Thật khó định nghĩa chính xác khái niệm placebo dùng trong y học, nên đã có nhiều tác giả nêu định nghĩa về placebo như sau: - Fabre, J.1962: “Placebo là một phương thuốc có công hiệu do
Trang 1TCNCYH 22 (2) - 2003
Góp phần hiểu biết về cách dùng từ Placebo
(thuốc vờ, giả dược)
PGS.TS Dương Hữu Lợi
Lịch sử của trị liệu là lịch sử Placebo (Shaipiro, A.K 1964) Thực vậy, vì hàng ngàn đời nay, chúng ta đã dùng Placebo trong trị liệu gắn liền với nguồn gốc của ảo thuật, tôn giáo và dẫn đến nghệ thuật chữa khỏi bệnh Phần lớn những thầy thuốc đã thấy tính hiệu quả của nó và những thầy phù thuỷ đã có được những thành công của họ
Placebo, bắt nguồn từ tiếng La - tinh của động từ nguyên thể là placere (Tiếng Pháp: động từ plaire) và ở thì vị lai, ngôi thứ nhất, số ít, có nghĩa là: "Tôi sẽ làm vừa lòng" (Je plaire)
1 Placebo:
Từ thế kỷ XIII, Placebo có nghĩa là mách
lẻo lỗi của bạn với thầy, để lấy lòng thầy (Je
plairai à mon maitre en dénousant mon
camarade) Sang thế kỷ XVIII, trong y học có
nghĩa là làm vừa lòng người bệnh (plaire au
malade)
Thật khó định nghĩa chính xác khái niệm
placebo dùng trong y học, nên đã có nhiều tác
giả nêu định nghĩa về placebo như sau:
- Fabre, J.1962: “Placebo là một phương
thuốc có công hiệu do một cơ chế tâm lý, một
cách độc lập với những tính chất dược lý của
nó”
- English, H.B và English, A.C: “Chế phẩm
không chứa một chút nào thuốc và được kê đơn
điều trị với mục đích mà người bệnh nghĩ là
được điều trị”
- Yvonneau, M 1962: “Người ta gọi
placebo khi mọi tác động y tế mà nó gây ra ở
người bệnh ảo giác là được trị liệu”
- Kissel, P và Barrucand, D 1962: “Mức độ
trị liệu, tính hiệu quả nội tại không có hoặc
yếu, không có một tương quan hợp lý nào với
bệnh, nhưng người bệnh nghĩ là đã nhận được
một sự điều trị tích cực, tác động có thể do
một cơ chế tâm lý hoặc tâm sinh lý”
Vậy Placebo là một thuốc hay một phương
sách trị liệu không có những tính chất đặc hiệu
hay dược động học Nhưng những định nghĩa
trên, trong những thí nghiệm ở người đã quá
hạn chế so với ý định của chúng ta
Cấu thành placebo, vốn sẵn có ở trong mọi
chất ngay cả tính chất đặc hiệu nhất (có những
trường hợp cần phải dùng một placebo "có hoạt tính dược lý", nhằm để bắt chước toàn phần hay một phần, những tác dụng thứ phát của thuốc
được nghiên cứu (Thí dụ: ngủ gà, khô miệng, .v.v.)
- Shanpiro, A.K đã đề nghị đưa ra định nghĩa sau: “Placebo là một điều trị (hay là hợp phần của điều trị) mà nó có hiệu quả trên một triệu chứng, một hội chứng hay một bệnh, dẫu rằng không có hoạt tính đặc hiệu trên bệnh học
mà người ta đã dùng nó Sự điều trị có thể được dùng có chú ý hoặc không có chú ý, với tính chất placebo có hoạt tính hay trơ Placebo cần phải được phân biệt với hiệu quả placebo mà nó
có thể xảy đến hoặc không xảy đến, được thuận tiện hay không thuận tiện Bởi vậy, placebo có thể là tinh khiết hay không tinh khiết"
2 Hiệu quả placebo:
Kết quả của sự hướng dẫn điều trị một placebo là “hiệu quả placebo”
là hiệu quả placebo cần được chứng nhận là sự hình thành của một quá trình rộng về tâm lý học rất phức tạp hơn là phương thức đơn giản dùng để thực hiện nó
năng của ám thị định mang lại từ viên nén, dung dịch xi-rô dùng trong một mục đích điều trị, ngoài ra còn có khả năng được cắt nghĩa do những mối liên hệ thuộc về tình cảm nối liền người bệnh với thầy thuốc của họ"
placebo, nói cho đúng danh từ, là những sự thay đổi được gây nên ở một người do ngoại
Trang 2TCNCYH 22 (2) - 2003
cảnh, sự mong đợi hay là sự ám thị mà có thể
được kèm theo dùng một ít thứ thuốc
được bao phủ, che đậy dáng dấp của một thuốc
và tất cả như là một thuốc, được dùng theo
đường uống, ngoài đường tiêu hoá hay qua da
Trái lại, hiệu quả placebo là một hiện tượng trải
ra rất rộng, và không gắn với sự hiện diện của
placebo "
Hiệu quả placebo đã được mở rộng cả ở
trong những lĩnh vực khác, không chỉ là ở
thuốc; như nhận xét khách quan là tốt trong
chứng đau rễ thần kinh bằng châm cứu (Coste
và Berlagua), trong khử độc thuốc lá bằng nhĩ
châm (Besancon, F.) bằng cách tiến hành châm
cứu ở những "huyệt placebo" mà định chỗ
trung tính (Weintraub, M 1975 và Gaw, A.C
1975); placebo trong ngoại khoa bằng cách mổ
giả, giới hạn gây mê và rạch da (Beecher, H.K
1961); placebo trong dinh dưỡng, bằng cách
dùng thức ăn hay cả những chế độ ăn hoàn toàn
có vẻ bề ngoài giống nhau nhưng thành phần
khác nhau (Dayton, S, 1969); placebo trong
hiệu điện cực và gây tê (Tetrault, L 1972)
Hay nói một cách khác, hiệu quả placebo
phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân, trong đó
niềm tin của người bệnh có vai trò then chốt
3 Những ý nghĩa của hiệu quả placebo
Ngay từ thời xa xưa, Rabelais đã đưa ra ý kiến của Hyppocrate, thực hành y học là một cuộc chiến đấu và có ba nhân vật giữ vai trò chính: người bệnh - thầy thuốc - bệnh Về sau này Valabrega bổ sung: "Hành động y học là một hành động của nhiều nhân vật: thầy thuốc - người bệnh - thuốc - y tá."
Thực vậy, sau một thời kỳ điều trị bằng thuốc, là kết quả tác dụng của nhiều yếu tố hợp thành Đôi khi khó mà phân tích được từng phần của các yếu tố: sự tiến triển tự nhiên của bệnh, tác dụng dược lý riêng của thuốc, và những yếu tố không đặc hiệu do sự săn sóc đối với người bệnh và cả sự tin tưởng được nhận
điều trị có hoạt tính Yếu tố cuối cùng này
được gọi hiệu quả placebo; đôi khi ngược lại, một thái độ ngờ vực hay sợ hãi sẽ sinh ra một hiệu quả có hại (effet nocebo) và người bệnh không thu được một lợi ích nào của điều trị hay chỉ thấy những tác dụng không mong muốn
Ta có thế tóm tắt những yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả placebo ở trong một sơ đồ sau:
Quang cảnh
điều trị
Nhân cách của người bệnh
- Sự phục trình
- Sự trao đổi bằng miệng
Thầy thuốc:
- Cởi mở
- Nhiệt tình
- Lạc quan
Hiệu quả
dược lý
Hiệu quả placebo
Tiến triển tự
Hiệu quả
Những sai sót của
đo lường
Sự đánh giá cuối cùng
Hình 1: Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả placebo (theo Spriet, A và Simon, P)
Thái độ của thầy thuốc có một tầm quan
trọng rất lớn Nhiều trường hợp đã được chứng
minh người thầy thuốc (1) hay thổ lộ tâm tình,
thân mật, cởi mở, lạc quan, nhiệt tình, có lương
tâm, làm người bệnh yên lòng, dẫn đến hiệu
quả placebo đều đặn hơn là bạn đồng nghiệp (2) vội vàng, cẩu thả, tàn nhẫn hay quá lo lắng
đến những vấn đề của chính mình hơn là sức khoẻ của người bệnh Thí dụ: Cimetidin (thương phẩm năm 1977) là một thứ thuốc rất
Trang 3TCNCYH 22 (2) - 2003
tốt để điều trị nội khoa loét dạ dày - tá tràng và
làm hạ tỷ lệ phải phẫu thuật cắt bỏ dạ dày Kết
quả điều trị ở bệnh viện có những thầy thuốc
(1) là 79% và ở bệnh viện có những thầy thuốc
(2) là 17%
Yếu tố người bệnh cũng giữ một vai trò
quan trọng nhất định, và chắc chắn là: "Sự sợ
hãi bệnh tật thì còn nguy hiểm hơn bản thân
bệnh"
Với những lý lẽ trên, placebo và hiệu quả
placebo đã góp phần hé lộ một phần nào "cơ sở
khoa học của thầy thuốc như mẹ hiền"
Yếu tố của thuốc cũng giữ một vai trò
không nhỏ trong điều trị bệnh Ta có thể nêu
lên một công thức tác dụng của thuốc như sau:
Tác dụng thuốc = Tác dụng dược lý + Hiệu
quả placebo
Mặt khác, việc sử dụng phương pháp nghiên
cứu mù kép (double blind) cũng phải nhờ cậy
đến sự chia nhóm thử, trong đó có nhóm
placebo, giúp ta đánh giá được thật khách quan
tác dụng của thuốc, tránh được tình trạng có
yếu tố chủ quan len vào vo tròn hoặc bóp méo
số liệu làm sai lệnh kết quả
4 Từ placebo nên được dùng như thế nào?
Theo từ điển Y dược Pháp Việt, Nhà xuất
bản Y học 1976, trang 530 đã gọi placebo là
"Thuốc vờ" (médicament simulé); trong các tạp
chí Y dược học ở miền Nam thường dùng
placebo là "giả dược" (Pseudo - produit
pharmaceutique ); và có người đã đề xuất ý
kiến nên gọi là "Thuốc tín nhiệm" (médicament
de confiance) Và qua đó ta không thể nào tìm lại được từ placebo khi cần được dịch ngược từ tiếng Việt sang một ngôn ngữ nước ngoài Hay nói một cách khác yêu cầu cơ bản phải là dễ dàng dịch được hai chiều, nghĩa là phải có khả năng diễn đạt được những khái niệm và những khác biệt cần thiết Cần đặc biệt lưu ý, thuật ngữ Y dược quốc tế đều dùng từ placebo
Thật là buồn cười khi chúng ta quá gượng
ép dùng từ "Thuốc vờ trong ngoại khoa", thuốc
vờ trong dinh dưỡng "để mô tả sự việc và dẫn
đến hoàn toàn vô nghĩa, nếu không muốn nói là phản nghĩa
Theo Jean Tournoer: "một khái niệm thể hiện bằng một từ nào đó trong một ngôn ngữ nào đó, lại không thể hiện được bằng một từ nào khác của một ngôn ngữ khác"
Hơn thế nữa, dịch là phản nghĩa (traduire c'est trahir), và theo Hữu Ngọc: "Dịch là mất mát từ nơi xuất phát đến nơi đến" Do đó, với một nội dung phong phú đã được nêu trên, tôi
đề nghị nên giữ nguyên từ placebo không dịch,
để cho thật nghĩa Điều này cũng giống như ta vẫn thường dùng từ Vitamin (Trước đây đã có một thời dùng từ Sinh tố, rồi bỏ), hormon (nội tiết tố), receptor (thụ cảm, bộ phận nhận cảm),
và hiện nay những từ này đã trở thành những từ thông dụng hằng ngày
Sur l'emploi des mots "placebo" "thuốc vờ", "giả dược"
Le dictionaire des termes médico - pharmaceutiques francais -vietnamien, les Editions Médicales
1976, phương pháp 530 a donné la signìication vietnamienne du mot "placebo" comme "Thuốc vờ" (médicament simulé) Dans la terminologic médico - pharmaceutique dúud Vietnam, le mot
"placebo" se tranduit par "giả dược" (pseudo - produit pharmaceutique) ou "thuốc tín nhiệm" (médicament de confiance) Dans cet état de choses, on ne peut pas restiuer le mot "placebo" en traduisant un texte vietnamien en francais ou en anglais ou dans la terminologic internationale, on emploie presque exclúivement le mot "placebo"
Pour moderniser la terminologie médico - pharmaceutique vietnamienne, nous pouvons introduire des mots étrangers pour enrichir notre vocabulaire, comme par exemple, le mot "laser" est utilisé sans être traduit Ainisi, on peut anssi employer le mot "placebo" sans être traduit, pour donner le sens authentique et unique et unique dans les contextes chirugicaux Acununcturaux ou nutritionnels du mot "placebo", c'est -à - dire des contextes qui n'out ancun sens de traitement par les médicaments