1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc

11 437 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 287,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Trần Hiển 1 1 Bộ môn Dịch tễ - Trường Đại học Y Hà Nội 2 Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ngang với mục đích thăm dò nhu cầu, việc sử dụng dịch vụ

Trang 1

Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố

Hà nội và những kiến nghị

Đào Thị Minh An 1

, Hoàng Thủy Long 2

Nguyễn Trần Hiển 1

( 1 )Bộ môn Dịch tễ - Trường Đại học Y Hà Nội ( 2 )Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ngang với mục đích thăm dò nhu cầu, việc sử dụng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS và thực trạng hoạt động tư vấn tại các cơ sở tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi điều tra, thảo luận nhóm

từ 8 nhóm đối tượng có hành vi có nguy cơ hoặc có những vấn đề liên quan mật thiết tới HIV/AIDS; phỏng vấn sâu cán bộ trực tiếp làm tư vấn và quan sát trực tiếp tại các cơ sở tư vấn

Nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS trong 8 nhóm đối tượng điều tra là thấp (45,7%) Trong số có nhu cầu mới chỉ có 41,6% đã sử dụng dịch vụ Những nhóm sử dụng dịch vụ chính là người nhiễm và người nhà của người nhiễm Nguyên nhân của việc sử dụng dịch vụ thấp từ phía người sử dụng dịch vụ là nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS chưa cao Đối với phía cung cấp dịch vụ là những bất cập trong mô hình, tổ chức, đầu tư cho hoạt động dẫn đến dịch vụ chưa đảm bảo khả năng tiếp cận cũng như yêu cầu cần thiết cho người sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của người dân là rất cần thiết Việc tổ chức lại dịch vụ tư vấn hợp lý đảm bảo khả năng tiếp cận tối đa cho người sử dụng dịch vụ là việc cần làm ngay Đồng thời cần phải xã hội hoá công tác tư vấn HIV/AIDS, coi tư vấn là nhiệm

vụ chung của xã hội, cộng đồng chứ không phải là nhiệm vụ riêng của ngành Y tế là vấn đề cần được quan tâm và giải quyết

I Đặt vấn đề

Đại dịch HIV/AIDS ngày càng gia tăng

với những tác động nặng nề tới cá nhân,

gia đình, xã hội Tính tới thời điểm

12/1998 trên toàn thế giới đã có 47,3 triệu

người nhiễm HIV trong đó số mới mắc

trong năm 1998 là 5,8 triệu người và số tử

vong là 2,5 triệu người [1] Trong khi đó

giá thành điều trị cho một người nhiễm

HIV/AIDS là 12.000 đô la/năm với thời

gian điều trị từ 5 đến 10 năm [2] thì đây là

một chi phí không thể đáp ứng được đối

với các nước đang phát triển trong đó có

Việt Nam Hội nghị quốc tế về HIV/AIDS

lần thứ 12 tại Giơnevơ đã quan tâm nhiều

tới việc sản xuất vacxin phổ cập Nhưng

do những khó khăn về khoa học kỹ thuật,

tài chính, đạo đức, giá thành nên người ta

dự đoán rằng tới năm 2007 cũng chưa có vacxin phổ cập Vì vậy chiến lược mới về phòng chống HIV/AIDS trên thế giới đã

đề ra ba mục tiêu chính: Phòng lây nhiễm HIV; Giảm tác hại của nhiễm HIV với cá nhân và cộng đồng; Phối hợp nỗ lực các quốc gia, các tổ chức trong thực thi các chương trình phòng chống HIV/AIDS Tư vấn HIV/AIDS với vai trò hỗ trợ tâm lý và phòng lây nhiễm cho cá nhân và cộng

đồng được coi là nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện ba mục tiêu trên [3] Việt Nam, theo số liệu báo cáo của Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS cũng như báo cáo của chương trình giám sát tại 20 tỉnh trọng

điểm cho thấy dịch ngày càng gia tăng Hội nghị toàn quốc về công tác phòng chống HIV/AIDS đã nêu ra những tồn tại

Trang 2

chính dẫn đến sự gia tăng này đó là:

Thông tin – Giáo dục – Truyền thông

chưa đi vào chiều sâu; Việc quản lý – Tư

vấn người nhiễm còn nhiều lúng túng;

Chưa có phương án chỉ đạo cụ thể về nội

dung hoạt động và đào tạo cán bộ tư vấn

[4] Hà nội là một trong 10 tỉnh có số

nhiễm HIV cao nhất trong cả nước Tính

tới thời điểm 22/7/1999 cả 12 quận huyện

của thành phố đã có báo cáo về người

nhiễm HIV và tổng số nhiễm của toàn

thành phố là 727 trường hợp Mặc dù

công tác tư vấn đã được triển khai tại 31

cơ sở Y tế của thành phố nhưng theo số

liệu báo cáo thì trung bình chỉ có 11 lượt

tư vấn/ một cơ sở/ tháng [5] Việc sử dụng

dịch vụ tư vấn HIV/AIDS thấp như vậy có

thể do nguyên nhân từ phía cung cấp

dịch vụ? Hay nguyên nhân từ phía người

sử dụng dịch vụ? Hoặc cả từ hai phía?

Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về

thực trạng này vì vậy một nghiên cứu về

thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại

thành phố Hà nội là rất cần thiết Qua

phân tích vấn đề chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu:

Mục tiêu tổng quát:

Mô tả thực trạng nhu cầu và hoạt động của dịch vụ tư vấn HIV/AIDS hiện đang thực hiện tại thành phố Hà Nội từ đó đưa

ra những kiến nghị nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn

Mục tiêu cụ thể:

1 Xác định nhu cầu và sử dụng dịch

vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà Nội

2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu và sử dụng dịch vụ

3 Mô tả thực trạng hoạt động dịch vụ tư vấn HIV/AIDS hiện đang thực hiện tại thành phố Hà Nội

II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu

Điều tra ngang: Định lượng kết hợp

định tính

1.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng

1.1.1 Đối tượng nghiên cứu

HIV Người thân Mãi dâm Lang thang Ma tuý Hoa liễu Sinh viên Lái xe

1.1.2 Thiết kế mẫu tầng: 8 nhóm đối

tượng có nguy cơ khác nhau

1.1.3 Chọn mẫu: Chủ định, không

ngẫu nhiên

1.1.4 Cỡ mẫu

d

2

1 α / 2

N: Cỡ mẫu

Z: 1,96 với độ tin cậy α = 95%

P: Tỷ lệ % có nhu cầu sử dụng

dịch vụ: 50%

Q: Tỷ lệ % không có nhu cầu sử dụng dịch vụ: 100% - P

d: Độ chính xác mong muốn Giá trị d lấy bằng 11% của P →

d = 5,5%

Cỡ mẫu tổng: N = 318x2 + 64 = 700ặn = 88

1.1.5 Công cụ thu thập số l iệu

- Bộ phiếu điều tra nhu cầu sử dụng dịch vụ t ư vấn

112

Trang 3

1.2 Thiết kế nghiên cứu định tính

Phía sử dụng dịch vụ Phía cung cấp dịch vụ

Đối tượng 8 nhóm đối tượng trong

nghiên cứu định lượng

Cán bộ tư vấn Cơ sở tư vấn

Tiêu chuẩn Nhiệt tình

Có khả năng cung cấp thông tin

Trực tiếp làm tư

vấn

Có chức năng

Có báo cáo

Phương pháp Thảo luận nhóm Phỏng vấn sâu Quan sát trực

tiếp

Số lượng 8 cuộc 12 cuộc 12 quan sát

Nội dung Nguyên nhân chính của nhu

cầu và sử dụng dịch vụ thấp

Thực chất và các yếu tố

Tổ chức dịch

vụ Nghiên cứu được thực hiện trên 12

quận huyện của thành phố Hà Nội từ

10/1998 đến 6/1999

III kết quả

1 Nhu cầu, sử dụng dịch vụ và các

yếu tố liên quan

1.1 Nhu cầu và sử dụng

Hình 1: Phân bố nhu cầu và sử dụng dịch

vụ theo nhóm

Nhu cầu sử dụng dịch vụ chung là

45,7% và có sự khác biệt giữa các nhóm

có ý nghĩa thống kê (p<0,01) Nhóm có

nhu cầu sử dụng dịch vụ cao nhất là

nhóm nhiễm HIV và nhóm mãi dâm Qua

thảo luận nhóm cho thấy trừ những đối

tượng không có hành vi và các vấn đề

liên quan với HIV/AIDS thì nguyên nhân

chính của việc chưa có nhu cầu sử dụng

là:

- Chưa hiểu biết hoặc hiểu chưa đúng nghĩa về tư vấn HIV/AIDS

- Chưa nhận thức được nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của bản thân và cộng đồng

- Đối với những người đã có nhu cầu nhưng chưa sử dụng dịch vụ nguyên nhân là:

- Sợ lộ bí mật

69.8

38.4

68.6

21 2

38

31 6

50 45.7 66.2

27.5

40.2

4.8

48.6

1 9.5 5.8 4.5

1 8 44.8

0

10

20

30

40

50

60

70

80

HIV

Người

thân

Mãi

dâm

Lan

g than

g

Ma t Hoa l iễu

Sinh

ên Lái

xe Tổn g

Có nhu cầu

Đã sử dụng

- Không tiếp cận được dịch vụ

- Chưa tin tưởng tuyệt đối vào dịch vụ

- Chưa hiểu được vai trò của bản thân trong cuộc tư vấn

1.2 Các yếu tố liên quan Bảng 1: Liên quan giữa nhận thức với nhu cầu và sử dụng dịch vụ

Nhu cầu Nhận

Sử dụng

* Dễ nhiễm HIV/AIDS

** Không dễ nhiễm hoặc không nhận thức được

Trang 4

Bảng 2: Liên quan giữa kiến thức với nhận

thức

Nhận thức

Kiến

Ch−a

đầy đủ

Hình 2: Phân bố kiến thức và nhận thức

theo nhóm

Trừ nhóm nhiễm HIV nhận thức cao hơn kiến thức Bảy nhóm còn lại kiến thức cao hơn nhận thức

Hình 3: Phân bố hành vi có nguy cơ và nhận thức theo nhóm

Nhóm mãi dâm và nhóm lái xe hành vi nguy cơ không cao (17,2% và 4,5%) nh−ng nhận thức về nguy cơ nhiễm rất cao (51,8% và 74,4%)

5 7

6 8 5

5 5 8

7 4 3

5 3 2 5 7 6

8 9

6 3

9 6 5

1 1 5 1 7 6

4 4 3

1 8 3 1 7 1

7 4 4

4 2

4 7 4

5 1 8

0

20

40

60

80

100

120

HIV

ng Ma

ễu Sinh viê

n Lá

e Tổng

Có k iến

th ứ c

Nh ận

th ứ c d ễ

n hiễm

2 Thực trạng dịch vụ t− vấn HIV/AIDS

114

2.1 Mô hình tổ chức

41.8

1

18.6 18.5 17.5

4.5 20 96.5

11.5

44.3

74.4 42 39.7

17.2 51.8

18.3 17.1 17.6

0

20

40

60

80

100

120

HIV

Ng−

ời th

ân

Mãi

âm ang tuý liễu viên xe

Lang

th Ma Hoa

Sinh Lái

Tổn g

Hành vi

Nhận thức dễ nhiễm

Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS

Uỷ ban AIDS thành phố

Tuyến quận huyện Tuyến thành phố

Trung

tâm vệ

sinh

dịch tễ

đơn vị qct thành phố

Khoa huyết học bệnh viện hai

bà tr−ng

9 trung tâm y tế

Trang 5

Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức hoạt động t− vấn tại thành phố Hà Nội.

Hoạt động t− vấn đ−ợc chia thành 2 tuyến: Thành phố và Quận huyện Đơn vị làm t−

vấn là những đơn vị có chức năng xét nghiệm phát hiện HIV/AIDS của thành phố

2.2 Đầu t− cho hoạt động t− vấn

Bảng 3: Đầu t− cho hoạt động t− vấn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí

Bố trí cơ sở t− vấn Tuyến thành phố Tuyến quận huyện Tổng

Có phòng t− vấn riêng biệt 0/3 7/9 7/12

Phòng xét nghiệm và phòng t−

Diện tích đủ rộng 0/3 5/9 5/12

Đảm bảo bí mật cho cuộc t−

T− vấn tại phòng t− vấn 0/3 6/9 6/12

Có biển hiệu ghi rõ: Xét

nghiệm và t− vấn HIV/AIDS 0/3 7/9 7/12

Tổ chức và đầu t− trang thiết bị, kinh phí

Có sổ sách ghi chép 0/3 0/9 0/12

Đầu t− kinh phí 0/3 0/9 0/12

Có địa chỉ cụ thể 1/3 0/9 1/12

Ch−a có sự đồng bộ trong tổ chức các

phòng t− vấn Kinh phí và trang thiết bị

đầu t− ch−a có gì

2.3 Đội ngũ cán bộ

Bảng 4: Đầu t− đội ngũ cán bộ t− vấn

Nguồn cán bộ Bác sĩ lâm sàng hoặc

xét nghiệm viên

Số cán bộ chuyên

trách trung bình

1 cán bộ/cơ sở

Độ tuổi 35 – 55

Thâm niên công

tác trung bình

2 năm

Số cán bộ đ−ợc

đào tạo trung bình

1 cán bộ/cơ sở

Thời gian đào tạo 1 ngày

trung bình

Đầu t− cho cán bộ Ch−a có gì

3 Hoạt động t− vấn

Bảng 5: Đối t−ợng và số l−ợt t− vấn

Hoạt động t−

vấn

Tuyến thành phố

Tuyến quận huyện

Đối t−ợng Đa dạng Nghiện chích

Trang 6

Người nhiễm HIV

Người thân

Số lượt tư vấn

trung

bình/tháng

Tại cơ sở 20 - 60 10 – 15

Qua điện

thoại

20 5

Tại gia đình Đối tượng trong

diện QCT được thăm tại gia

đình 1 tháng/lần

116

thông tin m ột chiều

Trao đổi hai chiều

30%

70%

Tư vấn có minh họa

Tư vấn chay

24%

76%

Hỗ trợ tinh thần

Hỗ trợ khác

43%

57%

Có hiệu quả

Chưa có hiệu quả

Hình 4: Hình thức tư vấn

Hình 5: Phương tiện tư vấn

Hình 6: Hỗ trợ sau tư vấn

Hình 7: Hiệu quả sau tư vấn

IV Bàn luận

1 Nhu cầu, sử dụng dịch vụ và các yếu tố liên quan

Kết quả cho thấy cả tám nhóm đối tượng nghiên cứu đều đã có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS với tỉ lệ

là 45,7% Tỉ lệ này là cao hơn so với tỉ lệ 20,4% có nhu cầu sử dụng dịch

vụ của cộng đồng [6] Nhưng nếu so với

đặc điểm về hành vi và kiến thức của tám nhóm đối tượng nghiên cứu thì đây là một

tỉ lệ không cao bởi vì đối tượng nghiên cứu là những nhóm có hành vi nguy cơ cao và kiến thức về HIV/AIDS không cao

so với cộng đồng [7][8] Sử dụng dịch vụ còn thấp hơn rất nhiều Đó là chỉ có 18% trong tổng số đối tượng nghiên cứu và 41,6% trong số những người có nhu cầu

đã sử dụng dịch vụ Trong khi đó nhóm

sử dụng dịch vụ chính vẫn là nhóm nhiễm HIV/AIDS và người thân của họ Khi tìm các yếu tố liên quan tới nhu cầu và sử dụng dịch vụ chúng tôi thấy việc tự nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của từng cá nhân là yếu tố duy nhất trong 3 yếu tố (kiến thức, hành vi, tự nhận thức)

có liên quan tới nhu cầu và sử dụng dịch

vụ Cơ sở của tự nhận thức về nguy cơ nhiễm được căn cứ vào kiến thức vì giữa kiến thức và việc tự nhận thức có mối liên quan có ý nghĩa thống kê Đó là người có kiến thức đầy đủ nhận thức về nguy cơ nhiễm cao gấp 2,5 lần so với người có kiến thức chưa đầy đủ Nhưng so sánh giữa kiến thức và nhận thức thấy về cơ bản kiến thức cao hơn nhận thức và so chung

Trang 7

sánh giữa hành vi và nhận thức thấy

nhóm mãi dâm và nhóm lái xe hành vi có

nguy cơ không cao nhưng nhận thức về

nguy cơ nhiễm lại rất cao Như vậy ngoài

kiến thức quyết định nhận thức thì còn

những yếu tố nào ảnh hưởng tới nhận

thức? Theo lý thuyết về quá trình chuyển

đổi hành vi của Martin Fishbein [9] cho

thấy:

Như vậy ngoài kiến thức của cá nhân

tác động tới nhận thức mà kết quả nghiên

cứu của chúng tôi đề cập thì yếu tố chuẩn

mực xã hội tác động tới nhận thức cũng

là một vấn đề cần được quan tâm thỏa

đáng

2 Thực trạng dịch vụ tư vấn tại thành phố Hà Nội

2.1 Hiện tại thành phố có 12 cơ sở y

tế làm công tác tư vấn HIV/AIDS được chia thành hai tuyến

Thành phố và quận huyện Với mô hình này hoạt động tư vấn HIV/AIDS được xem là một hoạt động tách biệt với các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Đây là điểm khác biệt cơ bản so với hoạt

động tư vấn tại thành phố Hồ Chí Minh [10] Như vậy chưa có sự lồng ghép hoạt

động tư vấn và coi đó là một hoạt động tư vấn Sức khoẻ Đây chính là điểm chưa phù hợp bởi vì qua thảo luận nhóm với người sử dụng dịch vụ cũng như phỏng vấn sâu cán bộ làm tư vấn HIV/AIDS cho thấy chính vì sự tách biệt này dẫn đến: Kiến thức

- Thứ nhất, người dân nhìn nhận tư vấn HIV/AIDS rất xa lạ, coi đó không phải dịch vụ cho cộng đồng mà chỉ là dịch vụ cho người nhiễm HIV/AIDS Điều này có thể lý giải một phần cho tỉ lệ nhu cầu và

sử dụng dịch vụ thấp Đối với những người có nhu cầu sử dụng dịch vụ, do sự nhìn nhận của cộng đồng về đặc thù của dịch vụ dẫn đến những cản trở về tâm lý

và không sử dụng được dịch vụ

đánh giá về hành

vi của cá nhân

Chuẩn mực

xã hội

Lòng tin Thái độ đối với

hành vi

Nhận thức

ý định thực hiện

hành vi

- Thứ hai, đối với cán bộ làm tư vấn, sự tách biệt này hạn chế, cản trở rất nhiều trong liệu trình tư vấn Đó là do không phối hợp được các ban ngành trong và ngoài ngành Y tế cùng hợp tác nên việc duy nhất cán bộ tư vấn chỉ có thể tiến hành được là hỗ trợ người sử dụng dịch

vụ trong khuôn khổ trao đổi, tháo gỡ vấn

đề, tìm hướng giải quyết Nhưng vấn đề người sử dụng quan tâm hơn là hỗ trợ sau tư vấn để thực hiện được các giải pháp đề

ra sau tư vấn hoàn toàn không có Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến Thực hiện hành vi

Trang 8

118

43% người sử dụng dịch vụ đánh giá tư

vấn không có hiệu quả mà chúng tôi sẽ

bàn luận thêm ở phần sau

2.2 Tổ chức và đầu tư của hoạt

động tư vấn HIV/AIDS chúng tôi thấy

có những vấn đề sau:

- Thứ nhất, về mặt tiếp cận dịch vụ:

Mặc dù nhìn chung mỗi cơ sở tư vấn

HIV/AIDS đã có phòng tư vấn riêng và

qua khảo sát cho thấy 6/12 phòng tư vấn

đã được bố trí và thực hiện cuộc tư vấn

đảm bảo sự đi lại thuận tiện cho người sử

dụng và tính bí mật cho cuộc tư vấn

nhưng cả sáu phòng tư vấn này cũng như

sáu phòng tư vấn còn lại đều có biển hiệu

ghi rõ: “Phòng xét nghiệm và tư vấn

HIV/AIDS” Đây chính là cản trở lớn nhất

cho người sử dụng dịch vụ vì những mặc

cảm tâm lý do sự nhìn nhận không tích

cực của xã hội đối với những người nhiễm

[11] Không những thế việc đầu tư cho cơ

sở tư vấn chưa có gì về kinh phí và trang

thiết bị như hiện nay sẽ không tạo được

độ tin cậy cho người sử dụng khi tiếp cận

dịch vụ Đây là một trong những yếu tố

cần thiết để người sử dụng cân nhắc

trong việc sử dụng dịch vụ Bên cạnh đó

việc truyền thông về số điện thoại, địa chỉ

các điểm tư vấn, vai trò, nhiệm vụ, lợi ích

của tư vấn còn ít thông tin để người sử

dụng có thể tiếp cận dễ dàng

- Thứ hai, về chất lượng dịch vụ: Qua

phỏng vấn sâu cho thấy với đội ngũ cán

bộ đa phần là kiêm nhiệm nhưng hoạt

động tư vấn lại hoàn toàn tách biệt như

đã đề cập ở trên sẽ cản trở quá trình làm

việc của cán bộ tư vấn Bên cạnh đó vì

cán bộ tư vấn là kiêm nhiệm nên đội ngũ

không ổn định, chưa được đào tạo chính

qui cơ bản, không có những qui định, chế

độ thích hợp sẽ là những yếu tố ảnh

hưởng tới sự nhiệt tình và say mê với công việc của người làm công tác này Như vậy có thể thấy hiện tại tổ chức dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà Nội chưa đáp ứng được năm yêu cầu về dịch vụ tư vấn HIV/AIDS của Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo:

- Đảm bảo khả năng tiếp cận tối đa cho người sử dụng dịch vụ

- Đảm bảo về mặt thời gian của cuộc tư vấn và qui trình tư vấn

- Đảm bảo sự tin cậy từ phía người sử dụng dịch vụ đối với cán bộ tư vấn

- Đảm bảo sự thông cảm và chân thành của cán bộ tư vấn với người sử dụng dịch vụ

- Đảm bảo thông tin chính xác, thống nhất và cập nhật

Đây cũng chính là những tồn tại chung của hoạt động tư vấn tại Thái lan [12] Chính vì những bất cập trên nên kết quả

điều tra định lượng cho thấy hình thức chủ yếu chính của tư vấn HIV/AIDS hiện nay 70% là cung cấp thông tin một chiều Chỉ

có 30% tư vấn hai chiều Phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm cho thấy người sử dụng dịch vụ vấn chưa hiểu và thực hiện

đúng vai trò chủ động của bản thân trong cuộc tư vấn Công cụ chính minh họa cho cuộc tư vấn là tờ rơi với nội dung là những kiến thức cơ bản chung về đường lây và phòng ngừa cũng chỉ chiếm 30% các cuộc tư vấn Với minh họa này chưa đáp ứng được nội dung người sử dụng dịch vụ cần Đó là những tình huống, nội dung mang tính thực tiễn, những vấn đề xảy ra trong cuộc sống Vì vậy hỗ trợ về tư vấn

có tới 76% người sử dụng cho là hỗ trợ về tâm lý với nghĩa thông hiểu những vấn đề thắc mắc trước khi tư vấn và biết được

Trang 9

các biện pháp phòng lây nhiễm cho bản

thân Chỉ có 24% đánh giá tư vấn đã hỗ

trợ giúp thực hiện được các giải pháp đề

ra Đó là giới thiệu đối tượng nghiện chích

đi cai nghiện, khám sức khoẻ và giới thiệu

tới các chuyên khoa cần thiết vv Do

những hạn chế của chất lượng dịch vụ

nên hiệu quả tư vấn không cao Có tới

43% người sử dụng dịch vụ đánh giá tư

vấn chưa có hiệu quả với nghĩa hỗ trợ

bình thường hoá cuộc sống cho người sử

dụng Điều này phần nào được phản ánh

qua việc sử dụng dịch vụ 10-15 lượt trung

bình/ tháng/cơ sở

V Kết luận

Qua kết quả nghiên cứu và bàn luận,

chúng tôi đưa ra những kết luận dưới đây:

1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn

HIV/AIDS tại thành phố Hà Nội là thấp

(45,7%)

Nguyên nhân chính là:

- Thiếu hiểu biết về tư vấn HIV/AIDS

của người dân

- Chưa nhận thức được về nguy cơ

nhiễm HIV/AIDS của cá nhân và cộng

đồng

2 Việc sử dụng dịch vụ tư vấn

HIV/AIDS tại thành phố Hà Nội là rất

thấp (18%)

Nguyên nhân chính chưa sử dụng

được dịch vụ do cung cấp dịch vụ:

- Chưa đảm bảo khả năng tiếp cận về

mặt thông tin, tính bí mật, độ tin cậy

- Chưa đảm bảo chất lượng về qui trình

tư vấn, độ tin của cán bộ tư vấn với người

sử dụng, thông tin chưa đầy đủ, nhất

quán và cập nhật

- Thiếu hỗ trợ sau tư vấn

3 Một trong những yếu tố quyết

định nhu cầu và sử dụng dịch vụ là nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của cá nhân và cộng đồng Quá trình

nhận thức đi từ:

Kiến thức Kiến

thức

Kiến thức Kiến

thức

4 Tổ chức và hoạt động tư vấn

- Mô hình, tổ chức, đầu tư cho dịch vụ tư vấn HIV/AIDS chưa đảm bảo khả năng tiếp cận và độ tin cậy cho người sử dụng dịch vụ

- Thực chất của hoạt động tư vấn là cung cấp thông tin một chiều

- Nguyên nhân chính do:

- Chưa có đội ngũ cán bộ chính qui

được đào tạo cơ bản về kỹ năng tư vấn và cập nhật thông tin

- Chưa có qui định về nhiệm vụ, chức năng, quyền lợi của người làm tư vấn

- Chưa có đầu tư công cụ phục vụ thiết thực cho tư vấn

- Chưa có phối hợp các ban ngành

đoàn thể và các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các khó khăn giúp đối tượng thực hiện được giải pháp lựa chọn trong tư vấn

Tài liệu tham khảo

1 UNAIDS AIDS epidemic update: December 1998 P1

2 Bùi Hiền Điều trị HIV/AIDS, vấn đề

cần được trao đổi AIDS và cộng đồng,

Số 4/1999 Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS

3 Nguyen Tran Hien, Hoang Thuy Long, Phan Kim Chi, Walter Devilé,

Trang 10

120

Erik J.C Van Ameijden, & Ivan

Wolffers (1999) HIV monitoring in

Vietnam: System, Methodology, and

result of sentinel surveilance Journal of

Acquired Immune Deficiency Syndrome,

21 (4), 338-346

4 Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS

Việt Nam Hội nghị toàn quốc về công

tác phòng chống HIV/AIDS Đà nẵng,

6-7/3/1998 Tr6

5 Ban AIDS thành phố Hà Nội Báo cáo

hoạt động phòng chống AIDS năm 1998

và kế hoạch hoạt động năm 1999 Hà

Nội 1/1999

6 Lê Vũ Anh và cộng sự Nghiên cứu sự

đáp ứng nhu cầu tư vấn của nhân dân về

HIV/AIDS ở thành phố Hải Phòng và tỉnh

Lạng Sơn Trường CBQL – UBQG phòng

chống AIDS Hà Nội 5/1999

7 Khuat Thu Hong et al Commercial

sex workers in the North – Social aspects

and Behaviours related to HIV/AIDS and

STD National AIDS Committee Vietnam

Draft Annals of scientific studies on

HIV/AIDS Hanoi, 11/1997

8 Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS

Việt Nam Bản tin nhanh HIV/AIDS Số

61 15/8/1999

9 Martin Fishbein et al Using

information to change sexually

transmitted disease-related Behaviors

An Analysis based on the theory of reasoned action Health education quarterly, Vol117 (1): 53-72 (Spring 1990) Published by Sohn Willey and Sons P63

10 Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS Việt Nam Khảo sát một số hoạt

động truyền thông và tư vấn HIV ở thành phố Hồ Chí Minh Bản tin nhanh HIV/AIDS Số 30, 15/3/1998

11 Nguyễn Văn Đoàn Mối quan hệ giữa

những người nhiễm HIV/AIDS với gia đình

và cộng đồng-Hiện trạng và giải pháp Học viện chính trị quốc gia Hội thảo về tìm các giải pháp chăm sóc về mặt tinh thần người nhiễm HIV (Đề tài TK01) Hà Nội 11-12/1997 Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS Việt Nam Tr2-5

12 Sukhontha et al 25th

summer seminar on population workshop on evaluating policy implication of the HIV/AIDS Epidemic in Asia June.6/1994

P 53-54

Abstract

The real situation of HIV/AIDS counselling services

in Hanoi and recommendations

A pilot cross-sectional study was conducted in order to identify the need and the use

of HIV/AIDS counselling services and real situation at the counselling facilities in Hanoi Data was obtained using a self-administered questionnaire to 8 groups of people with risk behaviors related to HIV/AIDS These groups also took part in group discussions Structured in-deep interviews with counsellors and observation at counselling facilities were also conducted

Ngày đăng: 20/03/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Phân bố nhu cầu và sử dụng dịch - Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc
Hình 1 Phân bố nhu cầu và sử dụng dịch (Trang 3)
Bảng 2: Liên quan giữa kiến thức với nhận - Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc
Bảng 2 Liên quan giữa kiến thức với nhận (Trang 4)
Hình 2: Phân bố kiến thức và nhận thức - Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc
Hình 2 Phân bố kiến thức và nhận thức (Trang 4)
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức hoạt động t− vấn tại thành phố Hà Nội. - Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc
Sơ đồ 1 Mô hình tổ chức hoạt động t− vấn tại thành phố Hà Nội (Trang 5)
Hình 4: Hình thức t− vấn - Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc
Hình 4 Hình thức t− vấn (Trang 6)
Hình 6: Hỗ trợ sau t− vấn - Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc
Hình 6 Hỗ trợ sau t− vấn (Trang 6)
Hình 5: Ph−ơng tiện t− vấn - Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội và những kiến nghị. doc
Hình 5 Ph−ơng tiện t− vấn (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w