Nghiên cứu lâm sàng và cận lâm sàng của ngộ độc thực phẩm do hoá chất gây co giật tại Trung tâm Chống độc bệnh viện Bạch Mai Nguyễn Thị Dụ Bộ môn Hồi sức cấp cứu Chống độc Mục đích: nh
Trang 1Nghiên cứu lâm sàng và cận lâm sàng
của ngộ độc thực phẩm do hoá chất gây co giật tại Trung tâm Chống độc bệnh viện Bạch Mai
Nguyễn Thị Dụ
Bộ môn Hồi sức cấp cứu Chống độc
Mục đích: nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của NĐTP do hoá chất gây co giật
Đối tượng nghiên cứu: tất cả các BN được chẩn đoán NĐTP do hoá chất gây co giật được điều trị tại khoa
Chống độc, bệnh viện Bạch Mai từ 9/2001 đến 9/2002
Phương pháp: mô tả cắt ngang
Kết quả: 38 BN được lựa chọn 86,3% các trường hợp xảy ra ngộ độc ở nông thôn Lý do ngộ độc đa dạng,
phức tạp Thời gian ủ bệnh: 81,6% trường hợp chỉ trong vòng 1 giờ sau ăn Tỷ lệ tử vong tính chung 17,1%, chủ yếu bệnh nhân tử vong tại gia đình, trên đường đến các bệnh viện Triệu chứng lâm sàng cấp tính, rầm rộ, nặng nề, đa dạng, nổi bật với triệu chứng thần kinh, co giật toàn thân là nguyên nhân chủ yếu của co giật Dấu hiệu bất thường trên điện não thường tồn tại trong 2 tuần đầu nhưng có thể kéo dài nhiều tháng sau ngộ độc Xét nghiệm: chủ yếu phản ánh hậu quả của co giật (suy hô hấp, tiêu cơ vân, ), xét nghiệm độc chất xác định nguyên nhân gặp rất nhiều khó khăn
Kết luận: NĐTP do hoá chất gây co giật diễn biến nhanh chóng, nặng nề, biểu hiện ở nhiều cơ quan, đặc
biệt là thần kinh Tỷ lệ tử vong cao Co giật là nguyên nhân chính gây tử vong Vấn đề xét nghiệm độc chất gặp rất nhiều khó khăn
i Đặt vấn đề
Ngộ độc thực phẩm (NĐTP) có thể do (1) vi
sinh vật và các sản phẩm của vi sinh vật, (2) các
hoá chất có trong thực phẩm do tình cờ hoặc có
chủ ý và (3) do các chất độc có sẵn trong thực
phẩm (thực phẩm có độc) [5]
NĐTP do hoá chất gây co giật đã và đang là
một vấn đề nhức nhối vì tính chất nguy hiểm của
co giật dễ dàng gây tử vong nhanh chóng cho
nhiều người cùng lúc Hơn nữa với tính chất phức
tạp trong lý do ngộ độc, khó khăn trong chẩn đoán
loại hoá chất gây ra và cấp cứu ban đầu đã khiến
nhiều trường hợp ngộ độc mang tính chất huyền bí
và gây hoang mang trong nhân dân [1]
Đã có nhiều con số thống kê chung về tình hình
ngộ độc thực phẩm trong nước nhưng ít có tài liệu
nào đề cập cụ thể về lâm sàng, đặc biệt về NĐTP
do hoá chất gây co giật, do đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này nhằm:
Nhận xét về lâm sàng, cận lâm sàng của NĐTP
do hoá chất gây co giật
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
Hai người trở lên cùng có biểu hiện tương tự nhau sau khi cùng ăn, uống cùng một loại thực phẩm nghi ngờ, người không ăn thì không bị bệnh,
đã loại trừ các nguyên nhân không phải ngộ độc gây co giật
Khi xét nghiệm thấy loại hoá chất gây co giật trong cơ thể hoặc từ chất tiết, chất nôn, thức ăn của bệnh nhân (BN) cùng với các bệnh cảnh lâm sàng, cận lâm sàng phù hợp với tác nhân đó
2 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Chống độc bệnh viện Bạch Mai (nay là Trung tâm Chống độc) trong thời gian từ tháng 9/2001 đến tháng 9/2002
Trang 2Phương pháp nghiên cứu: quan sát mô tả, tiến
cứu
3 Tiến hành nghiên cứu:
BN được khám, đánh giá, xét nghiệm theo mẫu
bệnh án thống nhất, được thiết kế trước
Xét nghiệm độc chất:
Phương pháp sắc ký lớp mỏng tiến hành tại
phòng xét nghiệm độc chất của khoa Chống độc
định tính các chất độc như: phospho hữu cơ, clo
hữu cơ, carbamate, strychnin,…
Phương pháp sắc ký khí (máy GS - 17A,
Shimazu) và quang phổ khối (máy GSMS - QP
5050, Shimazu) được tiến hành tại phòng xét
nghiệm của viện Dinh dưỡng, cục QLCLVSATTP
(cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm)
Xử lý số liệu: theo phương pháp thống kê y học
III Kết quả
Từ tháng 9/2001 đến tháng 9/2002 có 516 BN
NĐTP được vào điều trị tại khoa Chống độc -
bệnh viện Bạch Mai, trong đó 38 BN thoả mãn các tiêu chuẩn nghiên cứu Kết quả thu được như sau:
1 Đặc điểm chung:
Tuổi BN: 27,54 ± 16,91 tuổi, thấp nhất 1,1 tuổi, cao nhất 65 tuổi
Thời gian xảy ra ngộ độc trong năm: Mùa xuân
15 BN (39,5%), đông 13 BN (34,2%), hè 6 BN (15,8%), thu 4 BN (10,5%)
Yếu tố địa dư: nông thôn 29 BN (86,3%), thành thị 9 BN (23,7%)
Lý do bị ngộ độc: tình cờ 11 BN (28,9%), do
BN 6 BN (15,8%), bị đầu độc 4 BN (10,5%) và không rõ 17 BN (44,7%)
Loại thực phẩm nghi ngờ: thực phẩm nguồn gốc ngũ cốc 14 BN (36,8%), rau quả 13 BN (34,2%), bánh kẹo 4 BN (10,5%), thực phẩm nguồn gốc
động vật 3 BN (7,9%) và một số loại thực phẩm khác
Bảng 1 Thời gian ủ bệnh:
Triệu chứng đầu tiên: đau bụng, nôn 8 BN (21,0%), triệu chứng thần kinh (đau đầu, choáng váng, hoa
mắt, co giật,…) 30 BN (79,0%)
Mức độ ngộ độc, theo thang điểm mức độ nặng ngộ độc (PSS) [6]: nhẹ: 6 BN (15,8%), trung bình:
19BN (50,0%), nặng 12 BN (31,6%), chết 1 BN (2,6%)
Thời gian nằm viện 6,08 ± 6,24 ngày, ngắn nhất 0,15 ngày, dài nhất 26 ngày
Bảng 2 Tình hình BN ngộ độc chất độc gây co giật
BN liên quan không tới khoa
Chống độc (1)
BN tại khoa Chống độc
Gia
đình
Tuyến trước
Trên đường tới bệnh viện
Khoa Chống
độc
(1): số liệu qua hỏi bệnh và đi về các gia đình BN tìm hiểu thêm, bao gồm các BN nhẹ hơn không đến
khoa Chống độc hoặc tử vong trước khi đến các bệnh viện
Trang 3Tỷ lệ tử vong tính chung 17,1%
2 Triệu chứng các cơ quan:
2.1 Tiêu hoá:
- Triệu chứng tiêu hoá nổi bật: tất cả 28 BN (73,68%) có triệu chứng tiêu hoá đều là triệu chứng tiêu
hoá trên, phản ánh chất độc có sẵn, tác dụng rất nhanh
+ Gọi là triệu chứng tiêu hoá trên: khi nôn xuất hiện trước hoặc nổi bật Triệu chứng tiêu hoá dưới khi
ỉa chảy xuất hiện trước khi nôn hoặc nặng nề [4]
2.2 Thần kinh:
Bảng 3 Triệu chứng co giật
Thời gian co giật: co giật trước khi tới viện hoặc trong ngày đầu nhập viện: 25/29 (86,2%) BN, trong vòng 3 ngày: 1/29 (3,4%) BN, trong 6 ngày: 1/29 (3,4%) BN, trong 30 ngày: 2/29 (6,9%)
Điện n∙o đồ:
27/27 trường hợp được làm điện não đồ có hình ảnh kích thích lan toả
0 2 4 6 8 10 12
Số
BN
1 - 7 8 - 14 15 - 30 30 - 60 > 60 Ngày
ồ
Theo dõi điện não đồ ở BN NĐTP do hoá chất
gây co giật cho thấy ở phần lớn các BN, dấu hiệu
bất thường trên điện não thường tồn tại trong vòng
2 tuần đầu sau khi bị ngộ độc
- Các triệu chứng khác:
+ Tri giác: điểm Glasgow 13 - 15 đ: 27 BN, 8
- 12 đ: 5 BN, 3 - 8 đ: 6 BN
+ Soi đáy mắt: (ở 8 bệnh nhân có dấu hiệu đau
đầu nhiều), 3 BN biểu hiện bất thường:
* 2 BN có hình ảnh động mạch võng mạc co
nhỏ (huyết áp bình thường)
* 1 BN có hình ảnh tĩnh mạch võng mạc cương
tụ giãn và trên phim CT sọ não có hình ảnh phù não lan toả, BN này đau đầu kéo dài tới khi ra viện vẫn còn (ngày thứ 12)
+ Dấu hiệu Chvostek: dương tính 2/38 BN
+ Các triệu chứng thần kinh khác (liệt, rối loạn cảm giác, ): không có
2.3 Triệu chứng tuần hoàn:
- Huyết áp: 1 BN nam 64 tuổi có huyết áp 180/100 mmHg, BN này có tiền sử tăng huyết áp, các BN còn lại có huyết áp bình thường
- Nhịp tim:
Trang 4Bảng 4 Triệu chứng nhịp tim
Nhịp tim Bình thường Nhanh xoang Chậm xoang Thay đổi ST, T QT dài Rung thất LN khác Tổng
áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP): Trong 6 BN
được đặt catheter tĩnh mạch trung tâm có: 2 BN có
CVP 1 - 3 cmH20, các BN còn lại CVP bình thường
Triệu chứng hô hấp:
Suy hô hấp cấp khi tới viện: 8/38 BN (21,1%), 4
BN ở mức độ nặng, không có BN nào ở mức độ
nguy kịch
Rối loạn toan, kiềm: 10 BN được xét nghiệm
khí máu động mạch, 8 BN biểu hiện bất thường:
+ Kiềm hô hấp: 2 BN 14 tháng tuổi và 6 tuổi có
sốt 39 - 40°C và nhịp thở 30 - 40 lần/phút
+ Toan chuyển hoá: 6 BN, với pH thấp nhất là
7,263, HCO3 - thấp nhất là 13,6 mEq/l Tất cả đều có
tăng khoảng trống anion, giá trị tăng cao nhất là 26,4
Tiết niệu:
Lượng nước tiểu 24 giờ: không có BN nào đái ít
hoặc vô niệu
1 BN có tăng Creatinin máu 157mmol/l, ure
xét nghiệm nước tiểu có protein 1g/l, hồng cầu 200HC/àl
Tâm thần:
7/38 BN có biểu hiện rối loạn tâm thần
Biểu hiện: Dễ kích thích 6 BN, sững sờ 5 BN, mất ngủ 4 BN, mất trí nhớ 3 BN, kích động ngôn ngữ 3 BN, mất định hướng không gian thời gian 1
BN, ảo giác 1 BN, hoang tưởng bị hại 1 BN, hoảng
sợ 1 BN Thời gian xuất hiện: 2 - 5 ngày sau khi bắt đầu
bị ngộ độc
Thời gian tồn tại: 2 - 24 ngày
3 Cận lâm sàng:
Bảng 5 Kết quả xét nghiệm
Tăng Giảm
n
Ion 0.86
29
• Đơn vị: Na+, K+, Cl - , Ca2+: mmol/l
• CK, GOT, GPT, ChE: U/l - 37°C
Trang 5B¶ng 6 C¸c ho¸ chÊt ®−îc xÐt nghiÖm thÊy
d−¬ng tÝnh
Thùc phÈm nghi ngê
1 Cyanoacetamide (C3H4N2O) Canh c¶i b¾p 1 Canh c¶i b¾p
3 2 - Pyrrolidinone,1 - methyl - 5 - (3 - pyridinyl)
(Cotinine, C10H12N2O)
(C12H22Cl2O2)
Mú nÊu th×a lµ, thÞt
thÞt
6 Acetamide, N - methyl - N - 4 - 4 - methoxy - 1 -
hexahydropyridyl - 2 - butynyl (C13H22N2O2)
R−îu 3 R−îu
7 2 - Methoxy - 13C - 3 - methylpyrazine
(C5 13CH8N2O)
8 2 - isopropylthio - 5 - trifluoracetyl - 1,3 -
oxathiolyum - 4 - olat (C8H7F3O3S2)
9 2 - Hydroxy - 4,6 - Bis (ethylamino) -
S - triazine (C7H13N5O)
10 1,3,5 - Triazine - 2,4 - diamine, 6 - chloro
- N - ethyl - (C5H8ClN5)
11 2,3 - Bezopyrrole (C8H7N) N−íc tiÓu 1 D−a chuét
12 5 - (P - Tolylsulphonyl)dihydro
- 1,3,5 - dioxazine (C10H13NO4S)
13 N - isopropyl octadec - 9 - enamide (C21H41NO)
15 Phenol (C6H6O)
P - Cresol (C7H8O)
2,3 - Benzopyrrole (C8H7N)
G¹o
G¹o
16 6 - Nitro - cyclohexadecane - 1,3 - dione
(C16H27NO4)
G¹o 1 G¹o
17 Butanamide,3 - methyl (C5H11NO) N−íc tiÓu 1 MÝa
cµ chua, trøng r¸n
cµ chua, trøng r¸n
Trang 6IV Bàn Luận
1 Lâm sàng:
Đặc điểm thường xảy ra ở nông thôn (86,3%),
xảy ra vào mùa khô (mùa xuân 39,5%, mùa đông
34,2%) và loại thực phẩm phần lớn là ngũ cốc
36,8%, rau quả (34,2%) cho thấy rất có thể nguyên
nhân chủ yếu liên quan đến các hoá chất bảo vệ
thực vật sử dụng trong nông nghiệp, đặc biệt là các
thuốc diệt chuột
Lý do ngộ độc rất đa dạng, nhiều trường hợp
không rõ lý do, do tình cờ, có thể đầu độc bằng
cách tẩm thuốc diệt chuột trong thực phẩm như ô
mai Nhiều trường hợp do bản thân BN, ví dụ đánh
bả chuột (bằng thuốc diệt chuột Trung Quốc) ngay
tại nơi để thức ăn dẫn tới ô nhiễm bả chuột vào
thức ăn, hoặc để thuốc diệt chuột Trung Quốc
trong bếp, nhầm lẫn với bột gia vị cho vào nồi canh
gây ngộ độc,…
Đặc điểm chung trên lâm sàng: từ thời gian ủ
bệnh, triệu chứng đầu tiên, diễn biến lâm sàng,
chúng ta thấy khác nhiều so với NĐTP do nguyên
nhân vi sinh vật, NĐTP do hoá chất gây co giật
không phải là các trường hợp đau bụng, nôn, ỉa
chảy thông thường mà biểu hiện khởi đầu rất
nhanh và diễn biến rầm rộ, nặng nề với các triệu
chứng không chỉ ở cơ quan tiêu hoá, nổi bật là
triệu chứng thần kinh vì đây là các chất độc thần
kinh sau đó là tim mạch và các cơ quan khác Điều
này càng thể hiện rõ khi thời gian nằm viện 6,08 ±
6,24 ngày, tối đa 26 ngày, chỉ có 15,8% các BN
ngộ độc nhẹ, còn lại ngộ độc mức độ trung bình,
nặng hoặc tử vong
Về đặc điểm các triệu chứng: ngộ độc biểu hiện
cấp tính với các triệu chứng ở nhiều cơ quan Nổi
bật là triệu chứng co giật với tính chất co giật toàn
thân, thậm chí là trạng thái động kinh, mang đặc
điểm co giật do ngộ độc cả trên lâm sàng và điện
não đồ [7] Co giật gây suy hô hấp, là nguyên nhân
chính gây tử vong nhanh chóng ở các BN, bên
cạnh đó có thể gây ra các biến chứng như tiêu cơ
vân, nhiễm toan chuyển hoá, suy thận cấp,…
Tỷ lệ tử vong: Trong nghiên cứu này, 1 BN tử vong (2,6%), tỷ lệ thấp hơn so với tỷ lệ tử vong 8%
do ngộ độc cấp thuốc diệt chuột tại khoa Chống
độc [3] Tuy nhiên với số lượng tử vong tính chung (13 bệnh nhân) và tổng số bệnh nhân thực tế có liên quan (76 bệnh nhân) thì tỷ lệ tử vong là 17,1% Tất cả các bệnh nhân đều tử vong trong bệnh cảnh co giật, chủ yếu ngay tại gia đình (38,5%), trên đường tới cơ sở y tế hoặc trên đường
được vận chuyển lên tuyến sau (38,5%), điều này phản ánh diễn biến tối cấp và sự nguy hiểm của NĐTP do hoá chất gây co giật Kết quả này càng cho thấy sự khác nhau về số liệu báo cáo và số BN thực tế [2], các số liệu báo cáo thường không đầy
đủ và chúng ta dễ thiếu sót khi xem xét mức độ nguy hiểm của NĐTP do nguyên nhân này
2 Bàn luận về BN tử vong:
+ BN nữ 10 tuổi, đến viện trong tình trạng Glasgow 13 đ, kích thích vật vã, co cứng, tăng trương lực cơ, phản xạ gân xương tăng, không co giật, dấu hiệu Chvostek ( - ), huyết áp 100/70 mmHg, nhịp tim 100l/ph, xoang đều, QTc 0,42 sec, sóng T âm ở V3 - V6, các cơ quan khác không thấy gì đặc biệt Các xét nghiệm bình thường, ngoại trừ Ca toàn phần 2,26, Ca ion 0,93, điện não
có biểu hiện kích thích lan toả BN tử vong trong bệnh cảnh rung thất, ngừng tim Rung thất đột ngột xảy ra là nguyên nhân thường gây tử vong ở các
BN co giật do ngộ độc thuốc diệt chuột đã được kiểm soát nhưng có lẽ hạ canxi máu (mặc dù đã
được bù bằng đường tĩnh mạch) đã góp phần làm xuất hiện loạn nhịp này
3 Các hậu quả lâu dài:
+ Dấu hiệu điện não phần lớn kéo dài trong vòng 2 tuần đầu nhưng có thể kéo dài nhiều ngày tới trên 2 tháng (2 BN) Điều này cho thấy bên cạnh việc điều trị trước mắt, các BN co giật cần
được điều trị liên tục và theo dõi đầy đủ trong thời gian dài tới khi điện não trở về bình thường
+ Triệu chứng loạn thần: 7/38 (18,4%) bệnh nhân có biểu hiện rối loạn tâm thần, trong đó các triệu chứng thường gặp là dễ kích thích, sững sờ,
Trang 7mất ngủ, quên và kích động ngôn ngữ Thời điểm
xuất hiện loạn thần là 2 - 5 ngày sau khi bắt đầu bị
ngộ độc, khi bệnh nhân tỉnh trở lại và tồn tại từ 2 -
24 ngày Chúng tôi chưa thấy tài liệu nào đề cập
tới các dấu hiệu này ở BN ngộ độc, do vậy cần
được nghiên cứu thêm
4 Cận lâm sàng:
Xét nghiệm chung: các biểu hiện phần lớn là
hậu quả của co giật (suy hô hấp, tiêu cơ vân, nhiễm
toan chuyển hoá, suy thận cấp)
Xét nghiệm độc chất:
+ Trong khuôn khổ của bài báo này, chúng tôi
xin không bàn luận đầy đủ về các hoá chất được
xét nghiệm thấy ở đây Nói chung nhờ các phương
tiện xét nghiệm độc chất hiện đại, các mẫu bệnh
phẩm của các bệnh nhân NĐTP do hoá chất gây co
giật đã được phát hiện thấy nhiều hoá chất mới lạ
Các hoá chất này rất đa dạng, khác nhau về chủng
loại, hầu hết đều chưa có thông tin đầy đủ, đặc biệt
là về ngộ độc trên người Đây chỉ là kết quả ban
đầu và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại máy
làm xét nghiệm, trình độ của người đọc kết quả xét
nghiệm, Sự thật này phản ánh khó khăn trong
vấn đề xét nghiệm độc chất ở nước ta, trong khi
trên thực tế có rất nhiều hoá chất có thể gây nên
bệnh cảnh co giật, nhiều hoá chất được nhập lậu,
đặc biệt từ Trung Quốc được người dân sử dụng
bừa bãi
V Kết luận
NĐTP do hoá chất gây co giật thường xảy ra ở
nông thôn, lý do ngộ độc phức tạp, đa dạng, đặc biệt
tồn tại một thực tế là việc sử dụng các thuốc diệt
chuột Trung Quốc nhập lậu bừa bãi trong nhân dân
Khác với NĐTP do các nguyên nhân khác, NĐTP
do hoá chất gây co giật khởi đầu rất nhanh, diễn biến
rầm rộ, nặng nề với các triệu chứng nổi bật là thần
kinh và các cơ quan khác Co giật có thể xuất hiện
trong thời gian nhiều tháng sau khi bị ngộ độc, do đó
BN cần được theo dõi và điều trị đầy đủ
Các thay đổi trên xét nghiệm chủ yếu biểu hiện
các hậu quả của co giật (tiêu cơ vân, suy thận, suy
hô hấp, ), có thể hạ canxi máu, các thay đổi trên
điện tim Vấn đề xét nghiệm độc chất còn gặp rất nhiều khó khăn
Tỷ lệ tử vong cao, BN dễ tử vong nhanh chóng ngay tại nơi ăn uống, trước khi đến bệnh viện Nguyên nhân chính gây tử vong là co giật gây suy hô hấp Do đó việc cấp cứu ban đầu bằng cắt cơn
co giật đồng thời đảm bảo hô hấp rất quan trọng
Tài liệu tham khảo
1 Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (2002), “Tình hình ngộ độc thực phẩm
do hoá chất trong 6 tháng đầu năm 2002”, Cục
QLCLVSATTP, Bộ Y tế
2 Phạm Trần Khánh, Trần Đáng (2001),
“Nhận xét một số đặc điểm dịch tễ học thực phẩm qua bao cáo các tỉnh, thành phố về cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 1999 -
2001”, Báo cáo khoa học hội nghị chất lượng vệ
sinh an toàn thực phẩm lần thứ nhất, Bộ Y tế, tr
139 - 150
3 Đặng Thị Xuân (2002), “Nhận xét đặc điểm
lâm sàng và điều trị ngộ độc thuốc diệt chuột nhập
lậu từ Trung Quốc”, Luận văn bác sỹ chuyên khoa
cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, tr 43
4 Center for food safety & applied nutrition (2001): “Onset, duration, and symptoms of
foodborne illness”, Foodborne pathogenic
microorganisms and natural toxins handbook, U S
Food & Drug Administration, www fda gov
5 David F, Altman (1988), “Food poisoning”,
Cecil textbook of medicine, W B Saunders
company, p 784
6 Hans E persson, Gunilla K Sjoberg, Jonh
A Haines, Jenny Pronczuk de Garbino (1998),
“Poisoning severity score - Grading of acute
poisoning”, Clinical toxicology, 36 (3), p 205 -
213
7 Tareg A Bey, Frank G Walter (2001),
Saunders company, p 155 - 165
Trang 8Summary
Study in to Clinical and laboratory features of food poisoning caused by seizure - inducing chemicals at poison control center,
Bach mai hospital
Objective: to comment on clinical and laboratory features of food poisoning caused by seizure - inducing
chemicals
Results: 38 patients were enrolled in this study 86,3% of cases happened in rural areas Reasons for the
poisoning varied and were complicated In 81,6% of patients, the onset of poisoning occurred within 1 hour after ingestion The overall death rate was 17,1%, patients died mostly at home and on the way to healthcare facilities Clinical features were fulminant and severe with many organs involved, in which neurological manifestation was prominent Seizure was the most important cause of death The abnormalities on electroencephalography usually exsisted within the first two weeks but could last for months Laboratory tests mainly reflexed the complications of seizure Many difficulties were encountered in the toxicological analysis Conclusion: clinical course of food poisoning caused by seizure - inducing chemicals is very rapid, severe Neuvous system is most affected Seizure is the most important cause of death with a high mortality rate There are many difficulties in toxicological analysis