Các biến chứng nặng gặp ở một tỷ lệ đáng kể, đặc biệt nhất là tình trạng suy thận chiếm 62,6% bệnh nhân, trong đó có 20,2% bệnh nhân suy thận độ IIIb và độ IV.. Nguyên nhân dẫn đến suy t
Trang 1Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân sỏi
niệu điều trị tại khoa thận bệnh viện Bạch Mai
Đỗ Thị Liệu 1 , Nguyễn Thị Loan 2
1 Bộ môn Nội tổng hợp Đại học Y Hà Nội,
2 Sinh viên Y6 Đại học Y Hà Nội
Qua nghiên cứu 150 bệnh nhân sỏi niệu chúng tôi có những nhận xét sau:
Tỷ lệ phát hiện bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn nữ (tỷ lệ nam: nữ là 55,3%: 44,7%) Tuổi thường gặp là 45 tuổi, đặc biệt là ở bệnh nhân > 55 tuổi (47,3%)
90% bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng của sỏi thận, tiết niệu 10% bệnh nhân được phát hiện tình
cờ Biểu hiện thường gặp nhất là đau vùng hông lưng (54%) Đau quặn thận rõ cũng gặp ở 10,7% trường hợp
Các biến chứng nặng gặp ở một tỷ lệ đáng kể, đặc biệt nhất là tình trạng suy thận chiếm 62,6% bệnh nhân, trong đó có 20,2% bệnh nhân suy thận độ IIIb và độ IV Nguyên nhân dẫn đến suy thận có thể do tình trạng ứ nước, ứ mủ bể thận (24% bệnh nhân) hoặc viêm thận bể thận cấp, mạn (38% bệnh nhân)
Siêu âm phát hiện được 91,1% bệnh nhân sỏi, trong khi chụp X quang hệ tiết niệu chỉ phát hiện
được 80,5% bệnh nhân Siêu âm có ưu thế là phát hiện được cả những sỏi không cản quang nhưng khó phát hiện được sỏi niệu quản, đặc biệt là đoạn niệu quản giữa
I Đặt vấn đề
Sỏi niệu là một bệnh rất thường gặp Nếu
bệnh được phát hiện muộn thì có nhiều biến
chứng nặng, có thể có nguy cơ tử vong
Theo Hoàng Mai Trang, quân y viện 103, tử
vong do suy thận mãn giai đoạn cuối nguyên
nhân do sỏi chiếm 1,2%, tỷ lệ suy thận ở bệnh
nhân có sỏi thận là 44% ở khoa Thận bệnh
viện Bạch Mai trong 5 năm từ năm 1991 đến
1995 có 216/ 2256 bệnh nhân được nhập viện
có viêm thận bể thận do sỏi chiếm 10,4%, 31%
bệnh nhân suy thận mạn nguyên nhân do sỏi
Các biến chứng nặng cấp tính là suy thận
cấp, thận ứ nước, ứ mủ do sỏi Biến chứng lâu
dài là suy thận mạn do viêm và tắc nghẽn
đường thận, tiết niệu
Để góp phần chẩn đoán và điều trị bệnh sỏi
thận ngày càng được tốt hơn, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh
nhân sỏi niệu
2 Đánh giá tình trạng các biến chứng của sỏi niệu
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu bao gồm 150 bệnh
án của bệnh nhân bị sỏi niệu được điều trị nội trú tại khoa Thận, tiết niệu bệnh viện Bạch Mai -từ 1/1999 - 12/2001
- Chẩn đoán xác định sỏi niệu dựa vào phim chụp x-quang hoặc siêu âm có phát hiện sỏi
2 Phương pháp nghiên cứu:
Là nghiên cứu hồi cứu
Tất cả các bệnh nhân đều được làm bệnh
án thống nhất, các kết quả được đánh giá như sau:
♦ Tăng huyết áp dựa theo phân loại của WHO/ ISH 1999 Huyết áp được coi là tăng khi lớn hơn hoặc bằng 140/ 90 mmHg
♦ Suy thận dựa theo bảng phân độ suy thận của Nguyễn Văn Xang [7]:
Trang 2 Độ I: Creatinin huyết thanh 110-129
àmol/l
Độ II: Creatinin huyết thanh 130-299
àmol/l
Độ IIIa: Creatinin huyết thanh
300-499àmol/l
Độ IIIb: Creatinin huyết thanh 500-900
àmol/l
Độ IV: Creatinin huyết thanh > 900
àmol/l
Các số liệu thu thập được xử lý theo thuật
toán thống kê trên máy vi tính bằng chương
trình phần mềm SPSS 10.0
III Kết quả
1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên
cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 150 bệnh
nhân bao gồm 67 bệnh nhân nữ (44,7%) và 83
bệnh nhân nam (55,3%) Tuổi trung bình là
53,5 ± 14,2 tuổi Tuổi thấp nhất là 18 tuổi, cao
nhất là 86 tuổi Tuổi hay gặp mắc bệnh sỏi
niệu là trên 45, đặc biệt là trên 55 tuổi (47,3 %
bệnh nhân)
2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân sỏi
niệu
Bảng 1: Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng
lâm sàng
Số bệnh nhân (n=150)
Tỷ lệ
% Không có triệu
chứng lâm sàng
15 10,0
Rối loạn tiểu tiện 46 31,7
Có 15/150 trường hợp được phát hiện tình
cờ có sỏi chiếm 10% bệnh nhân Triệu chứng thường gặp nhất là đau vùng hông lưng chiếm 54% bệnh nhân Tăng huyết áp gặp ở 34/146 trường hợp chiếm 23,4%, trong đó chủ yếu là tăng huyết áp độ II và độ III (18,5%) Sốt khi nhập viện cũng gặp ở một tỉ lệ cao là 32,7%
Bảng 2: Tiền sử bệnh sỏi thận tiết niệu
Chưa phát hiện bệnh STTN 78 52
Đã phẫu thuật 1 lần 31 20,7
Đã phẫu thuật 2 lần 5 3,3
Đã phẫu thuật 3 lần 1 0,7
Đã phát hiện bệnh STTN
Chưa phẫu thuật 35 23,3
Có 72/150 bệnh nhân có tiền sử đã được phát hiện sỏi thận tiết niệu 37 bệnh nhân có tiền sử đã được phẫu thuật lấy sỏi trong đó 5 bệnh nhân được phẫu thuật 2 lần, 1 bệnh nhân
được phẫu thuật 3 lần
3 Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 3 : Tình trạng chức năng thận dựa vào Creatinin huyết thanh
Creatinin huyết
thanh (àmol/l)
Số bệnh nhân (n=139)
Tỷ lệ %
Qua bảng 3 chúng tôi thấy có 87/ 139 bệnh nhân có Creatinin huyết thanh tăng lúc nhập viện, chiếm 62,6% Suy thận nặng độ IIIb và độ
IV với mức Creatinin > 500 àmol/l cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể là 20,2%
Trang 3Bảng 4: Những thay đổi về điện giải máu
Chất điện giải
(mmol/l)
Số bệnh nhân (n=145)
Tỷ lệ%
<130 13 9,0
Na+
>145 7 4,8
K+
90-110 130 89,7
Cl ư
>110 10 6,9
<2,15 6/20 30
Ca+ +
>2,6 0 0 Qua bảng 4 cho thấy rối loạn điện giải máu
ở bệnh nhân sỏi niệu rất đa dạng Giảm Na+
máu gặp ở 9% bệnh nhân, tăng K+ gặp ở
15,2% bệnh nhân Chỉ có 20 bệnh nhân được
làm xét nghiệm Ca2+ máu nhưng không phát
hiện trường hợp nào có tăng Ca2+ máu rõ rệt
Bảng 5: Tỷ lệ xuất hiện các thành phần
Protein, hồng cầu, bạch cầu, tinh thể trong
nước tiểu
Thành phần nước tiểu Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
%
Có 80 58 Protein
Không 58 42
Hồng cầu
Không 79 44,4
Bạch cầu
Không 15 9,9
Tinh thể
Không 108 23,9 *: 138 bệnh nhân được làm protein niệu,
142 bệnh nhân được làm tế bào và tinh thể
niệu
Qua bảng 5 cho thấy có tới 85/ 138 trường
hợp có Protein niệu chiếm 58% bệnh nhân Có
127/ 142 trường hợp có bạch cầu niệu chiếm 89,4% bệnh nhân Chỉ có 34/142 trường hợp có tinh thể niệu rõ chiếm 23,9%
Tỷ lệ phát hiện sỏi và tình trạng thận, bể thận qua siêu âm:
Bảng 6 Vị trí của sỏi niệu qua siêu âm
Vị trí Số bệnh nhân
(n = 135)
Tỷ lệ
%
SĐBT 2 bên SNQ 1bên
2 1,6
SĐBT 1 bên SNQ 1
bên
7 5,7
SĐBT 1 bên SNQ 2
bên
1 0,8
Không phát hiện sỏi 12 9,1
Bảng 7 Tình trạng đài bể thận gi∙n qua
siêu âm
Tình trạng
đài bể thận - NQ
Số bệnh nhân (n=135)
Tỷ lệ
%
ĐBT
NQ
Có 135/150 bệnh nhân được làm siêu âm thận tiết niệu trong đó có 123 bệnh nhân phát hiện được sỏi chiếm 91,1% bệnh nhân Qua bảng 6 cho thấy vị trí của sỏi phát hiện được rất thay đổi Hay gặp nhất là sỏi đài bề thận một bên hoặc hai bên chiếm tới 85,1% Sỏi niệu quản đơn độc hoặc kết hợp với sỏi đài bề thận chiếm 14,9% Có 8,9% bệnh nhân không phát hiện được sỏi qua siêu âm chủ yếu là bệnh nhân có sỏi ở đoạn niệu quản giữa
Trang 4Chụp X quang bụng không chuẩn bị được
tiến hành ở 77 bệnh nhân Có 62/77 bệnh nhân
được phát hiện sỏi chiếm 80,5% bệnh nhân
Có 19,5% bệnh nhân không phát hiện được
sỏi, có thể là sỏi không cản quang hoặc ở
những vị trí khó xác định (chồng vào cột sống,
khung chậu)
Bảng 8 Các biến chứng thường gặp của
bệnh sỏi thận, tiết niệu
Biến chứng Số bệnh nhân
(n = 150)
Tỷ lệ%
Không biến chứng 33 22,0
Nhiễm khuẩn tiết niệu 6 4,0
Viêm thận bể cấp 23 15,3
Viêm thận bể mạn 34 22,7
Thận ứ nước, ứ mủ 36 24,0
Qua bảng 8 cho thấy biến chứng suy thận
gặp nhiều nhất chiếm 42,7% bệnh nhân Biến
chứng nặng cấp tính như viêm thận bể thận
cấp, ứ nước, ứ mủ bể thận cũng chiếm một tỷ lệ
đáng kể là 15,3 và 24% bệnh nhân nghiên cứu
IV bàn luận
1 Đặc điểm về tuổi, giới của đối tượng
nghiên cứu
Qua nghiên cứu 150 bệnh nhân sỏi niệu
của 2 năm 1999- 2001 điều trị tại khoa Thận
bệnh viện Bạch Mai chúng tôi nhận thấy tỷ lệ
phát hiện bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ (tỷ lệ
nam : nữ là 55,3% : 44,7%) Tuổi thường gặp là
> 45 tuổi, đặc biệt là ở bệnh nhân > 55 tuổi
(47,3%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù
hợp với nhận xét của một số tác giả khác
Theo nghiên cứu tiến hành tại khoa Tiết
niệu bệnh viện Bình Dân từ 1973-1977, có
1160 trường hợp sỏi thận được điều trị nội trú,
tỷ lệ nam chiếm 69,39%, nữ chiếm 30,61% [5]
Theo một số nghiên cứu của Fan Y thì cho
rằng Androgen tăng, oestrogen giảm là nguyên
nhân làm tăng oxalic máu, bài tiết oxalat niệu
dẫn đến bệnh sỏi niệu là bệnh gặp ưu thế ở nam giới [9]
2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
ở bệnh nhân sỏi thận, tiết niệu
Theo nghiên cứu của chúng tôi 90% bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng của bệnh sỏi thận, tiết niệu; 10% bệnh nhân được phát hiện tình cờ
Biểu hiện thường gặp nhất là đau vùng hông lưng (54%) Đau quặn thận rõ cũng gặp ở 10,7% trường hợp Nhận xét này của chúng tôi phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả Đàm Văn Cương nghiên cứu 50 trường hợp bị sỏi niệu quản dưới
được tán qua nội soi từ 1998- 2000 thì có 34/50 bệnh nhân có biểu hiện đau hông lưng [1] Nguyễn Thuỵ Linh khi nghiên cứu 85 trường hợp sỏi đường tiết niệu có biến chứng suy thận nhận xét rằng triệu chứng đau hông lưng xuất hiện ở 100% các bệnh nhân sỏi có biến chứng suy thận cấp và ở 96% bệnh nhân sỏi có biến chứng suy thận mạn [6] Đau vùng hông lưng thường là biểu hiện của thận ứ nước ứ mủ, sỏi đài bể thận hoặc sỏi niệu quản gây tắc nghẽn niệu quản Đau hông lưng kèm sốt cao, bạch cầu niệu nhiều, có vi khuẩn niệu và protein niệu là biểu hiện của viêm thận bể thận cấp
Trong nghiên cứu của chúng tôi sốt gặp ở 49/150 trường hợp, chiếm 32,7% Tỷ lệ gặp bệnh nhân có sốt ở nghiên cứu này cao hơn nhận xét của một số tác giả khác Theo Trần
Đức Hoè sốt gặp ở 12,3% tổng số bệnh nhân [3] Nguyễn Thuỵ Linh gặp 12,9% bệnh nhân sỏi tiết niệu có sốt [6]
Đái buốt, đái rắt cũng gặp một tỷ lệ cao ở bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu (31,7%), cao hơn nhận xét của Trần Đức Hoè (15,4%)
và Nguyễn Thuỵ Linh (22,3%) [3, 6]
Tỷ lệ cao bệnh nhân có sốt và đái buốt, đái rắt trong nghiên cứu này là do bệnh nhân được
điều trị tại một khoa thận nội khoa đầu ngành,
đa số các bệnh nhân được điều trị là các bệnh nhân nặng, có biến chứng
Thận to biểu hiện của một tình trạng ứ nước, ứ mủ gặp ở 12/150 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, thấp hơn nhận
Trang 5xét của một số tác giả khác Đoàn Đắc Huy
nhận xét rằng có 26,76% bệnh nhân có thận to
ứ nước, Nguyễn Thuỵ Linh gặp tỷ lệ này là
13,3% Có sự khác nhau này có lẽ do đối tượng
bệnh nhân của chúng tôi là bệnh nhân được
điều trị tại khoa thận nội khoa nên biến chứng
nhiễm trùng, suy thận thường gặp hơn là thận
to ứ nước, một tình trạng bệnh lý cần can thiệp
ngoại khoa
Các triệu chứng khác:
Tăng huyết áp ở 23,3% tổng số bệnh nhân
nghiên cứu Suy thận gặp ở 62,6% bệnh nhân
Đây là hai tình trạng bệnh lý chứng tỏ các biến
chứng ở thận đã nặng và lâu dài Trong số những
bệnh nhân có suy thận lúc nhập viện, tỷ lệ bệnh
nhân suy thận độ II chiếm cao nhất (21,6%) Tuy
nhiên cũng có 13,7% bệnh nhân suy thận độ IIIb
và 6,5% bệnh nhân suy thận độ IV Tỷ lệ cao của
biến chứng suy thận trong bệnh nhân nghiên cứu
của chúng tôi chứng tỏ bệnh sỏi niệu là một bệnh
lý nặng cần được chẩn đoán và xử trí sớm để tránh
biến chứng suy thận không hồi phục, một biến
chứng có thể coi là nặng và nguy hiểm nhất của
bệnh sỏi thận, tiết niệu Suy thận trong bệnh lý sỏi
niệu là hậu quả của tình trạng tắc nghẽn đường
bài niệu gây ứ nước, ứ mủ bể thận, viêm thận bể
thận cấp rồi mạn tính Trong nghiên cứu này bạch
cầu niệu gặp ở 90,1% bệnh nhân, protein niệu ở
58% bệnh nhân, 32,7% bệnh nhân có biểu hiện
sốt và 31,7% bệnh nhân có biểu hiện đái buốt, đái
rắt chứng tỏ tình trạng nhiễm trùng đường tiểu ở
bệnh nhân sỏi thận, tiết niệu là rất đáng kể
IV kết luận
Từ 150 bệnh nhân sỏi thận tiết niệu được điều
trị nội trú tại khoa Thận bệnh viện Bạch Mai từ
1999 - 2001, chúng tôi thấy:
• Tuổi phát hiện bệnh thường gặp là trên
45, đặc biệt là trên 55 tuổi Tỷ lệ bệnh nhân trên
55 tuổi chiếm 47,3% Biểu hiện thường gặp nhất
là đau lưng (54% bệnh nhân)
• Biến chứng suy thận gặp ở 62,6% bệnh
nhân trong đó 20,2% bệnh nhân suy thận nặng
độ III và độ IV Nguyên nhân dẫn đến suy thận là
ứ nước, ứ mủ bể thận (24%) hoặc viêm thận bể
thận cấp, mạn (38% bệnh nhân)
Tài liệu tham khảo
1 Đàm Văn Cương (2001) Kết quả bước
đầu qua 50 ca tán sỏi niệu quản dưới bằng phương pháp nội soi Tạp chí Y học Việt Nam
số 4/2001 trang 34- 38
2 Nguyễn Thành Đức (1997) Một số nhận xét về đặc điểm lâm sàng và xử trí 31 trường hợp đã có suy thận do sỏi Tạp chí Y học thực hành số 4/1997 Trang 12-44
3 Trần Đức Hoè (1994) Lâm sàng và thái
độ xử trí 65 trường hợp sỏi san hô hai bên thận Tạp chí Y học thực hành số 2/1994 Trang
6-10
4 Đoàn Đắc Huy (2000) Nghiên cứu chẩn
đoán điều trị sỏi trong các dị tật bẩm sinh
đường tiết niệu trên ở người lớn bệnh viện Việt
Đức Hà Nội từ 1995 đến 1999 Luận án thạc sỹ
Y học 2000
5 Ngô Gia Hy (1980) Sỏi cơ quan niệu Niệu học tập I Nhà xuất bản Y học, trang 50-
85
6 Nguyễn Thuỵ Linh (2001) Một số đặc
điểm lâm sàng và chẩn đoán bệnh sỏi đường tiết niệu trên đã có biến chứng suy thận Y học Việt Nam số 4,5,6/2001 Trang 125 -131
7 Nguyễn Văn Xang (2000): Suy thận mạn, Bài giảng Bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tập I; trang 148-158
8 Alain Roje G (1992) The medical management of renal stone Oxford textbook of clinical nephrology, Vol III P.1847 - 1866
9 Fan.Y (1999) Role of sex hormones in experimental calcium oxalate nephrolithiasis Medline
10 George W Drach (1992) Urinary lithiasis etiology, diagnostic and medical management Campbell’s urology Vol 2 P.2085 – 2146
11 Glenn.M, Preminger (1990) Investigation of urinary stone disease Diagnostic techniquies in urology P.427-432
Trang 6Abstract
Clinical and biological characteristics of patients with urolithiasis of dept of nephrology bach mai
hospital
Among 150 patients presented with urolithiasis & hospitalized in dept of nephrology bach mai hospital we observed the predominance of male patients to females (the sex ratio male: female = 55.3%: 44,7%) The age commonly seen was more than 45 years old, especially mor than 55 years old (47.3%)
90% patients presented with signs & symptoms of urolithiasis 10% of patients were detected accidentaly Lumbago was most frequently seen (54%) nephritic colic was seen in 10.7% of cases Severe complications noted in important amount of patients can include renal failure (total 62.6% with 20.2% of severe degree IIIb-IV) Renal failure may be due to the presence of pyonephritis (24% of cases) or of acute and chronic pyelonephritis
91,1% of cases of urolithiasis can be detected by Ultrasound but only 80.5% by X-ray examination
Ultrasound can reveal the non radioopaque calculs but it is not sensible in detecting the ureteral calculs especially those of middle third of ureter