1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô tại bệnh viện Việt Đức (1995 - 2002) doc

8 686 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 270,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Không giống với các u biểu mô của dạ dày, nhất là ung thư biểu mô dạ dày UTBMDD, các u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô UDDKBM còn chưa được hiểu biết đầy đủ, một mặt do t

Trang 1

Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u dạ dày

có nguồn gốc không từ biểu mô tại bệnh viện

Việt Đức (1995 - 2002)

Nguyễn Ngọc Hùng, Hà Văn Quyết

Bộ môn Ngoại, Trường Đại học Y Hà Nội

Từ 1995 đến 2002, tại bệnh viện Việt Đức đã có 62 bệnh nhân u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô

(UDDKBM) các loại được điều trị phẫu thuật: u lympho (21); u mô liên kết (41), bao gồm: u cơ trơn lành tính

(3), u cơ trơn ác tính (10), u tế bào Schwann lành tính (6), u tế bào Schwann ác tính (13), u stroma (6), u mỡ

ác tính (1), u ngoại mạc mạch ác tính (1), u xơ ác tính (1) Triệu chứng lâm sàng gặp nhiều nhất là đau trên rốn

(75,81%), có u trên rốn (58,06%), xuất huyết tiêu hóa (37,10%) Nội soi giúp phát hiện 84% các trường hợp

Có 6 trường hợp giải phẫu bệnh không rõ hướng biệt hóa của tế bào u, trong đó làm hoá mô miễn dịch

(HMMD) được 3 trường hợp, đều nghĩ đến u stroma Tuy có nhiều đặc điểm giống với ung thư biểu mô dạ dày

nhưng dựa vào sự kết hợp giữa lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh cũng có thể hướng tới chẩn đoán UDDKBM

trước mổ, một số trường hợp khó đòi hỏi phải xác định bằng HMMD Thời gian sống trung bình sau mổ và thời

gian sống thêm sau 5 năm của hai nhóm u lympho và u mô liên kết không có sự khác biệt; của UDDKBM nói

chung cao hơn so với UBMDD

I Đặt vấn đề

Không giống với các u biểu mô của dạ dày,

nhất là ung thư biểu mô dạ dày (UTBMDD), các u

dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô

(UDDKBM) còn chưa được hiểu biết đầy đủ, một

mặt do tính chất hiếm gặp, các nghiên cứu chỉ bao

gồm một số ít các trường hợp, mặt khác, các

UDDKBM lại có nhiều thể giải phẫu bệnh với

nhiều cách phân chia phức tạp, việc chẩn đoán xác

định u thuộc loại nào nhiều khi khó khăn ngay cả

trên vi thể, đòi hỏi phải có hóa mô miễn dịch

(HMMD)

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục

tiêu:

Tìm hiểu các đặc điểm về chẩn đoán, điều trị

và kết quả điều trị phẫu thuật các UDDKBM tại

bệnh viện Việt Đức từ 1995 đến 2002

II Tư liệu và phương pháp nghiên

cứu

Chúng tôi hồi cứu được 62 bệnh nhân đã được

phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức từ 1995 đến

2002, trong đó có 30 nam và 32 nữ, tuổi trung bình

là 54,84 ± 15,04 (từ 17 đến 79 tuổi) Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, các dữ liệu thu được trong mổ (kích thước, vị trí u, cách thức phẫu thuật), giải phẫu bệnh Số liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 11.5

III Kết quả

Bảng 1: Phân bố theo thể giải phẫu bệnh

U cơ trơn lành tính 3 4.84

U cơ trơn ác tính 10 16.13

U thần kinh lành tính 6 9.68

U thần kinh ác tính 13 20.97

Trang 2

Bảng 2: Kết quả nhuộm HMMD u không rõ hướng biệt hoá để xếp loại u stroma

Bảng 3: Liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và các thể giải phẫu bệnh

Lâm sàng

U lym

- pho

U cơ

trơn lành tính

U cơ

trơn

ác tính

U thần kinh lành tính

U thần kinh ác tính

U stro

- ma

U mỡ

ác tính

U mạch

ác tính

U xơ

ác tính Tổng

n 21 3 10 6 13 6 1 1 1 62 Xuất

huyết TH

7 3 2 5 2 2 0 1 1 23

Nuốt

nghẹn

2 1 1 4

Hẹp môn

vị

1 1 2

Rối loạn

TH

11 2 1 1 15

Bảng 4: Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đ∙ thực hiện và giá trị của mỗi phương pháp

Đã thực hiện Khả năng phát hiện có

tổn thương

Khả năng xác định tổn thương

của dạ dày Phương pháp

Trang 3

B¶ng 5: C¸c chÈn ®o¸n tr−íc mæ:

ChÈn ®o¸n

U lym - pho

U c¬

tr¬n lµnh tÝnh

U c¬

tr¬n

¸c tÝnh

U thÇn kinh lµnh tÝnh

U thÇn kinh

¸c tÝnh

U stro -

ma

U mì

¸c tÝnh

U m¹ch

¸c tÝnh

U x¬

¸c tÝnh

Tæng

¸p xe d−íi hoµnh

tr¸i

1 1

Nang gi¶ tuþ do¹

B¶ng 6: C¸c phÉu thuËt ®∙ thùc hiÖn:

PhÉu thuËt

U lym - pho

U c¬

tr¬n lµnh tÝnh

U c¬

tr¬n

¸c tÝnh

U thÇn kinh lµnh tÝnh

U thÇn kinh

¸c tÝnh

U stro -

ma

U x¬

¸c tÝnh

U

¸c tÝnh

U m¹ch

¸c tÝnh

Céng

C¾t toµn bé d¹ dµy më

réng

6 3 1 10

C¾t ®o¹n d¹ dµy më

réng

4 4

C¾t u, c¾t d¹ dµy

kh«ng ®iÓn h×nh

1 2 4 2 3 12

C¾t d¹ dµy kh«ng ®iÓn

h×nh më réng

1 1

Trang 4

Bảng 8: Kết quả điều trị phẫu thuật:

Khả năng sống thêm theo thời gian (%) Thời gian sống

trung bình

UDDKBM 58,33 73,22 65,32 56,08 52,34 52,34 UTBMDD 32 72 49 29 22 18

IV Bàn luận

Nhận xét chung: Nghiên cứu của chúng tôi

cho thấy:

62 trường hợp (9 lành tính và 53 ác tính), bao

gồm: u lympho (21); u mô liên kết (41), bao gồm:

u cơ trơn lành tính (3), u cơ trơn ác tính (10), u tế

bào Schwann lành tính (6), u tế bào Schwann ác

tính (13), u stroma (6), u mỡ ác tính (1), u ngoại

mạc mạch ác tính (1), u xơ ác tính (1); trong đó

các u tế bào không rõ hướng biệt hóa được xếp vào

nhóm u stroma và được chẩn đoán bằng hóa mô

miễn dịch (HMMD)

Về tuổi, giới: tuổi hay gặp nhất là 50 - 70,

không có sự khác biệt về giới nhưng trong nhóm u

lành, nữ gặp nhiều hơn nam, tỷ lệ nam/nữ là 1/3,5,

trong nhóm u lympho, nam mắc bệnh nhiều hơn

nữ, tỷ lệ nam/nữ là 2/1

U lympho nguyên phát không Hodgkin dạ

dày:

Dạ dày là nơi hay gặp u lympho nhất ở đường

tiêu hóa, u lympho dạ dày được coi là nguyên phát

khi tổn thương chỉ khu trú ở niêm mạc dạ dày là

chính, hệ thống hạch ngoại vi cũng như số lượng

bạch cầu trong máu bình thường Bệnh sinh của u

lympho dạ dày vẫn chưa được hiểu biết rõ ràng,

gần đây người ta đã chứng minh được vai trò gây

bệnh của H pylori nên phác đồ điều trị kháng sinh

trong u lympho dạ dày đã được áp dụng có hiệu

quả Việc phân loại u lympho nói chung rất phức

tạp và tùy tác giả Theo Issacson, mô lympho của

dạ dày ruột không giống hoàn toàn so với mô

lympho hạch mà thuộc nhóm mô lympho tại niêm

mạc (Mucosa Associated lymphoid Tissu, viết tắt

là MALT) Dựa trên quan niệm đó, năm 2001 Tổ

chức Y tế thế giới đã đưa ra phân loại u lympho dạ dày ruột như sau (dựa trên phân loại của Issacson): Các u lympho tế bào B:

- U lympho vùng rìa của MALT (Lymphomes B

de la zone marginale du MALT)

- U lympho B lan tỏa tế bào lớn (Lymphomes diffus à grandes cellules B)

- U các tế bào vùng vỏ bao (Lymphomes B des cellules du manteau)

- U lympho nang (Lymphome folliculaire)

- U lympho Burkitt Các u lympho T

- U lympho T týp ruột (Lymphomes de T type intestinal)

- Các u lympho T khác

Đại đa số các u lympho dạ dày thuộc 2 loại u lympho vùng rìa của MALT (có độ ác tính thấp) và

u lympho B lan tỏa tế bào lớn (có độ ác tính cao),

về tiến triển, u lympho được chia thành 4 giai đoạn theo Ann Arbor và Musshoff

Về lâm sàng, trong nghiên cứu của chúng tôi,

đau là triệu chứng hằng định, gặp 100% các trường hợp, theo đa số tác giả thì chủ yếu là đau vùng trên rốn, đôi khi chỉ là cảm giác tức nặng, hoặc nhiều khi đau giống như trong hội chứng loét dạ dày tá tràng điển hình Như vậy, triệu chứng đau không

đặc hiệu và không khác so với ung thư biểu mô dạ dày Sút cân cũng thường gặp: 71,6%, sờ thấy u 47,6% và xuất huyết tiêu hóa 33,33%, kết quả này của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Benhamou trên 38 trường hợp u lympho dạ dày

Về chẩn đoán hình ảnh, trong 21 trường hợp, có

26 trường hợp được chụp dạ dày, 19 soi dạ dày, 17 siêu âm, 1 chụp cắt lớp vi tính Trong nghiên cứu

Trang 5

của chúng tôi, hình ảnh trong chụp dạ dày của u

lympho cũng là những hình khuyết, hình thâm

nhiễm… giống ung thư dạ dày Tổn thương trong

soi dạ dày chủ yếu là sùi, loét lan tỏa (78,9%), còn

lại là thâm nhiễm cứng niêm mạc, điều này trùng

với nhận xét của Benhamou: không giống với chụp

dạ dày, và cũng không giống với ung thư dạ dày,

thường chỉ thấy một tổn thương duy nhất, tổn

thương trên nội soi thường rất gợi ý bởi sự lan tỏa

theo bề rộng của 1 tổn thương hoặc có sự phối hợp

giữa các tổn thương loét, loét sùi, nổi u cục, dày

niêm mạc (60,6%), tổn thương đơn độc chỉ gặp

trong 39,4% các trường hợp Việc chẩn đoán xác

định u lympho trước mổ không phải dễ dàng vì

phải dựa vào kết quả sinh thiết qua nội soi mà kết

quả này lại thường âm tính với phương pháp sinh

thiết thông thường, trong nghiên cứu của chúng

tôi, chẩn đoán u lympho chỉ được khẳng định khi

phân tích bệnh phẩm phẫu thuật chiếm tới 90,5%

các trường hợp, chỉ có 2 trường hợp kết quả sinh

thiết qua nội soi là u lympho nên chẩn đoán được

trước mổ Về nhận xét trong mổ, cũng giống như

kết quả nội soi, hay gặp nhất là tổn thương lan

rộng, bờ gồ nham nhở, thành dạ dày dày lên kiểu

thâm nhiễm cứng, niêm mạc thô, xù xì hoặc mất

nếp nhăn, bề mặt niêm mạc có nhiều ổ loét loang

lổ hình bản đồ hoặc niêm mạc dạ dày dày lên từng

mảng rải rác như vết loang; về vị trí u, giữa các vị

trí tâm phình vị, thân vị và hang vị hay các bờ cong

không có sự khác biệt Chúng tôi gặp 6 trường hợp

u thâm nhiễm các tạng xung quanh, 10 trường hợp

di căn hạch, 1 trường hợp di căn phúc mạc và 3

trường hợp di căn gan Tỷ lệ cắt được u là 100%,

10 bệnh nhân được mổ cắt toàn bộ dạ dày (trong

đó có 6 cắt dạ dày mở rộng), 11 trường hợp cắt

đoạn dạ dày Tuy là loại u nhạy cảm với hóa chất,

nhưng phẫu thuật vẫn giữ một vai trò quan trọng

trong điều trị u lympho dạ dày:

- Khẳng định chẩn đoán và định týp mô bệnh

học, từ đó có phác đồ điều trị ngoài phẫu thuật

thích hợp

- Thăm khám toàn diện ổ bụng, xác định các

giai đoạn II theo Musshof

- Loại bỏ hoàn toàn hoặc một phần khối u nhanh chóng, tạo điều kiện cho điều trị ngoài phẫu thuật đạt hiệu quả cao nhất

- Dự phòng biến chứng thủng, chảy máu sau tia xạ, hóa chất

Dựa theo phân loại mới của Tổ chức Y tế thế giới, có phác đồ điều trị như sau:

Với u lympho vùng rìa của MALT, chỉ định đầu tiên là diệt trừ H pylori nhất là với giai đoạn IE, sau 6 - 18 tháng điều trị, nếu bệnh vẫn tiến triển, cũng như trong trường hợp u lympho dạ dày mà H pylory ( - ), cần lựa chọn phương thức điều trị tại chỗ: tia xạ hoặc cắt dạ dày hoặc hóa chất, tuy nhiên cho đến nay, chưa đủ cơ sở để áp dụng điều trị hóa chất với u lympho độ ác tính thấp, nhất là ở dạ dày - trừ khi đã có di căn

Với u lympho lan tỏa tế bào B kích thước lớn, độ

ác tính cao: hóa trị liệu là phương pháp được lựa chọn Trong trường hợp u rải rác hoặc lan rộng, phẫu thuật chưa được xét đến mà cần điều trị hóa chất ngay, nếu còn sót tổn thương thì có thể cắt sau hoặc tia xạ Phẫu thuật là bắt buộc khi u có biến chứng

U mô liên kết dạ dày:

Phân loại u mô LK DD theo Bedossa và Martin:

Nguồn gốc u Lành tính ác tính A) Mô liên kết biệt hoá

Tổ chức mạch U bạch mạch

U mạch máu

U cuộn mạch

U cơ mạch

U tế bào ngoại mạc mạch

Mô mỡ U mỡ Sarcom mỡ

Mô liên kết chung U xơ Sarcom xơ

Cơ trơn U cơ trơn Sarcom cơ trơn Mô thần kinh U tế bào schwann

Sarcom TB schwann

U sợi thần kinh

U TB hạt

U cận hạch

Trang 6

U hạch thần kinh

B) Mô liên kết không biệt hoá hay u stroma,

có khả năng ác tính cao

U tế bào hình thoi

U tế bào hình tròn

U hỗn hợp tế bào C) U giả Polyp viêm xơ

U tế bào hạt ái toan

Trong đó hay gặp u cơ trơn, u tế bào Schwann

và u stroma Trước đây, thuật ngữ u stroma được

hiểu nhầm là u có nguồn gốc cơ trơn, tuy nhiên u

stroma là những u không có hướng biệt hóa (cơ

hoặc thần kinh) rõ ràng, có khả năng ác tính rất

cao U stroma hiếm gặp, hay gặp nhất là ở dạ dày

(50 - 70%) và ruột non (20 - 30%), ở dạ dày u

stroma chỉ chiếm 1 - 3% các loại u Người ta đã

tìm thấy nguyên nhân sinh bệnh của u stroma là do

đột biến gen c - kit của tế bào Cajal (tế bào đóng

vai trò điều hòa vận động, tồn tại dưới nhiều dạng

suốt dọc ống tiêu hóa) Việc chẩn đoán xác định u

stroma dựa vào vi thể và phản ứng HMMD:

CD34+, CD117+ (c - kit) Chúng tôi có 6 trường

hợp nghi ngờ u stroma, hồi cứu lại bằng HMMD

được 3 trường hợp, kết quả đều nghĩ đến u stroma

(bảng 2)

U tế bào Schwann cũng là loại u hiếm gặp,

thường gặp nhất là ở chi dưới, sau đó là cổ, sọ não,

ngực và cột sống; ở đường tiêu hóa hiếm gặp, trong

đó dạ dày là nơi có nhiều nhất, chúng tôi gặp 19/62

trường hợp UDDKBM trong đó có 13 trường hợp

ác tính Ngược lại, u cơ trơn là loại u có thể gặp ở

nhiều nơi nhất trên cơ thể, có thể chia làm 3 khu

vực chính: cơ quan sinh dục nữ, ống tiêu hóa và

các mô mềm Trong đó tử cung là nơi gặp nhiều u

cơ trơn nhất, sau đó đến ống tiêu hóa, tại đây dạ

dày và ruột non là nơi gặp nhiều u cơ trơn nhất,

chúng tôi gặp 13 trường hợp (10 trường hợp ác

tính) Như vậy, không giống với nhiều tác giả

khác, chúng tôi gặp nhiều u mô liên kết ác tính

hơn lành tính

Về vị trí, trong nghiên cứu của chúng tôi, khả năng gặp u mô liên kết giảm mạnh từ tâm phình vị

đến hang môn vị và hai bờ cong, trong đó u tâm phình vị và thân vị chiếm tới 66,66%

Nhận xét về hình ảnh đại thể, chúng tôi thấy có

sự khác biệt giữa u mô liên kết với u lympho và cả ung thư biểu mô tuyến: u mô liên kết thường là những u có vỏ trắng ngà, bóng, nếu u lớn thường

vỏ mỏng, loang lổ tím do thiếu máu U gồ ghề, nổi cục tạo thành nhiều thùy, múi, mật độ mềm hoặc chắc, cắt qua có màu trắng đục như tổ chức não, trong u có hốc chứa dịch hoại tử nhiều khi rất lớn tạo thành nang, cho những hình ảnh tương ứng trên siêu âm và chụp cắt lớp U ở trong hoặc ngoài lòng dạ dày hoặc vừa trong vừa ngoài thành hai khối như hình đồng hồ cát

Về lâm sàng, chúng tôi không thấy có sự khác biệt giữa các thể giải phẫu bệnh Theo đa số tác giả, đau trên rốn và xuất huyết tiêu hóa là các triệu chứng chủ đạo, chiếm trên một nửa số trường hợp, khám thấy khối u chỉ gặp 10% các trường hợp Còn trong nghiên cứu của chúng tôi, đau trên rốn

và sờ thấy u là hai triệu chứng chính của UDDKBM ác tính, đều gặp 21/32 trường hợp (65,6%), xuất huyết tiêu hóa gặp 8/23 trường hợp (34,78%) Trong nhóm u lành tính, triệu chứng nổi bật là xuất huyết tiêu hóa gặp trong 8/9 trường hợp (88,89%) và đau trên rốn 5/9 trường hợp (55,55%),

sờ thấy khối u cũng có 5 trường hợp, triệu chứng toàn thân hầu như không có, chỉ có 1 trường hợp bị sút cân

Về chẩn đoán hình ảnh, trên phim chụp dạ dày, hay gặp nhất là hình ảnh dạ dày bị đè đẩy (57,14%), hình khuyết tròn đều (23,8%) (khác hình khuyết nham nhở của u lymhpo và ung thư biểu mô tuyến), không thấy tổn thương 14,2% do u phát triển ngoài lòng dạ dày; nội soi phát hiện

được tổn thương 90,32% các trường hợp, với các hình ảnh: u lồi vào lòng dạ dày, khối đè đẩy từ ngoài vào lòng dạ dày, phần niêm mạc tương ứng

có thể tổn thương (loét, hoại tử, chảy máu) hoặc bình thường, một số trường hợp cũng không phát hiện được tổn thương như trong chụp dạ dày Siêu

Trang 7

âm và chụp cắt lớp cũng có thể phát hiện u mô liên

kết nhất là khi u lớn, tuy nhiên điểm hạn chế là

nhiều khi khó xác định u đó thuộc dạ dày hay tạng

khác mà phải dựa thêm vào lâm sàng, nội soi… để

xác định Đặc điểm của u mô liên kết trên phim

chụp cắt lớp là u có ranh giới rõ, có vỏ, bờ không

đều, có thể có nhiều thùy, tỷ trọng không đều,

trung tâm hoại tử làm cho u có khi có dạng nang

giả, u càng lớn hoại tử càng rõ, u tăng tỷ trọng

không đều khi tiêm thuốc cản quang Trong trường

hợp không xác định được u của dạ dày hay tạng

khác: lâm sàng không có triệu chứng của đường

tiêu hóa, nội soi có khối đè đẩy dạ dày nhưng niêm

mạc dạ dày bình thường… thì siêu âm nội soi rất

có giá trị vì giúp phân biệt được u dưới niêm mạc

dạ dày hay u tạng khác chèn ép vào dạ dày, xác

định được u xuất phát từ lớp nào của dạ dày, tính

xâm lấn, hạch… Trong nghiên cứu của Barrier,

siêu âm nội soi giúp xác định được tổn thương dạ

dày trong 96,9% trường hợp

Về điều trị, chỉ định mổ không có gì bàn cãi

Trường hợp u lành tính, có thể cắt u hoặc cắt dạ

dày không điển hình Nếu nghi ngờ ác tính cần cắt

đoạn hay cắt toàn bộ dạ dày (có thể cắt mở rộng)

tùy theo mức độ tổn thương, nếu u chỉ dính với dạ

dày trên một diện nhỏ, có thể cắt u hoặc cắt dạ dày

không điển hình nhưng cần theo dõi chặt chẽ sau

mổ Như vậy, thái độ phẫu thuật phụ thuộc vào bản

chất lành hay ác của khối u, do đó vai trò của sinh

thiết tức thì rất quan trọng, ngay cả trong trường

hợp lành tính, sau mổ cũng phải theo dõi sát bệnh

nhân vì đã có những trường hợp tái phát ác tính

được thông báo

Tính hiệu quả của điều trị hóa chất, tia xạ đối

với các loại u mô liên kết dạ dày chưa được chứng

minh Với u stroma, gần đây có nghiên cứu áp

dụng thuốc STI 5H nhằm vào hoạt tính tyrosine

kynase của c - kit cho kết quả tốt, tuy nhiên vẫn

còn đang trong giai đoạn thử nghiệm

Kết quả điều trị phẫu thuật u dạ dày không

biểu mô:

Không có tử vong sau mổ Tỷ lệ có tin tức là 79%, tất cả bệnh nhân u lành đều còn sống Thời gian sống trung bình là 58,33 tháng, khả năng sống thêm sau 5 năm là 52,34%, tương tự với nhóm u lympho là 49,6 tháng và 43,68% (có 3 bệnh nhân

được điều trị hóa chất), với nhóm u mô liên kết là 48,48 tháng và 43,14%, so với ung thư biểu mô tuyến theo Đỗ Đức Vân và Trịnh Hồng Sơn là 32

tháng và 18%

V Kết luận

Về chẩn đoán:

Cần nghĩ đến u lympho khi lâm sàng giống UTBMDD nhưng nội soi cho hình ảnh đặc biệt: tổn thương lan tỏa theo bề rộng của 1 tổn thương hoặc có sự phối hợp giữa các tổn thương loét, loét sùi, nổi u cục, dày niêm mạc

Cần nghĩ đến u mô liên kết khi sờ thấy u bụng,

có xuất huyết tiêu hóa; chụp dạ dày, soi có khối đè

đẩy vào dạ dày siêu âm, chụp cắt lớp: u có vỏ, trung tâm hoại tử…, khi nghi ngờ: siêu âm nội soi

có thể xác định

Về điều trị: cho đến nay ở Việt Nam phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị cơ bản với UDDKBM, sau mổ cần xem xét điều trị hóa chất

Kết quả: Thời gian sống trung bình sau mổ và thời gian sống thêm 5 năm sau mổ của u lympho

và u mô liên kết không khác biệt, của UDDKBM cao hơn UTBMDD (theo số liệu tại Bệnh viện Việt

Đức)

Tài liệu tham khảo

1 Trịnh Hồng Sơn (2001), "Nghiên cứu nạo

vét hạch trong điều trị ung thư dạ dày", Luận án tiến sĩ Y học

2 Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Phúc Cương,

Đỗ Đức Vân (1998), “Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng

và giải phẫu bệnh, các phương pháp điều trị ung thư dạ dày không thuộc ung thư biểu mô tuyến”, Y học thực hành, 4, 43 - 46

3 Đỗ Đức Vân (1993), “Điều trị phẫu thuật

ung thư dạ dày tại bệnh viện Việt Đức” (1970 - 1992), Y học Việt Nam, 7, 45 - 50

Trang 8

4 Christopher D M Fletcher et al (2002),

“Diagnosis of Gastrointestinal Stromal Tumours: A

Consensus Approach”, International Journal of

Surgical Pathology, 10 (2), 81 - 89

5 Dongil Choi et al (2002), “Gastric

Mucosa - Associated Lymphoid Tissue

Lymphoma: Helical CT Findings and Pathologic

Correlation”, American Journal of Roentgenology,

178, 1117 - 1122

6 AndrÐ J Balaton (2001), “Tumeurs

stromales digestives”, Gastroenterol Clin Biol, 25,

473 - 482

7 Barrier A et coll (1999), “Tumeurs

gastriques conjonctives RÐsultats d'une Ðtude

multicentrique”, Chirurgie, 124, 494 - 502

8 Benhamou G,, Poujade - Lauraine B,

Charleux H (1979), “Le lymphome malin non

hodgkinien gastrique primitif, µ propos de 38 observation nouvelles”, J Chir (Paris), 116, n 11,

627 - 632

9 Issacson - Slove A, Brousse N (2000),

“Classification pratique des lymphomes primitifs

du tube digestif”, La lettre de l'HÐpato - GastroentÐrologue, n2, vol 3, 74 - 78

10 Thierry Molina, Jacque Diebold, JosÐe Audouin (2002), “Classification des lymphomes”,

La revue du praticien, 52, 951 - 958

Summary

Diagnosis and surgical treatment of non epithelal gastric

tumours in Viet Duc hospital (1995 - 2002)

From 1995 to 2002, 62 patients were operated on for lymphomas (21), conjunctive tumours (41): leiomyomas (3), leiomyosarcomas (10), benign schwann cell tumours (6), malignant schwann cell tumours (13), stromal tumours (6), liposarcoma (1), malignant pericytoma (1), fibrosarcoma (1) the most frequently symptoms were epigastric pain (75,81%), epigastric mass (58,06%), gastrointestinal bleeding (37,10%) Endoscopy was the most sensitive examination (84%) In 6 patients, the results of anapathology were indifferent cell tumours, and it was classified stromal tumours and 3 of them were identified by immunohistochemical in 3 cases Despite of unspecified symptoms, diagnosis of non epithelial tumours is possible, base on combination with endoscopy and CT In difficult cases, immunohistochemical is needed The mean survival and the 5 - years survival of lymphomas (without chimiotherapy) and conjunctive tumours are not different, of non epithelial tumours seems longer than gastric adenocarcinomas

Ngày đăng: 20/03/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bố theo thể giải phẫu bệnh - Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô tại bệnh viện Việt Đức (1995 - 2002) doc
Bảng 1 Phân bố theo thể giải phẫu bệnh (Trang 1)
Bảng 4: Các ph−ơng pháp chẩn đoán hình ảnh đ∙ thực hiện và giá trị của mỗi ph−ơng pháp - Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô tại bệnh viện Việt Đức (1995 - 2002) doc
Bảng 4 Các ph−ơng pháp chẩn đoán hình ảnh đ∙ thực hiện và giá trị của mỗi ph−ơng pháp (Trang 2)
Bảng 3: Liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và các thể giải phẫu bệnh - Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô tại bệnh viện Việt Đức (1995 - 2002) doc
Bảng 3 Liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và các thể giải phẫu bệnh (Trang 2)
Bảng 5: Các chẩn đoán tr−ớc mổ: - Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô tại bệnh viện Việt Đức (1995 - 2002) doc
Bảng 5 Các chẩn đoán tr−ớc mổ: (Trang 3)
Bảng 8: Kết quả điều trị phẫu thuật: - Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u dạ dày có nguồn gốc không từ biểu mô tại bệnh viện Việt Đức (1995 - 2002) doc
Bảng 8 Kết quả điều trị phẫu thuật: (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w