biệt ở phụ nữ đã có nguy cơ cao hơn vì thừa cân/ béo phì trước khi mang thai [14]
1.3.2 Nghiên cứu trong nước
Năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Hồng Long đã thực hiện nghiên cứu “Tần suất tiêu thụ thực phẩm ở PNMT tại bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh” Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, trên đối tượng PNMT đến khám tại bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn TP.HCM tại thời điểm nghiên cứu,
sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu 207 Nghiên cứu này có nét tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi là đều chọn đối tượng là PNMT đến khám tại khu vực đa khoa Hóc Môn, tính ra số lần thai phụ sử dụng thực phẩm trong đó nhóm thịt
đỏ với lượng thịt heo nạc được PNMT tiêu thụ nhiều nhất với 4.04 ± 3.71 lần/tuần, trong nhóm ngũ cốc thì việc tiêu thụ xôi 2.59 ± 4.56 lần/tháng, nhiều nhất là bún, bánh bao, hủ tiếu, phở 3.3 ± 2.78 lần/tuần, tiêu thụ tôm cua là nhiều nhất trong các loại thủy, hải sản 2.32 ± 3.25 lần/tuần, loại rau thường xuyên tiêu thụ nhiều nhất là
cà chua, xà lách, dưa leo 2.66 ± 2.54 lần/tuần Giới hạn nghiên cứu là chỉ tính ra tần suất tiêu thụ thực phẩm ở số lần sử dụng không sử dụng khối lượng thực phẩm nên không tính năng lượng cũng như những chất sinh năng lượng và nghiên cứu không xét đến mối liên quan với đối tượng thai phụ có ĐTĐTK [34]
Năm 2016 nghiên cứu bệnh chứng tại BV đa khoa Hóc Môn trên 88 phụ nữ có ĐTĐTK và 186 PNMT không có ĐTĐTK Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ĐTĐTK
và thói quen ăn sáng PNMT có thói quen ăn sáng không đều có tỉ số số chênh ĐTĐTK bằng 1.93 lần so với PNMT có thói quen ăn sáng hàng ngày với p = 0.01 PNMT không có thói quen ăn sáng có tỉ số số chênh ĐTĐTK bằng 3.04 lần so với
Trang 35biệt có ý nghĩa thống kê của ĐTĐTK với thói quen ăn kiêng, ăn đều đặn ba bữa, ăn ngọt, ăn nhẹ, ăn ngoài, ăn da, ăn mỡ, thêm đường vào đồ uống (p > 0.05) Kết quả có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ĐTĐTK và thói quen uống trà với p = 0.02 Những thai phụ có thói quen uống trà có tỉ số số chênh ĐTĐTK bằng 0.54 lần so với thai phụ không có thói quen uống trà Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê của ĐTĐTK với thịt đỏ, cà phê, trứng, thực phẩm giàu đường, rau, nước trái cây, nước ngọt [35] Ưu điểm của nghiên cứu này chỉ ra được mối quan hệ giữa thói quen dinh dưỡng; các thực phẩm thịt đỏ, trứng, trà, cà phê, rau củ quả với bệnh lý ĐTĐTK
Sự khác nhau tại các nghiên cứu này so với các nghiên cứu khác do đặc điểm văn hóa
ẩm thực của từng vùng miền khác nhau
Cùng với nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng ở PNMT, việc tìm hiểu tỷ lệ ĐTĐTK tại các khu vực cũng như xác định mối liên quan giữa tăng cân thai kỳ với nguy cơ ĐTĐTK Một nghiên cứu đoàn hệ tại Hải Phòng năm 2015 trên 885 thai phụ tới khám thai tại BV phụ sản Hải Phòng có 331 thai phụ ĐTĐTK tương đương với 37.4% Nghiên cứu này cho thấy ở những thai phụ có BMI trước khi mang thai bình thường (18.5-22.9) nếu tăng 7 kg cân nặng trong hai quý đầu sẽ làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐTK lên 1,6 lần so với nhóm thai phụ tăng ít hơn 7 kg (KTC 95%: 1.44 -1.86; p>0.05) [36] Một nghiên cứu của Đỗ Thị Hoài Thương tại BV đa khoa tỉnh Hóc Môn năm 2016 trên 338 với tỷ lệ ĐTĐTK là 26.8%, tuy nhiên nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa tăng cân thai kỳ và ĐTĐTK [37] Một nghiên cứu khác cũng tại năm 2016 Hóc Môn trên 251 thai phụ, tuy nhiên chưa tìm thấy mối liên quan của tăng cân thai kỳ và ĐTĐTK [38] Điểm khác biệt không tìm mối liên quan của 2 nghiên cứu này là nghiên cứu cắt ngang cùng với việc chênh lệch giữa nhóm phụ nữ có ĐTĐTK với không có ĐTĐTK
Trang 36CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2021 - 4/2022
Địa điểm: Bệnh viện Từ Dũ
2.2 Cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu
𝑑2 × 𝑝(1 − 𝑝)
Trong đó:
n : cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
: xác suất sai lầm loại 1 với = 0,05 𝑍1−𝛼
2 = 1,96 d: sai số ước lượng (d = 0,05)
p: tỷ lệ ước lượng dân số mẫu
Trang 37Theo nghiên cứu tại BV Đa Khoa Thủ Đức năm 2018 có tỷ lệ ĐTĐTK theo tiêu chuẩn IADPSG là 30.3% nên p = 0.30 [40] Nên cỡ mẫu tối thiểu được lấy là: n=323
Do thời gian nghiên cứu trong tình hình dịch bệnh nên bị hạn chế về số lượng thai phụ đến khám thai đồng thời thai phụ ngại tiếp xúc trong thời điểm đó, vì thế để việc khảo sát hiệu quả hơn và tăng thêm độ tin cậy, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát lần 2 những thai phụ có bệnh lý ĐTĐTK để so sánh sự khác nhau của kết quả đường huyết sau ăn 2 giờ ở lần tái khám tiếp theo với kết quả sau ăn 2 giờ khi thực hiện xét nghiệm dung nạp đường sau can thiệp dinh dưỡng Vì vậy, cỡ mẫu tối thiểu sẽ giảm còn 150 mẫu
2.2.4 Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện
2.2.5 Tiêu chí chọn mẫu
2.2.5.1 Tiêu chí đưa vào
PNMT (dân tộc Kinh) từ 24-28 tuần đến khám thai tại BV Từ Dũ trong thời gian nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên cứu và thỏa các tiêu chuẩn sau:
Trên 18 tuổi
Đơn thai
Không có tiền sử đái tháo đường
Không có tiền sử ĐTĐTK ở những lần mang thai trước
Đã được làm nghiệm pháp dung nạp glucose ở tuần 24-28 lần mang thai này
Trang 382.2.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
Đối tượng được lựa chọn phải thỏa tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra Truy vấn lại thông tin bằng hồ sơ khám thai tại BV để tránh chọn sai đối tượng hoặc thiếu sót tiêu chí loại ra Đồng thời giải thích cho đối tượng mục đích và tầm quan trọng của cuộc điều tra, từ đó giúp đối tượng tự nguyện tham gia phỏng vấn
2.3 Thu thập dữ liệu
2.3.1 Phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi có cấu trúc soạn sẵn:
Phỏng vấn đối tượng PNMT (dân tộc Kinh) ở tuần 24-28 về đặc điểm dân số chung,
đo chỉ số nhân trắc
Điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm: sử dụng bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm
để hỏi về sử dụng một số thực phẩm theo số lần/ngày, số lần/tuần, số lần/tháng Thực phẩm được phân thành các nhóm chính: nhóm đồ uống, đồ ngọt, đậu hũ, rau, trái cây, các loại bánh mì - cơm - phở, thịt, hải sản, trứng, sữa [41]
Điều tra nhận thức về sức khỏe và dinh dưỡng khi mang thai bao gồm: các yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐTK (như: tiền sử gia đình, béo phì, tim mạch, tăng cân quá mức trong thai kỳ…), ăn bù sau quá trình ốm nghén, mức độ vận động khi mang thai
2.3.2 Cách đo chỉ số nhân trắc
Chiều cao: Người được cân đi chân không (bỏ giày dép), đứng thẳng, quay lưng vào thước đo sao cho 5 điểm: phía sau đầu, vai, mông, bắp chân, gót chân áp sát thước Mắt nhìn thẳng về phía trước, hai tay xuôi theo thân mình Dùng thước đo hoặc bảng
gỗ áp sát đỉnh đầu, vuông góc với thước đo Đọc chiều cao theo m và lấy sau ấu phẩy
2 đơn vị Ghi lại chiều cao vào phiếu
Cân nặng: được xác định bằng cân nặng trước khi mang thai Ghi cụ thể cách cân như trên chiều cao
Trang 392.3.3 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi điều tra thói quen dinh dưỡng soạn sẵn bao gồm:
Đặc điểm dân số chung: 4 câu (từ A1 – A4)
Các yếu tố sản khoa và bệnh lý: 7 câu (từ B1 – B7)
Thói quen ăn uống chung: 8 câu (từ C1 – C8)
Tần suất tiêu thụ các nhóm thực phẩm: 89 câu (từ C9 – C97), mô tả sử dụng thực phẩm theo số lần sử dụng trong ngày/tuần/tháng
Nhận thức về sức khỏe và dinh dưỡng khi mang thai: 7 câu (từ D1 – D7)
Bảng câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm được thu thập bằng bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu khảo sát về thói quen dinh dưỡng
và ĐTĐTK đã sử dụng bảng câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm để khảo sát thói quen tiêu thụ thực phẩm và chế độ ăn của những người phụ nữ ở tuổi thai 24-28 tuần [13], [16] Tính giá trị và độ tin cậy của tần suất tiêu thụ thực phẩm đã được xác nhận bởi các nghiên cứu thử nghiệm để đánh giá chế độ ăn uống theo thói quen phù hợp với đối tượng người Việt Nam Các nghiên cứu cho thấy rằng tần suất tiêu thụ thực phẩm
là một công cụ phù hợp để đánh giá chế độ ăn uống theo thói quen ở đối tượng người lớn [41], [42]
Dụng cụ hỗ trợ xác định thực phẩm: sử dụng các hình ảnh minh họa và một số mẫu vật đi kèm để minh họa cho đối tượng được hỏi dễ hình dung
2.3.4 Kiểm soát sai lệch thông tin
Sai lệch thông tin xảy ra do bộ câu hỏi gây khó hiểu cho người được phỏng vấn, câu hỏi mang tính gợi nhớ, tương tác giữa đối tượng được phỏng vấn, thai phụ không hiểu câu hỏi nhưng không hỏi lại phỏng vấn viên
Hướng khắc phục:
Trang 40Bộ câu hỏi được thiết kế đúng mục tiêu, từ ngữ rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu Đồng thời
sử dụng “Bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm” FFQ (Food frequency questionnaire) của FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations) trong “Dietary Assessment A resource guide to method selection and application in low resource settings”, năm 2018 [43], FFQ được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi gồm 7 nhóm thực phẩm phổ biến trong bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm (FFQ) ở Việt Nam đã được chuẩn hóa dành cho người lớn [41] và có điều chỉnh
số lượng thực phẩm là 89 thực phẩm, số lượng thực phẩm sẽ thay đổi dựa vào nghiên cứu thử bằng bộ câu hỏi tiêu thụ thực phẩm 24 giờ qua để biết các thực phẩm được
sử dụng phổ biến ở PNMT
Biến số được định nghĩa cụ thể, rõ ràng
Dùng hình ảnh để minh họa cho đối tượng nghiên cứu
Tạo tương tác với người được phỏng vấn giúp đối tượng có thể trao đổi những thắc mắc với người phỏngvấn
Phỏng vấn viên được tập huấn kĩ
2.4 Xử lí dữ liệu
Liệt kê và định nghĩa biến số:
2.4.1 Biến số đặc điểm dân số chung
Tuổi: là biến số thứ tự Tuổi mẹ là tuổi lấy tròn, tính bằng năm, bằng cách lấy năm
2022 trừ đi năm sinh của người mẹ (tính theo năm dương lịch), gồm các giá trị:
Nhóm 1: < 25 tuổi
Nhóm 2: từ 25 - 29 tuổi
Nhóm 3: từ 30 - 34 tuổi
Nhóm 4: >= 35 tuổi