Các bệnh lý di truyền của cơ quan tạo máu và của hệ miễn dịch là lĩnh vực đầu tiên được nghiên cứu theo hướng áp dụng liệu pháp điều trị gen.. Nguyên tắc cơ bản để đạt được sự thành công
Trang 1Hệ thống chuyển tải gen và ứng dụng trong liệu pháp
điều trị gen
TS Tạ Thành Văn
Bộ môn Hóa-Hóa sinh, Trường Đại học Y Hà Nội
I Giới thiệu chung
Việc áp dụng liệu pháp điều trị gen trong y
học là hướng điều trị đang được nghiên cứu
rộng rãi hiện nay Liệu pháp này được thực
hiện bằng việc chuyển giao gen lành sang các
dòng tế bào bị đột biến gen của bệnh nhân
mắc bệnh di truyền Các bệnh lý di truyền của
cơ quan tạo máu và của hệ miễn dịch là lĩnh
vực đầu tiên được nghiên cứu theo hướng áp
dụng liệu pháp điều trị gen Ngày nay hướng
nghiên cứu điều trị này được triển khai trong
nhiều trường hợp bệnh lý mà nguyên nhân là
do rối loạn hoặc tổn thương hệ thống di truyền
như: các loại hình ung thư, các bệnh thương
tổn hệ thống thần kinh bẩm sinh, hay do tuổi
già, đái tháo đường, bệnh lý bẩm sinh của cơ
(dystrophy), bệnh của cơ quan tạo máu (1-3)
Nguyên tắc cơ bản để đạt được sự thành
công trong liệu pháp đIều trị gen là: 1, Đạt
được hiệu suất cao trong việc cấy gen lành vào
tế bào đích 2, Gen cấy phải hoà nhập vào hệ
thống di truyền của tế bào nhận, hoạt động
hiệu quả và lâu dài để có thể làm thay đổi kiểu
hình của bệnh Điều khác cũng không kém
phần quan trọng là phải hạn chế tai biến cho
bệnh nhân và chi phí thấp Trong bài viết này,
tác giả đề cập đến các phương tiện chuyển tải
gen, khâu then chốt nhất trong liệu pháp điều
trị gen
Hệ thống chuyển tải gen tới tế bào đích
Mục tiêu quan trọng nhất đối với việc phát
triển phương pháp điều trị gen là tạo ra các
vector có khả năng chuyển tải và thể hiện gen
tại các tổ chức cần điều trị Thế hệ đầu tiên của
các vector là việc sử dụng hệ thống virus để
chuyển tải các thông tin di truyền đến các tế
bào của người Tiếp sau đó, các nhà khoa học
đã cố gắng phát triển các thế hệ vector không
thuộc hệ virus hoặc hệ lai giữa hai hệ thống đó
để tăng tính an toàn Gần đây phương pháp dùng các tế bào gốc của người làm phương tiện chuyển tải gen điều trị tới quần thể tế bào bệnh đặc hiệu đang được nghiên cứu áp dụng (hình 1)
Mau
To chuc Nhan
Te bao dich Tac dung
sinh hoc
Hình 1: Các quá trình sinh học của việc
chuyển gen in vivo
(1) Các phương tiện chuyển tải gen (virus, không phải virus, tế bào) tới tế bào đích qua hệ thống tuần hoàn hoặc trực tiếp tại chỗ (2) Vector xâm nhập vào tế bào đích thông qua receptor đặc hiệu trên bề mặt tế bào (Rv) (3)
Tế bào tiếp nhận vector và vận chuyển vào nhân (4) Quá trình sao chép gen ghép trong nhân (5) Quá trình giải mã để tổng hợp protein
“điều trị” ở bào tương (6) Quá trình tương tác của protein mới tổng hợp với receptor đặc hiệu tại chính tế bào sản xuất ra nó hoặc các tế bào bên cạnh hoặc lưu thông trong hệ thống tuần hoàn để tới các tế bào đích ở tổ chức khác (7) Sau khi tương tác với receptor protein “điều trị” phát huy tác dụng sinh học
1 Vector có nguồn gốc từ virus
Vector có nguồn gốc từ virus (virus-vector) là phương tiện vận chuyển gen thuộc thế hệ đầu
Trang 2tiên được ứng dụng cho tế bào người Đa số các
virus-vector sử dụng trên lâm sàng có nguồn gốc
từ retrovirus hoặc adenovirus Một số virus-vector
có nguồn gốc từ các loại virus khác như
lentivirus, herpes virus, pox virus cũng đang
được nghiên cứu áp dụng (4) Các phần tử
retrovirus mang gen ghép có khả năng xâm nhập
vào hệ thống gen của tế bào chủ để tạo ra dòng
tế bào mang gen ghép ổn định Các retrovirus
trước hết được tổng hợp thông qua sự sao chép
trong tế bào “đóng gói” (packaging cell) đặc hiệu
sau khi tế bào này được chuyển gen từ retrovirus
-vector Các hạn chế chính trong việc áp dụng
retrovirus -vector là hiệu lực virus thấp, không có
khả năng nhiễm vào tế bào không phân chia, và
tiềm ẩn khả năng gây đột biến cho tế bào chủ
Khác với retrovirus, adenovirus có hiệu lực cao
song lại không có khả năng xâm nhập vào hệ
thống gen của tế bào chủ để tạo ra dòng tế bào
ổn định mang gen ghép Tuy vậy adenovirus có
thể xâm nhập vào cả tế bào đang trong giai đoạn
phân chia lẫn ở trạng thái nghỉ Adenovirus là yếu
tố gây bệnh của người và do vậy đa số người
bệnh trong tiền sử đều đã từng bị nhiễm Do vậy
trong máu bệnh nhân thường tồn tại một lượng
nhất định kháng thể kháng virus Chính điều này
làm ảnh hưởng đến việc áp dụng adenovirus
trong điều trị Việc sử dụng adenovirus không
phải nguồn gốc người có thể tránh được hạn chế
này trong điều trị Tuy vậy hiệu quả của việc áp
dụng adenovirus lần 2 thường hạn chế hơn lần
đầu Nói tóm lại việc áp dụng virus-vector trong
điều trị ghép gen trong tương lai sẽ phụ thuộc vào
các hệ thống điều hòa gen bao gồm gen công
tắc (hoạt động theo cơ chế đóng mở), promoter
đặc hiệu tổ chức để cho phép sự thể hiện gen
được thực hiện một cách chuẩn xác về thời điểm,
vị trí trong một khoảng thời gian mong muốn
Các phương tiện chuyển gen nguồn gốc
không phải virus
Cho đến thời điểm này việc tạo ra các
phương tiện vận chuyển gen nguồn gốc không
phải từ virus còn nhiều hạn chế Việc áp dụng
các chất mang gen này mang lại độ an toàn
cao, độc tính thấp song lại bị hạn chế do hiệu
quả chuyển gen thấp Tuy nhiên trong thời gian
gần đây, việc tổng hợp ra các chất mang gen mới có bản chất là lipid và các chất mang cationic polymer đã làm tăng đáng kể hiệu quả của việc chuyển gen (5) Để tạo ra phương tiện vận chuyển gen có hiệu quả cao, độc tính thấp, các nhà khoa học đang nghiên cứu tạo ra phương tiện chuyển gen có nguồn gốc trung gian giữa virus và tổng hợp (6) Phương tiện này sẽ kết hợp được ưu điểm của cả hai phương pháp, hiệu quả chuyển gen cao (nguồn gốc virus), độc tính thấp (nguồn gốc tổng hợp), (hình 2)
Te bao dich
Nhan
Hình 2: Cơ chế hoạt động của phương tiện
vận chuyển gen tổng hợp
(1) Gen “cô đặc” (bởi protamine sulfate) cùng với yếu tố đặc hiệu màng được bao phủ (bởi polyethylene-glycol) lưu thông trong máu
đến tế bào đích (2) Phức hợp gen-yếu tố đặc hiệu màng gắn vào màng tế bào đặc hiệu (3, 4) Phức hợp được vận chuyển vào trong tế bào
và tiến đến nhân (5, 6) Phức hợp xâm nhập vào nhân, hoà vào bộ gen của tế bào đích và quá trình sao chép, tổng hợp protein được khởi
động
2 Vận chuyển gen bằng tế bào gốc
Trong y học, mặc dù việc dùng tế bào để
điều trị (chẳng hạn như truyền máu) đã được
áp dụng cách đây hàng thập kỷ song việc lấy
tế bào bệnh của bệnh nhân, đưa gen lành vào rồi đưa lại vào cơ thể người bệnh là hướng nghiên cứu mới mẻ (4, 7) Việc sử dụng tế bào gốc của người bệnh để đưa gen lành vào sau
đó cấy trở lại cơ thể bệnh nhân nhằm tái tạo ra nhiều dòng tế bào mang gen lành trong một cơ
Trang 3quan nhất định nào đó là hướng nghiên cứu
được nhiều người quan tâm nhất hiện nay Các
nghiên cứu gần đây tập chung vào việc sử
dụng các tế bào tạo máu, tế bào gốc thần kinh
và các tế bào gốc của bào thai cho mục đích
này Tuy nhiên có nhiều vấn đề cần phải được
giải quyết đó là: 1) Tìm ra môi trường phân lập
và nuôi cấy thích hợp đối với từng loại tế bào
gốc 2) Tìm ra điều kiện thích hợp để tế bào
gốc mang gen ghép có thể biệt hóa thành tế
bào mong muốn cần điều tri 3) Tạo ra các
vector thích hợp để đưa gen cần điều trị vào tế
bào gốc và thúc đẩy gen này hòa vào bộ gen
của tế bào chủ một cách ổn định
II Kết luận
Các nhà khoa học đang cố nghiên cứu
nhằm tìm ra một “vector hoàn hảo” thỏa mãn
tất cả các yêu cầu của liệu pháp điều trị gen
Tuy vậy cũng cần phải nhấn mạnh rằng “vector
hoàn hảo” đó sẽ không phải là công cụ đa
năng bởi lẽ mỗi loại bệnh tật sẽ đòi hỏi một kỹ
thuật chuyên biệt với một vector đặc hiệu Ví
dụ: một số bệnh chỉ đòi hỏi sự chuyển gen cục
bộ như các bệnh Parkinson, viêm võng mạc,
thiếu máu cục bộ trong khi một số bệnh khác
lại đòi hỏi sự chuyển gen cho cả một hệ thống
trong cả một thời gian dài như bệnh xơ vữa
động mạch, ung thư Đối với một số bệnh sản
phẩm của các gen ghép là protein có thể được
tổng hợp từ tế bào của nhiều tổ chức khác
nhau trong cơ thể như yếu tố VIII, IX trong
hemophilia A và B, các hormone Song trong
một số bệnh khác, sản phẩm gen ghép chỉ cần
được tổng hợp trong một giai đoạn nhất thời
như giai đoạn tiền ung thư Thêm vào đó trong
một số trường hợp sản phẩm của gen ghép
không cần phải kiểm soát chặt chẽ như yếu tố
VIII, IX trong hemophilia A và B thì ở bệnh tiểu
đường, lượng insulin tổng hợp cần phải được
điều hòa hết sức nghiêm ngặt Cho đến nay
một số vector đặc hiệu cho một số bệnh đã
được áp dụng trên lâm sàng (bảng 1) và đã
được cấp bản quyền song việc tạo ra một
vector “hoàn hảo” vẫn luôn là một trở ngại nhất
trong liệu pháp điều trị gen
Bảng 1: Các hệ thống chuyển tải gen (vector) và số lần thử nghiệm trên lâm sàng
(1992-2001)
Hệ thống chuyển tải nghiệm
Số lần thử
Retrovirus 67 Liposome 59 Adenovirus 54
Tế bào gốc 20 Pox virus 26 Phương pháp khác* 16 AND tự do 8
*, Electroporation, súng bắn gen
Tài liệu tham khảo
1 Anderson, W F Human gene therapy
Nature 392, 25-30 (1998)
2 Sneyers, M., Dumon, J-C., Vanerenbergh, B
et al Gene therapy clinical trial in Belgium
Human gene therapy 12, 1361-1365 (2001)
3 Rubanyi G.M The future of human gene
therapy Mol aspects med 22, 113-142
(2001)
4 Halene, S., Kohn, D B Gene therapy using hematopoetic stem cells: Sisyphus approaches
the Crest Human gene therapy 11, 1259-1267
(2000)
5 Li, S., Huang, L Nonviral gene therapy:
Promises and challenges Gene therapy 7,
31-34 (2000)
6 Kaneda, Y Development of a novel fusogenic viral liposome system (HVJ-liposomes) and its applications to the treatment
of acquired diseases Mol Membr Biol 16,
119-122 (1999)
7 Kohn, D B Gene therapy for genetic haematological disorders and
immunodeficiencies J Inter Med 249,
379-390 (2001)
Trang 4Summary
Gene delivery system and its application in gene
therapy
Human gene therapy (HGT) is one of the new therapeutic approaches emerging from this molecular biology and biotechnology revolution HGT is defined as the transfer of nucleic acides (DNA) to somatic cells of a patient, which results in a therapeutic effect, by either correcting genetic defects or by overexpressing proteins that are therapeutically useful
HGT is a complex process, involving multiple steps in the human body including delivery to organs, tissue targeting, cellular trafficking, regulation of gene expression level and duration, biological activity of therapeutic protein, safety of the vector and gene product ect, most of which are not completely understood However, over the recent years, significant progress has been made in various enabling technologies, in the molecular understanding of diseases and the manufacturing of vectors The technical advances together with the ever increasing knowledge and experience in the field will undoubtedly lead to the realization of the potential of HGT in medicine