Những tổn thương không phải là u ở tuyến ức trong chứng nhược cơ Nguyễn Vượng, Lê Trung Thọ, Mai Văn Viện và cộng sự Dựa trên nghiên cứu 184 bệnh nhân 1997 - 2002 có biểu hiện lâm sàn
Trang 1Những tổn thương không phải là u ở tuyến ức
trong chứng nhược cơ
Nguyễn Vượng, Lê Trung Thọ, Mai Văn Viện
và cộng sự
Dựa trên nghiên cứu 184 bệnh nhân (1997 - 2002) có biểu hiện lâm sàng chứng nhược cơ và được điều trị phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức tại khoa phẫu thuật lồng ngực, bệnh viện 103 (chẩn đoán mô học bệnh phẩm phẫu thuật được tiến hành tại Bộ môn - Khoa Giải phẫu bệnh trường Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Bạch Mai), các tác giả đã phát hiện 113 trường hợp (61,41%) tổn thương tuyến ức không phải là u Chẩn đoán mô học và tần xuất các tổn thương được tóm tắt như sau: quá sản nang lympho: 53 (46,90%); quá sản thực thụ: 22 (19,47%); thu teo: 18 (15,93%); viêm (tự miễn): 15 (13,27%); trong giới hạn bình thường: 5 (4,42%) Chẩn
đoán mô bệnh học và một số đối chiếu lâm sàng - giải phẫu bệnh đã được bàn luận
I Đặt vấn đề
Đã từ lâu, người ta đã biết bệnh học tuyến ức có
liên quan chứng nhược cơ và ngược lại [2, 3, 4, 7,
8] Hơn nữa, những tế bào lympho của tuyến ức có
vai trò nhất định trong bảo vệ miễn dịch, nên ngoài
nhược cơ được coi là bệnh tự miễn [2, 3, 4, 6, 7, 8],
bệnh học tuyến ức còn liên quan đến nhiều bệnh
và/hoặc hội chứng hệ thống có biểu hiện rối loạn
miễn dịch như bệnh tạo keo, vô gammaglobulin
máu, tăng gammaglobulin máu, bất sản hồng cầu,
viêm da cơ, lupus ban đỏ hệ thống, viêm đa cơ,
viêm đa khớp dạng thấp, hội chứng Cushing, viêm
cơ tim hạt mà cơ chế còn chưa được xác định rõ
[2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9] ở một công trình khác [1],
chúng tôi đã giới thiệu về u tuyến ức có nhược cơ
ở tài liệu này, chúng tôi nghiên cứu về nhược cơ
không có biểu hiện u tuyến ức nhằm mục đích:
1 Xác định tần xuất và các tổn thương vi thể
khác nhau ngoài u ở tuyến ức có biểu hiện nhược
cơ trên lâm sàng
2 Tìm hiểu một số yếu tố có liên quan qua đối
chiếu lâm sàng - mô bệnh học
II Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
Trong 5 năm 10 tháng (2/1997 đến hết
11/2002), 184 bệnh nhân có hội chứng nhược cơ
đã được cắt bỏ tuyến ức tại khoa Phẫu thuật lồng ngực, Bệnh viện 103, Học viện Quân y và được gửi
đến Bộ môn - Khoa Giải phẫu bệnh - Tế bào bệnh học Đại học Y Hà Nội và bệnh viện Bạch Mai để xét nghiệm mô bệnh học theo kỹ thuật thông lệ Bệnh phẩm được cân nặng, mô tả đại thể, cắt từ 3 -
5 mảnh mô bệnh hoặc nghi có tổn thương để làm tiêu bản vi thể Những hình ảnh điển hình, đại diện cho từng loại tổn thương được chụp ảnh vi thể mầu, làm phim dương bản, lưu đĩa mềm Những bệnh phẩm không xác định được tổn thương thường được cắt mảnh thêm để kiểm tra
III Kết quả
1 Tần xuất các tổn thương
Trong số 184 bệnh nhân đã nêu, chúng tôi đã xác định được 71 bệnh nhân có các loại u tuyến ức khác nhau, chiếm tỷ lệ (38,58%); số còn lại: 113 bệnh nhân, có những tổn thương tuyến ức không phải u, chiếm tỷ lệ 61,41% và bao gồm những loại tổn thương như sau (nêu ở bảng 1):
Trang 2Bảng 1 Phân loại mô bệnh học những tổn thương không u ở tuyến ức có hội chứng nhược cơ
Loại tổn thương mô bệnh học Số BN Tỷ lệ% trong nhóm
không u
Tỷ lệ% chung (trên tổng số BN)
1 Quá sản nang lympho tuyến ức 53 46,90% 28,80%
2 Quá sản thực thụ tuyến ức 22 19,47% 11,95%
3 Thu teo tuyến ức 18 15,93% 9,78%
4 Viêm (tự miễn) tuyến ức 15 13,27% 8,15%
5 Trong giới hạn bình thường 5 4,42% 2,72%
Như vậy, nếu đánh giá kết quả nghiên cứu
chung trên toàn bộ 184 bệnh nhân có hội chứng
nhược cơ được phẫu thuật thì tổn thương không
phải u (61,41%) chiếm ưu thế rõ so với tổn thương
u (38,58%) [9] và chúng tôi đã phát hiện 7 nhóm
bệnh chính ở tuyến ức có hội chứng nhược cơ theo
trình tự phổ biến lần lượt như sau: u lành tính
(33,70%); quá sản nang lympho (28,80%); quá sản
thực thụ (11,96%); thu teo (9,78%); viêm (tự miễn)
(8,15%); ung thư (4,89%) và trong giới hạn bình
thường (2,72%)
Qua bảng 1, đối với tổn thương không phải u
trong chứng nhược cơ, tần suất các tổn thương
trong nhóm này lần lượt như sau:
Quá sản nang lympho (46,90%); quá sản thực
thụ (19,47%); thu teo (15,93%), viêm (tự miễn)
(13,27%); trong giới hạn bình thường (4,42%)
2 Mô bệnh học
Để xác định được 5 nhóm tổn thương trên,
ngoài mô bệnh học, cần đối chiếu đại thể (hình
thái, mật độ và đặc biệt trọng lượng tuyến ức so
với tuổi)
2.1 Quá sản nang lympho tuyến ức
ở bội số nhỏ (phóng đại 40 lần), đều thấy có
tăng sinh rõ nang lympho với tâm mầm sáng nằm
ở khoảng quanh mạch và vùng tuỷ Có ảnh còn
thấy 3 tiểu thể Hassal (H) và 2 mạch xung huyết
mạnh song ở ảnh 2, không nhận được thể Hassal
Như vậy, hiện tượng quá sản rõ rệt nang lympho
với tâm mầm sáng trên các mảnh cắt ở cả vùng quanh mạch lẫn vùng tuỷ là tổn thương đặc trưng trong chứng nhược cơ song hình ảnh này thực sự chỉ gặp trong 40/53 (75,47%) trường hợp quá sản nang lympho của tuyến ức Số còn lại, chúng tôi
gọi là quá sản nang lympho cục bộ của tuyến ức,
cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ: 13/53 (24,53%)
ở trường hợp này, nang lympho quá sản cũng có tâm mầm sáng điển hình song trên các mảnh cắt, hiện tượng này chỉ thấy ở từng vùng nhỏ mô ức, mật độ nang lympho quá sản thưa thớt, thường dưới 1 trên một vi trường ở bội số nhỏ (độ phóng
đại 40) và cá biệt, trên tất cả các mảnh cắt chỉ thấy
1 - 2 sang lympho quá sản có tâm mẫn sáng rõ
2.2 Quá sản thực thụ (hay đơn thuần) tuyến
ức
Tổn thương có đặc điểm là mô ức chiếm phần lớn mảnh cắt (trên 80% diện tích), vẫn phân biệt
được vùng vỏ, vùng tuỷ, nhưng không phát hiện
được các nang lympho có tâm mầm sáng, không thấy hoặc thấy các tiểu thể Hassal và tế bào mỡ
Đáng lưu ý là sự phát triển của mô ức luôn không tương xứng với tuổi, bao giờ cũng quá mức Ngoài
ra, không nhận được tổn thương nào khác
2.3 Thu teo tuyến ức
Trái với tổn thương quá sản, ở đây mô ức bị thu hẹp, mô mỡ - liên kết thường chiếm tới trên 80%
diện tích mảnh cắt với cân nặng tuyến ức không tương ứng với tuổi, trong mô ức thu teo, vẫn còn nhận được các tiểu thể Hassal thoái hoá và các
Trang 3mạch xung huyết rõ Lympho bào cũng giảm rõ cả
về tổng thể lẫn trong mô ức ngoài mô mỡ
2.4 Viêm tuyến ức
Thực chất, tổn thương viêm mang tính chất
bệnh tự miễn: các tế bào tuyến ức thưa thớt, nghèo
tế bào, đặc biệt lympho bào Nhiều mạch phù,
xung huyết, chảy máu Tế bào biểu mô có xu
hướng kéo dài, hình thoi, đôi khi xếp thành hình
giả hoa hồng nhỏ Lác đác, có ít tế bào viêm
2.5 Tuyến ức trong giới hạn bình thường
Ngoài trọng lượng mô ức tương ứng với tuổi,
như ở ảnh 8, về vi thể, tỷ lệ mô ức trên diện cắt
tương ứng với tuổi và không nhận được tổn thương
IV Bàn luận
1 Về chẩn đoán và phân loại mô bệnh học
Trước hết, cần loại trừ các tổn thương u được nêu trong tài liệu trước [1] Cần chú ý đến đặc
điểm mô xơ chia cắt mô ức thành các đám, đảo, ổ, giải, trong đó cấu trúc của mô ức bị xáo trộn (u lành) với hiện tượng đảo lộn cấu trúc rõ, xâm lẫn mô u vào vùng vỏ xơ hay mạch là quan trọng hơn tính chất ác tính của tế bào (u ác) Những tổn thương không phải u như ở tài liệu này thường không nhận được u khi quan sát hoặc sờ nắn tuyến
ức về đại thể, kể cả khi tuyến ức to so với tuổi (xem bảng 2) và vì thế, tổn thương chủ yếu mang tính chất lan toả
Bảng 2 Cân nặng (hay trọng lượng) tuyến ức theo tuổi [6]
Tuổi Trọng lượng tuyến ức (gam) Tuổi Trọng lượng tuyến ức (gam) Sơ sinh 7,3 - 25,5 26 - 30 8,3 - 51,5
1 - 5 8 - 48 31 - 35 9 - 37
5 - 10 13 - 48 36 - 43 5,9 - 36
10 - 15 19 - 43,3 47 - 55 6 - 45
15 - 20 15,9 - 49,7 56 - 65 2,1 - 27
21 - 25 9,5 - 51 66 - 90 3 - 31
Chúng tôi sử dụng bảng này theo Rosai F và
cộng sự năm 1976 [7] vì những thống kê của Bộ
môn và Khoa về cân đo tuyến ức đầu thập niên 60
(thế kỷ 20) đã thất lạc Bảng 2 cũng cho thấy sự
dao động về trọng lượng tuyến ức trong giới hạn
bình thường theo tuổi là khá lớn
Tất cả những bệnh nhân nêu ở tài liệu này đều
có chứng nhược cơ được xác định về lâm sàng và
miễn dịch học nên chẩn đoán là không nghi ngờ vì
tất cả những người này đều được phẫu thuật cắt bỏ
tuyến ức Song qua xét nghiệm và phân loại tổn
thương mô bệnh học như nêu ở bảng 1, không phải
bao giờ cũng xác định được tổn thương và hoặc tổn
thương đặc trưng Tổn thương điển hình được các
tác giả thống nhất từ lâu là đặc trưng cho nhược cơ
về vi thể bằng quá sản nang lympho tuyến ức lại
được Damjanov L và cộng sự [3] gọi là viêm tuyến
ức nang lympho vì muốn nhấn mạnh bản chất của
quá trình là viêm tự miễn và phân biệt với quá sản tuyến ức thực thụ, tuyến ức to so với tuổi nhưng không có nang quá sản với tâm mầm sang Tỷ lệ 46,90% quá sản nang lympho ở tài liệu này chỉ ở mức thấp so với y văn: 50 - 70% [3]; 65% [8]; 75
- 85% [7] Đối lập với quá sản nang lympho, tổn thương thu teo tuyến ức về vi thể, được đa số tác giả thống thất về thuật ngữ cũng như mô bệnh học [2, 5, 6, 7, 8, 9] Với tốn thương quá sản tuyến ức thực thụ như đã nêu ở 2.2, y văn cũng thống nhất
có tăng kích thước, trọng lượng tuyến ức với hình
ảnh vi thể bình thường song điều chúng tôi muốn nhấn mạnh (vì không nêu cụ thể trong y văn) là mô liên kết mỡ, lẽ ra phát triển nhiều ngược lại với tuổi thì ở đây, lại bị thu hẹp và vì thế mô ức thực thụ thường chiếm trên 80% diện tích mảnh cắt Ngoài những tổn thương trên, một số tác giả có nêu tổn thương loạn sản tuyến ức (thuật ngữ loạn sản không thực sự chuẩn về mô bệnh học) [2, 7, 8,
Trang 49] như một bệnh suy giảm miễn dịch tiên phát, với
sự mất biệt hoá vùng vỏ và tuỷ, thiếu hoặc mất
lympho bào, các tế bào biểu mô có xu hướng kéo
dài, hình thành ống hay hình hoa hồng nhỏ không
rõ lòng Đó là loại viêm tuyến ức (tự miễn) chúng
tôi đã nêu ở mục 2.4 với một vài chi tiết bổ sung
(tế bào tuyến ức thưa thớt, nhiều mạch phù, xung
huyết; lác đác ít tế bào viêm) Chúng tôi nêu nhóm
vi thể: trong giới hạn bình thường (mục 2.5) là vì
không phát hiện được tổn thương cả về đại thể và
vi thể Tỷ lệ 4,42% ở tài liệu này thấp hơn của
Damjanov L và cộng sự [3]: 10% - 20% và của
Rosai F và cộng sự [7]: 16 - 25% Tỷ lệ viêm
tuyến ức ở đây là 13,27% cũng tương tự tỷ lệ tương
ứng của Damjanov L và cộng sự [3]: 10% song tỷ
lệ quá sản thực thụ tuyến ức (19,487%) lại cao hơn
hẳn tỷ lệ tương ứng của các tác giả trên [3]: < 1%
Rõ ràng là để hiểu rõ hơn về bệnh sinh của chứng
nhược cơ và tính đa dạng của tổn thương về vi thể,
cần có những nghiên cứu sâu hơn về bệnh học
phân tử bao gồm cả siêu cấu trúc, hoá mô miễn
dịch học, gen học và hàng loạt chất đánh dấu sinh
học và đây là hướng nghiên cứu tương lai của
chúng tôi
2 Về một số yếu tố có liên quan
2.1 Tiên lượng bệnh
Số bệnh nhân được phẫu thuật và theo dõi là
100%, từ 1 - 7 năm sau mổ Nhìn chung, bệnh
nhân đều có tiến triển tốt và không có tái phát Chỉ
có 1/113 trường hợp tử vong ở một bệnh nhân nữ
61 tuổi không do tuyến ức mà do tai biến mạch
máu não
2.2 Giới
Số bệnh nhân nữ chiếm ưu thế rõ so với số bệnh
nhân nam 79/113 (# 70%) và 34/113 (#30%)
không chỉ trong nhược cơ, không u nói chung mà
còn trong cả từng typ tổn thương của 5 nhóm nêu ở
bảng 1; đáng chú ý ở các nhóm quá sản nang
lympho: 71,70% so 28,30%; thu teo: 88,89% và
11,11%; trong giới hạn bình thường: 80% và 20%
Còn ở 2 nhóm quá sản thực thụ và viêm tự miễn,
sự chênh lệch ít hơn, lần lượt theo trình tự: 54,55%
và 45,45%; 60% và 40%
2.3 Tuổi
Tỷ lệ mắc bệnh theo tuổi, lần lượt như sau: 13 -
19 tuổi: 29,20%; 20 - 29: 23%; 30 - 39 = 15,93%;
40 - 49 = 21,24%; 50 - 59: 8,85%; ≥ 50: 1,77% Trường hợp trẻ nhất là 13 tuổi (viêm tự miễn) và nhiều tuổi nhất: 66 Tỷ lệ 29,20% ở nhóm tuổi 13
- 19 là cao nhất, riêng trẻ em (13 - 14 tuổi) cũng
có đến 7 trường hợp, chiếm tỷ lệ 6,19% cao hơn hẳn ở người có tuổi (2 trường hợp: 1,77%) song cũng không có sự khác biệt rõ với nhóm có u ở tuổi tương ứng (6 trường hợp: 8,45%) [1] Nhóm tổn thương nêu ở bảng 1 đều được thấy ở 6 độ tuổi vừa nêu là: quá sản nang lympho, quá sản thực thụ, viêm tự miễn và có xu hướng giảm dần theo tuổi,
rõ nhất ở 2 nhóm quá sản nang lympho và quá sản thực thụ Song ở nhóm thu teo, không gặp bệnh nhân ở độ tuổi 29 trở xuống, chủ yếu gặp ở tuổi từ
40 - 59 (77,78%) Trong khi ở nhóm trong giới hạn bình thường, ngược lại, không gặp bệnh nhân nào từ độ tuổi 30 trở lên, chỉ gặp ở tuổi 18 - 28
2.4 Giai đoạn bệnh
Tất cả 113 bệnh nhân đều có giai đoạn Masaoka O là phù hợp vì không có tổn thương u
Tỷ lệ bệnh nhân được phẫu thuật ở giai đoạn II của Ossman là cao nhất (83,18%) ít hơn ở giai đoạn I (12,39%) và III (4,12%)
v Kết luận Chẩn đoán mô học và tần suất các tổn thương của 113 trường hợp (61,41%) tổn thương tuyến ức không phải là u như sau: quá sản nang lympho: 53 (46,90%); quá sản thực thụ: 22 (19,47%); thu teo:
18 (15,93%); viêm (tự miễn): 15 (13,27%); trong giới hạn bình thường: 5 (4,42%)
Số bệnh nhân nữ chiếm ưu thế rõ so với số bệnh nhân nam 79/113 (# 70%) và 34/113 (#30%) ở các nhóm quá sản nang lympho: 71,70% so 28,30%; thu teo: 88,89% và 11,11%; trong giới hạn bình thường: 80% và 20% Còn ở 2 nhóm quá sản thực thụ và viêm tự miễn, sự chênh lệch ít hơn,
Trang 5lần lượt theo trình tự: 54,55% và 45,45%; 60% và
40%
Tỷ lệ mắc bệnh theo tuổi, lần lượt như sau: 13 -
19 tuổi: 29,20%; 20 - 29: 23%; 30 - 39 = 15,93%;
40 - 49 = 21,24%; 50 - 59: 8,85%; ≥ 50: 1,77%
Trường hợp trẻ nhất là 13 tuổi (viêm tự miễn) và
nhiều tuổi nhất: 66 ở nhóm thu teo, không gặp
bệnh nhân ở độ tuổi 29 trở xuống, chủ yếu gặp ở
tuổi từ 40 - 59 (77,78%); nhóm trong giới hạn
bình thường chỉ gặp ở tuổi 18 - 28
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Vượng, Mai Văn Viện, Lê Trung
Thọ, Đặng Văn Dương (2003) U tuyến ức có hội
chứng nhược cơ In pres
2 Cabanne F et Bon Enfant F L (1986) In:
Anatomie pathologique: Thymus (678 - 682) 2
édition Les presses de l’université Laval Québec
Maloine SA édituer Paris (1490p)
3 Damjanov L., Linder F (1996) In:
Anderson Pathology vol II Mosby
4 Marino M, Hans Konrad Muller -
Hermelink (1985), Thymoma and thymic
carcinoma Wirchow Arch (Pathol Anat) 407 (119
- 149)
5 Miller Q, Kline A L Thymoma (Author information) 2003, Cofyright, Section 1 - 11, E
Medicine, com Inc
6 Robbins S L, Cotran R S, Kumar V (1994); In: Robbins pathologic basis of the disease
Thymus (1105 - 1168) W B Saunders company
7 Rosai F., Levine G D, (1976) In: Tumours
of the thymus Armed forces institute of Pathology Washington DC 222p
8 Rosai f, In (1989): Ackerman’s surgical
pathology vol 1 Thymus (348 - 390) Mosby company
9 Rubin E., Farber f L (1994); In: Pathology
thymus (1144 - 1146), Second edition, F B Lippincott company
Summary
Non tumor lesions of the thymus in myasthenia gravis
Based on a study from 184 patients (1997 - 2002) with clinical manifestations of myasthenia gravis and surgically treated by thymectomy at the department of thoracic susgery, 103 hospital (histologic diagnosis of surgical specimen were made at the departments of pathology and cytopatholy, Hanoi medical university and Bach Mai hospital), the authors have been revealed 113 cases (61,41%) of non tumor thymus lesions Histologic diagnosis and pequency of these lesions were summarized as follows: lymphoid follicular hyperplasia: 53 (46,90%); true thymus heperplasia: 22 (19,47%); involution (thymus atrophy): 18 (15,93%); (autoimmune) thymustis: 15 (13,27%); within normal limits: 5 (4,42%)
Histopathologic diagnosis and some correlations between clinical pathological studies were discussed.