Khảo sát ô nhiễm môi trường nước nước thải và nước sinh hoạt về mặt lý hoá do chất thải y tế tại 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh Trần Thị Thoa, Nguyễn Thị Thu Đinh Hữu Dung, Lê Thị Tài
Trang 1Khảo sát ô nhiễm môi trường nước (nước thải và nước sinh hoạt) về mặt lý hoá do chất thải y tế
tại 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh
Trần Thị Thoa, Nguyễn Thị Thu
Đinh Hữu Dung, Lê Thị Tài và cộng sự
Khoa Y tế công cộng - Đại học Y Hà Nội
Tại 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh: Yên Bái, Việt Trì, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Cần Thơ, Đồng Tháp được lấy mẫu nước thải, nước sinh hoạt khu vực bên trong bệnh viện và ngoài khu dân cư để xác định mức độ ô nhiễm một số chỉ tiêu hoá lý cơ bản Kết quả cho thấy:
- Những bệnh viện chưa có hệ thống xử lý chất thải lỏng, nước thải từ các cống chính bị
ô nhiễm nặng so với TCCP và gây ô nhiễm khu dân cư bên ngoài nơi cống thải đổ ra
- Nước thải sau xử lý ở các bệnh viện đã xử lý đạt GHCP-B về chỉ tiêu lý hoá cơ bản
- 58% mẫu nước sinh hoạt tại khu vực các bệnh viện chưa xử lý không đạt TCVS, trong
đó khu dân cư tiếp giáp với cống thải bệnh viện đổ ra có số mẫu nước sinh hoạt không đạt TCVS nhiều nhất nhưng để kết luận cần có những nghiên cứu sâu thêm
- Chỉ 25,3% số mẫu nước sinh hoạt tại khu vực các bệnh viện đã xử lý không đạt TCVS, thấp hơn khu vực các bệnh viện chưa xử lý
I Đặt vấn đề
Chất thải y tế đang là vấn đề quan tâm
của toàn xã hội Đó là một trong những loại
chất thải phức tạp, nguy hiểm có khả năng
gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến
sức khoẻ cộng đồng [3] Tuy vậy rất nhiều
bệnh viện chất thải không được xử lý [1]
hoặc nếu có được xử lý thì hiệu quả và hoạt
động ra sao vẫn đang còn là một vấn đề,
trong khi những nghiên cứu về ảnh hưởng
của chất thải y tế đối với môi trường còn rất
hạn chế [5] Vì vậy cần thiết phải đánh giá
thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải
y tế đặc biệt do nước thải y tế gây ra trên cả
các bệnh viện đã xử lý cũng như các bệnh
viện chưa xử lý chất thải Đề tài được tiến
hành nhằm mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi
trường nước (nước sinh hoạt và nước thải)
về mặt lý hoá tại một số bệnh viện không
xử lý chất thải
2 Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường nước (nước sinh hoạt và nước thải)
về mặt lý hoá cũng như hiệu quả của hệ thống xử lý chất thải tại một số bệnh viện có
xử lý chất thải
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Các mẫu nước thải, nước sinh hoạt của:
- Các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý chất thải: Bệnh viện Đa khoa Yên Bái, Đa khoa Quảng Nam, Đa khoa Cần Thơ
- Các bệnh viện đã có hệ thống xử lý chất thải: Bệnh viện Đa khoa Việt Trì, Đa khoa Quảng Ngãi, Đa khoa Đồng Tháp
Trang 2- Các hộ dân cư xung quanh và dọc
theo nguồn nước thải của các bệnh viện
nói trên
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Lấy mẫu và xét nghiệm các chỉ
số lý hoá của nước thải, nước sinh hoạt
theo TCVN, EPA hoặc thường quy kỹ thuật
của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi
trường [2], [6]
Vị trí lấy mẫu nước thải
- Nước thải từ các cống thải chính của
các bệnh viện chưa xử lý nước thải
- Nước thải trước xử lý và sau xử lý của
các bệnh viện có xử lý nước thải
- Các mẫu nước tại một số điểm dọc
theo dòng chảy nước thải bệnh viện ở ngoài
khu vực dân cư và điểm chứng
Các chỉ số lý hoá cần xét nghiệm
- Lý học: nhiệt đô, độ đục, cặn lơ lửng và
không tan
- Hoá học: pH; DO; BOD5; COD; Hg
Vị trí lấy mẫu nước sinh hoạt:
- Nước sinh hoạt từ đầu nguồn, các vòi,
bể chứa trong bệnh viện
- Các mẫu nước sinh hoạt từ các nguồn
khác nhau ở ngoài khu vực dân cư tiếp giáp
và dọc theo hướng dòng chảy của chất thải
bệnh viện và điểm chứng
Các chỉ số lý hoá cần xét nghiệm
- Lý học: Màu, mùi, độ đục
- Hoá học: pH; Chất hữu cơ; NH4+; NO2-,
Cl-
2.2 Đánh giá chất lượng vệ sinh theo các TCVN và theo QĐ số 1329/2002/BYT
- Đánh giá chất lượng nước thải ở các cống thải bệnh viện đổ ra ngoài theo TCVN 5945-1995 [4]
- Đánh giá chất lượng vệ sinh của nguồn nước bề mặt nơi các cống thải bệnh viện đổ vào theo TCVN 5942-1995- Chất lượng nước-Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt [4]
- Đánh giá chất lượng vệ sinh nước sinh hoạt theo QĐ số 1329/2002/BYT 2.3 Phương pháp xử lý số liêu
Theo phương pháp thống kê Y học, số liệu được xử lý trên chương trình bảng tính (Excel)
III Kết quả
1 Kết quả khảo sát thực trạng ô nhiễm về mặt hoá lý nước thải, nước sinh hoạt tại các bệnh viện chưa xử lý chất thải
1.1 Kết quả khảo sát nước thải
Bảng 1: Tổng hợp kết quả xét nghiệm nước thải tại các bệnh viện chưa xử lý
Chỉ tiêu GTTK pH Độ Đục DO BOD 5 COD Cặn lơ lửng Hg
ĐK Yên Bái TB 7,52 60,27 0,48 381,60 960,40 468,60 0,00
PA <0,001 >0,05 <0,05 >0,2 <0,001
PB <0,001 >0,05 >0,05 >0,1 <0,001
ĐK Quảng Nam TB mẫu 6.97 13,2 0,6 38,6 92,3 140,3 0,4
PA <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
PB <0,001 <0,001 >0,5 <0,001 <0,001
Trang 3Bảng 1: Tổng hợp kết quả xét nghiệm nước thải tại các bệnh viện chưa xử lý (tiếp)
Chỉ tiêu GTTK pH Độ Đục DO BOD 5 COD Cặn lơ lửng Hg
ĐK Cần Thơ TB 7,24 34,98 1,03 63,67 264,13 321,14 0,00
PA <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
PB <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
PA <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
PB <0,001 >0,05 <0,001 <0,001 <0,001
Nhận xét:
Chất lượng nước thải bị ô nhiễm nặng so
với TCCP: Các chỉ số BOD5, COD, cặn lơ
lửng đều cao hơn cả 2 GHCP: giá trị trung
bình BOD5 cao hơn GHCP B 1,5 lần, COD
cao hơn 2,4 lần, cặn lơ lửng gấp 2,6 lần với
mức ý nghĩa P< 0.001
1.2 Kết quả xét nghiệm nước sinh
hoạt tại các bệnh viện chưa xử lý
Số mẫu nước sinh hoạt không đạt TCVS
cao 86/148 mẫu, chiếm 58,1% trong đó số
mẫu bị nhiễm bẩn chất hữu cơ là 60/86
mẫu, chiếm 70% Trong bệnh viện số mẫu
nước sinh hoạt không đạt TCVS thấp nhất
Ngoài khu dân cư mức độ ô nhiễm xếp theo
thứ tự: Điểm I, điểm II, điểm 0, điểm III Kết
quả xét nghiệm tại các bệnh viện như sau:
Tại khu vực bệnh viện Yên Bái: 73,5%
số mẫu nước sinh hoạt được kiểm tra không
đạt TCVS trong đó 61% số mẫu này không
đạt do ô nhiễm chất hữu cơ
Tại khu vực bệnh viện Quảng Nam: chỉ 55% số mẫu nước sinh hoạt không đạt TCVS nhưng số mẫu bị ô nhiễm chất hữu cơ chiếm đến 70,3% và phần lớn bị ô nhiễm chất hữu cơ nặng
Tại bệnh viện Cần Thơ: 40% số mẫu nước sinh hoạt không đạt TCVS nhưng có
đến 82,6% không đạt do ô nhiễm chất hữu cơ
Xét theo nguồn nước: 75% mẫu giếng
đào, 44,3% bể chứa nước máy không đạt TCVS
2 Thực trạng ô nhiễm về mặt hoá lý nước thải và nước sinh hoạt tại các bệnh viện đ∙ xử lý chất thải
2.1 Thực trạng ô nhiễm nước thải tại các bệnh viện đ∙ xử lý chất thải
Trang 4Bảng 2: Kết quả XN nước thải trước và sau xử lý tại các bệnh viện xử lý nước thải
Địa điểm GTTK pH Độ đục DO BOD 5 COD Cặn LL Hg
Bệnh viện ĐK TB 7,1 42,1 0,4 38,5 183,8 137,3 0,2
Việt Trì SD 0,15 16,08 0,18 9,86 43,34 20,79 0,18
Trước xử lý PA <0,001 <0,01 <0,001 <0,001 <0,001
Sau xử lý TB 6,9 8,9 4,1 14,3 74,0 68,7 0,1
PA <0,001 >0,05 <0,02 <0,05 <0,001
PB <0,001 <0,001 <0,01 <0,01 <0,001
SS T/S xử lý P T/S >0,05 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 >0,5
Bệnh viện ĐK TB 6,9 10,7 0,8 61,5 85,8 135,2 0,9
Quảng Ng∙i SD 0,10 1,92 0,32 3,70 28,06 21,38 0,44
Trước xử lý PA <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
Sau XL TB 6,9 5,6 3,9 32,4 42,1 60,7 0,3
n=18 SD 0,08 2,36 0,24 8,21 10,50 24,35 0,32
PA <0,001 <0,001 <0,01 >0,05 <0,001
PB <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
SS T/S xử lý P T/S >0,5 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
Bệnh viện ĐK TB 7,39 24,93 0,68 61,36 161,09 204,4 9,05
Đồng Tháp SD 0,39 8,33 1,23 17,58 92,70 77,63 4,63
Trước xử lý PA <0,001 <0,001 <0,02 <0,01 >0,05
Sau XL chung SD 0,18 10,68 1,69 19,25 45,46 81,71 0,91
n=26 PA <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
PB <0,001 >0,5 >0,5 <0,01 <0,001
SS T/S xử lý P 1/6 <0.001 >0.05 <0.05 >0.1 <0.05 >0.1 <0.001
Tổng hợp TB 7,04 20,00 0,71 57,05 121,76 151,3 2,59
Trước xử lý SD 0,28 14,32 0,32 12,43 66,55 43,52 4,02
PB <0,001 <0,01 >0,05 <0,001 <0,01
Tổng hơp TB 7,37 11,42 3,17 38,35 79,84 108,2 0,70
Sau Xử lý SD 0,49 9,39 1,51 18,67 45,06 74,70 0,79
n=51 PA <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001
PB <0,001 <0,001 <0,01 >0,3 <0,001
SS T/S xử lý P T/S <0,001 <0,01 <0,001 <0,001 <0,001 <0,01 <0,01
Trang 5Nhận xét:
- Nước thải trước xử lý tại 3 bệnh viện bị
ô nhiễm nặng so với TCCP
- Nước thải sau xử lý chung cho cả 3
bệnh viện chỉ đạt ở mức GHCP-B
- Trong các bệnh viện nghiên cứu, nước
thải sau xử lý của bệnh viện Đồng Tháp có
các chỉ tiêu BOD5, COD, cặn lơ lửng cao
nhất
2.2 Kết quả xét nghiệm nước sinh
hoạt tại khu vực các bệnh viện đ∙ xử lý
chất thải
Mức độ ô nhiễm thấp hơn khu vực các
bệnh viện chưa xử lý: Số mẫu không đạt
TCVS chiếm 25,3% Trong bệnh viện, số
mẫu không đạt TCVS thấp nhất, chỉ có
10,7% mẫu không đạt TCVS
Kết quả xét nghiệm các mẫu nước sinh
hoạt tại các bệnh viện như sau:
- Tại khu vực bệnh viện Việt Trì: chỉ có
18% số mẫu xét nghiệm không đạt TCVS
- Tại khu vực bệnh viện Quảng Ngãi:
19,6% số mẫu xét nghiệm không đạt TCVS
- Tại khu vực bệnh viện Đồng Tháp:
39% số mẫu nước xét nghiệm không đạt
TCVS
- Xét theo nguồn nước: 74% mẫu nước
sông đã được đánh phèn hoặc để lắng,
20,8% các mẫu nước máy chứa trong bể
không đạt TCVS
V Bàn luận
1 Tại các bệnh viện chưa xử lý
Kết quả xét nghiệm nước thải:
Nước thải từ các cống thải chính bị ô
nhiễm nặng so với TCCP: hàm lượng Oxy
hoà tan thấp, độ đục cao Các chỉ tiêu cơ
bản như BOD5, COD, cặn lơ lửng đều vượt
TCCP Kết quả này phù hợp với kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Kim Thái và cộng
sự [1] khi nghiên cứu nước thải của một số
bệnh viện Hà Nội, các chỉ tiêu trên đều vượt
TCCP
Mức độ ô nhiễm của các bệnh viện khác nhau tuỳ theo hoạt động của mỗi bệnh viện
và một số yếu tố khác như lượng nước cấp, lưu lượng nước thải, mức độ hoàn thiện của
hệ thống cống thải Các chỉ số COD, BOD5, cặn lơ lửng ở bệnh viện Cần Thơ và bệnh viện Yên Bái đều rất cao Tuy nhiên ở bệnh viện Yên Bái, các chỉ số trên đều cao hơn TCCP nhiều lần nhưng với số lượng mẫu ít, các cống thải chảy ra ngoài lưu lượng rất nhỏ nên số liệu rất dao động, kết quả chưa có ý nghĩa thống kê
Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam đang trong quá trình san lấp, hệ thống cống trong bệnh viện cũng bị hư hỏng nên nước thải rất khó tập trung và tự ngấm qua bãi san lấp coi như được lọc sơ bộ Do vậy chất lượng nước thải sạch hơn so với 2 bệnh viện trên Cũng cần phải lưu ý rằng khi nước thải chưa được xử lý nếu thải ra ngoài khu dân cư sẽ gây ô nhiễm khu vực nơi có cống thải
đổ vào Tại bệnh viện Quảng Nam, kết quả khảo sát cho thấy trong khoảng cách từ 100-200m nước thải bệnh viện Quảng Nam gây ô nhiễm các khu vực nơi cống thải chảy ra: các chỉ số cơ bản BOD5, COD, cặn lơ lửng tại các vị trí lấy mẫu có hàm lượng gần như nước thải từ các cống thải chính và cao
hơn mương chứng nhiều lần
Kết quả xét nghiệm nước sinh hoạt tại các bệnh viện chưa xử lý
- Số mẫu nước sinh hoạt không đạt TCVS cao 86/148 mẫu, chiếm 58,1% Tuy nhiên chưa thể kết luận được vấn đề ô nhiễm nước sinh hoạt khu vực các bệnh viện chưa xử lý có phải là do nước thải của bệnh viện gây ra không vì chất lượng vệ sinh một nguồn nước còn phụ thuộc nhiều yếu tố Nước giếng đào bị ô nhiễm có thể
do mạch nước ngầm nông đã bị ô nhiễm và một số nguyên nhân khác như điều kiện vệ sinh của giếng, điều kiện vệ sinh xung quanh giếng, gần công trình vệ sinh, ý thức
vệ sinh Nước máy là nguồn nước ít bị ô
Trang 6nhiễm nhưng do các bể chứa không sạch
hoặc do ý thức vệ sinh chưa tốt nên nước
máy để trong bể chứa cũng bị ô nhiễm
- Khu dân cư tiếp giáp với cống thải
bệnh viện đổ ra có số mẫu nước sinh hoạt
không đạt TCVS nhiều nhất nhưng để kết
luận cần có những nghiên cứu sâu thêm
2 Tại các bệnh viện đ∙ xử lý
- Kết quả xét nghiệm nước thải:
Bảng 2 cho thấy: Nước thải sau xử lý
chung cho cả 3 bệnh viện, có chất lượng tốt
hơn hẳn nước thải trước xử lý với các chỉ
tiêu DO cao hơn với P<0.001; Độ đục,
BOD5, COD, cặn lơ lửng, hàm lượng Hg
giảm hẳn với mức ý nghĩa P<0,01-0.001
nhưng chỉ đạt
Trong các bệnh viện nghiên cứu, nước
thải sau xử lý của bệnh viện Đồng Tháp có
các chỉ tiêu BOD5, COD, cặn lơ lửng cao
nhất do nước thải sau xử lý lại nhập với các
nguồn nước thải khác trong bệnh viện
- Kết quả xét nghiệm nước sinh hoạt
cho thấy:
Số mẫu không đạt TCVS thấp hơn khu
vực các bệnh viện chưa xử lý Trong các
nguồn nước, nước sông bị ô nhiễm nhiều
nhất và cũng có nhiều chỉ tiêu không đạt
nhất Mặc dù có nước thải bệnh viên đổ vào
nhưng nước sông bị nhiễm bẩn do nhiều
nguyên nhân: do nước thải sinh hoạt, chăn
nuôi cũng như hố xí của các hộ dân sống
gần sông thải trực tiếp xuống Cống thải
bệnh viện chỉ góp thêm cùng với các nguồn
thải khác làm ô nhiễm nước sông
V Kết luận
Tại các bệnh viện chưa xử lý:
- Nước thải từ các cống thải chính bị ô
nhiễm nặng so với TCCP: hàm lượng Oxy
hoà tan thấp, độ đục cao Các chỉ tiêu cơ
bản như BOD5, COD, cặn lơ lửng đều vượt
TCCP và gây ô nhiễm khu vực ngoài khu
dân cư nơi cống thải đổ ra
- 58% mẫu nước sinh hoạt không đạt
TCVS, trong đó bị ô nhiễm chất hữu cơ
chiếm 70% Trong các nguồn nước, nước giếng đào có tỷ lệ mẫu không đạt TCVS nhiều nhất sau đó là nước giếng khoan, bể chứa nước máy
Tại các bệnh viện đ∙ xử lý chất thải:
- Nước thải sau xử lý có chất lượng tốt hơn hẳn trước khi xử lý nhưng các chỉ tiêu lý hoá cơ bản chỉ đạt GHCP-B Nồng độ các chất ô nhiễm giảm dần theo khoảng cách
và không gây ô nhiễm khu dân cư
- 25,3% số mẫu nước sinh hoạt không
đạt TCVS, trong đó có 24/40 mẫu bị nhiễm chất hữu cơ Trong các nguồn nước, nước sông có số lượng mẫu không đạt TCVS nhiều nhất và cũng là nguồn nước có nhiều chỉ tiêu không đạt nhất, sau đó là nước giếng khoan và bể chứa nước máy
Kiến nghị: Các bệnh viện cần có hệ thống xử lý nước thải trước khi đổ ra cống chung
Tài liệu tham khảo
1 Cục môi trường - Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường (1998): Quản lý chất thải bệnh viên Kỷ yếu hội thảo Hà Nội, tháng
6
2 Viện Y học lao động và Vệ sinh Môi trường - Bộ Y tế (1993): Thường quy kỹ thuật Hà Nội
3 Vụ Y tế dự phòng - Bộ Y tế (2002): Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế Tài liệu hội thảo Hà Nội, tháng 9
4 Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam (1995): Các Tiêu chuẩn Nhà nước Việt Nam về môi trường Tập I, tập II, Hà Nội
5 Viện nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật bảo hộ lao động - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2002): Thông báo kết quả nghiên cứu Khoa học - Công nghệ về
An toàn - Sức khoẻ và Môi trường Lao
động Số 2
6 Enviromental Protection Agency: Method for Chemical Analysis of Water and Wastes (MCAWW) EPA/600/4-79-020
Trang 7An Investigation of the Chemical and Physical Aspects of Water pollution at 6 Provincial
General Hospitals Caused by Medical Wastes
Samples of waste water and domestic water in the 6 provincial general hospitals of Yen Bai, Phu Tho, Quang Nam,Quang Ngai, Can Tho and Dong Thap and in residential areas around these hospitals were collected to determine the basic chemical and physical environmental parameters The findings based on the results are as follows:
- In hospitals that do not have waste water treatment systems, waste water from main sewers is seriously polluted when measured against permitted standards and causes pollution to surrounding residential areas, where the sewage flows into
- In hospitals that have treatment systems, waste water after treatment meets the B Limit Value, regarding basic physical and chemical parameters
- 58.0% of domestic water samples collected at hospitals' sites without treatment systems, do not meet the Hygienic Standard Among these samples, most were collected at locations near the hospitals' sewer outlets Further research will have to be done to achieve firmer conclusion
- 25.3% of domestic water samples collected at hospitals' sites with treatment systems do not meets the Hygienic Standard The figure is considerably less than the figure at hospitals that are without water treatment systems