Tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ 4-6 tuổi tại quận Ba Đình - Hà Nội và một số yếu tố liên quan Trần Thị Phúc Nguyệt Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm- Đại học Y Hà Nội Để góp ph
Trang 1Tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ 4-6 tuổi
tại quận Ba Đình - Hà Nội và một số yếu tố liên quan
Trần Thị Phúc Nguyệt
Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm- Đại học Y Hà Nội
Để góp phần đưa ra các giải pháp can thiệp thừa cân béo phì có hiệu quả tác giả đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang mô tả 352 trẻ 4-6 tuổi tại quận Ba Đình, Hà Nội để xác định tỷ lệ TCBP và tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ gây thừa cân béo phì ở trẻ Tỷ lệ thừa cân là 7,1%, béo phì là 3,9%, trẻ nam mắc thừa cân cao hơn trẻ nữ (10,5% và 3,0%) Những trẻ có nguy cơ cao thừa cân béo phì là những trẻ có tần xuất sử dụng thực phẩm 3-5 lần trong 1 tuần (đường, nước ngọt), trên 5 lần/1tuần (bánh keo, thịt các loại) và những thức ăn chế biến bằng phương pháp xào rán Thực hành đánh giá sai tình trạng dinh dưỡng của trẻ đôi với các bà mẹ là nguy cơ gây cao thừa cân và béo phì ở trẻ (p < 0,01)
I Đặt vấn đề
Các bệnh mạn tính, đặc biệt là thừa cân và
béo phì, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường
ngày càng tăng ở các nước đang phát triển,
trong đó có nước ta Tình trạng đó tồn tại
song song với tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu vi
chất dinh dưỡng còn cao, tạo nên một gánh
nặng “kép” về dinh dưỡng [3] Hiện nay có
hơn 1 tỷ người lớn bị thừa cân sống ở các
nước đang phát triển và ít nhất 300 triệu trong
số này là béo phì [9], theo Serdula có tới 26%
đến 41% béo phì trẻ em trước tuổi đến trường
trở thành béo phì người lớn [8] Tại Việt Nam,
các cuộc điều tra dịch tễ học diện rộng cho
thấy trước năm 1995, tỷ lệ thừa cân không
đáng kể, béo phì hầu như không có nhưng
nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ
thừa cân 4-5 tuổi vào năm 1995 là 2,5%,
năm 2000 là 3,1% và 2001 là 3,3% [1] Ba
Đình là một trong những quận trung tâm
thành phố Hà Nội, trong những năm gần đây
có nhiều thay đổi về điều kiện sống, kinh tế
và cơ cấu dân số Với ý tưởng góp phần làm
giảm tỷ lệ thừa cân-béo phì (TCBP) ở trẻ em
Hà Nội, nghiên cứu thực trạng TCBP và các
yếu tố nguy cơ gây TCBP cho lứa tuổi 4-6 tại
quận Ba Đình, nội thành Hà Nội đã được tiến
hành vào năm 2002
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng: Trẻ em từ 4-6 tuổi và bố mẹ
hoặc người chăm sóc trẻ
2 Thiết kế nghiên cứu:
- Mẫu chọn cho nghiên cứu cắt ngang mô tả [10]
Z 2
1- α /2 p(1- p)
n = -
d2 n: Cỡ mẫu (số trẻ 4-6 tuổi cần điều tra) Với độ tin cậy 95% thì Z 1- α/2 = 1,96 P: Ước tính tỷ lệ thừa cân lứa tuổi này không quá 10% [4]
d = 0,045 (độ chính xác mong muốn)
Cỡ mẫu tính được cho cả 3 lớp tuổi là :
352 (hiệu ứng thiết kế =2)
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Nghiên
cứu cắt ngang xác định tỷ lệ TCBP và nghiên cứu hồi cứu có so sánh đối chứng để tìm các yếu tố nguy cơ gây thừa cân và béo phì tại 3 trường mẫu giáo và tiểu học của quận Ba
Đình từ năm 2002 đến 2003
3 Phương pháp thu thập số liệu và
đánh giá
- Tình trạng dinh dưỡng: tiến hành đo cân nặng, chiều cao và lớp mỡ dưới da cơ tam
đầu Sử dụng cân điện tử SECA 890, thước
Trang 2đo gỗ chiều cao đứng và máy đo lớo mỡ dưới
da Holtain Đánh giá tình trạng thừa cân bằng
chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao (CN/CC > +
2 SD) so với quần thể tham khảo NCHS
Đánh giá béo phì khi CN/CC > + 2SD và
BDLMDD cơ tam đầu > 90 percentile (WHO
1995)
- Để mô tả các yếu tố liên quan, chọn tất cả
những trẻ được phân loại là thừa cân và béo phì
trong nghiên cứu cắt ngang, chọn nhóm chứng
(NC) là trẻ bình thường có cùng lớp tuổi, cùng
giới với nhóm TCBP và không mắc các bệnh
bẩm sinh (tỷ lệ 1 thừa cân: 3 đối chứng)
- Điều tra tần suất tiêu thụ lương thực thực phẩm và các yếu tố liên quan như tiền sử dinh dưỡng và thực hành chăm sóc của các
bà mẹ theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
- Số liệu xử lí và phân tích theo chương trình Epi-info 6.04, SPSS với các test thống
kê y học
III Kết quả
1 Tình trạng thừa cân và béo phì của trẻ 4-6 tuổi tại quận Ba Đình, Hà Nội
Bảng 1: Tình trạng thừa cân và béo phì tại quận Ba Đình
Nữ 163 5 3,0 2 1,2
4 – 6
* P < 0,05
Bảng 1 cho thấy: Tỷ lệ thừa cân chung 4-6 tuổi quận Ba Đình là 7,1% Thừa cân ở nam là 10,5%
cao hơn nữ (3,0%) Tỷ lệ béo phì chung là 3,9%, nam (6,3%) cao hơn nữ (1,2%) với P < 0,05
2 Phân tích một số yếu tố nguy cơ gây thừa cân và béo phì
Bảng 2 Tần suất tiêu thụ các lương thực thực phẩm của trẻ trong tuần qua
< 3 lần (%) 3-5 lần (%) > 5 lần (%) Tần suất
Thừa cân
BP (n=25)
Nhóm chứng (n=75)
Thừa cân
BP (n=25)
Nhóm chứng (n=75)
Thừa cân
BP (n=25)
Nhóm chứng (n=75)
Sữa đậu nành 68,0 62,7 8,0 21,3 24,0 16,0
Nước ngọt 4,0 86,7** 56,0 ** 9,3 4,0 4,0
Đường 64,0 89,3 ** 32,0 * 9,3 4,0 1,3
Thịt các loại 0,0 13,3 60,0 69,3 40,0 * 17,3
Bơ, pho mat 96,0 82,7 4,0 16,0 0,0 1,3
Tôm/cua 40,0 54,7 60,0 42,7 0,0 2,7
Trứng 36,0 34,7 40,0 50,7 24,0 14,7 Rau xanh 12,0 13,3 80,0 68,0 8,0 18,7
TĂ luộc 14,0 8,0 68,0 76,0 8,0 16,0
TĂ xào rán 8,0 12,0 68,0 81,3 24,0 * 6,7
* P < 0,05 ** P < 0,01 (test χ2)
Trang 3Bảng 2 cho thấy các thực phẩm bà mẹ cho
trẻ sử dụng có tần suất dưới 3 lần trong 1 tuần
thì không có nguy cơ mắc thừa cân ngay cả
những thực phẩm giàu năng lượng như bánh
kẹo, đường và nước ngọt Tần suất sử dụng
thực phẩm tăng lên 3-5 lần trong 1 tuần ở
nhóm mắc thừa cân béo phì cao hơn so với
nhóm chứng bao gồm đường (32,0 và 9,3%)
và nước ngọt (56,0 và 9,3%) (P<0,05) Các thực phẩm có tần suất sử dụng trên 5 lần/1tuần ở nhóm thừa cân béo phì cao hơn nhóm chứng chủ yếu là các thực phầm sinh nhiều năng lượng như bánh kẹo (24,0 và 4%) với P<0,01, thịt các loại (40,0 và 17,3%) và những thức ăn chế biến bằng phương pháp xào rán (24,0 và 6,7%) với P <0,05
Bảng 3: Tiền sử dinh dưỡng và tình trạng thừa cân béo phì
Tiền sử dinh dưỡng TCBP (n =25) NC (n =75) OR CI 95% Không bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu 21 60 0,31 0,35 – 5,36 Trẻ cai sữa trước 12 tháng 9 12 2,95 0,93– 9,36 Cân nặng lúc sinh < 2500gr 1 2 1,52 0,00 – 23,30 Cân nặng lúc sinh >=3600 gr 8 10 3,06 0,92 – 10,16
Bảng 3 cho thấy trẻ được cai sữa trước 12
tháng có nguy cơ mắc thừa cân và béo phì là
2,9 lần so với trẻ cai sữa sau 12 tháng, trẻ lúc
sinh có cân nặng từ 3,6 kg trở lên có nguy cơ
mắc thừa cân béo phì là 2,9 lần so với trẻ sinh
ra có cân nặng thấp hơn 3,6 kg, nguy cơ thừa
cân béo phì ở trẻ sinh ra có cân nặng thấp
<2500g là 1,5 lần so với trẻ có cân nặng lúc sinh trên 2500g Sự khác biệt về các yếu tố nguy cơ giữa hai nhóm trẻ chưa có ý nghĩa thống kê
Bảng 4: Thực hành dinh dưỡng và chăm sóc trẻ của bà mẹ ở 2 nhóm
Thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ TCBP (n =25) NC (n =75) OR CI 95% Không theo dõi cân nặng
của trẻ thường xuyên
18 35 2,94 1,0 – 8,87
Đánh giá sai về TTDD của trẻ * 19 19 9,30 2,94 – 31,01
Bố mẹ hay đưa trẻ đi ăn ở ngoài 13 35 1,24 0,46 – 3,37 Thường xuyên dự trữ TĂ trong tủ lạnh 13 47 0,65 0,24 – 1,77
ép trẻ ăn thêm sau mỗi bữa 14 25 2,55 0,92 – 7,11
Bố mẹ đưa đón trẻ bằng xe máy và ô tô 13 50 0,43 0,15 – 1,23
* P < 0,01 (test χ2)
Bảng 4 cho thấy : Thực hành không theo
dõi cân nặng thường xuyên cho trẻ và ép trẻ
ăn trong mỗi bữa ăn là những nguy cơ gây
thừa cân béo phì (2,9 và 2,5 lần) so với nhóm
chứng mặc dù sự khác biệt chưa có ý nghĩa
thống kê Đáng chú ý tỷ lệ các bà mẹ đánh
giá sai về tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở
nhóm trẻ thừa cân cao hơn nhóm chứng
(OR=9,3), sự khác biệt này rất có ý nghĩa
thống kê (P < 0,01) Các thực hành khác như
thường xuyên dự trữ thức ăn trong tủ lạnh, hay
đưa trẻ đi ăn ngoài và đưa đón trẻ bằng ô tô,
xe máy chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm
IV.Bàn Luận
1 Tình trạng thừa cân và béo phì của trẻ 4-6 tuổi tại quận Ba Đình – Hà Nội
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ thừa cân 4-6 tuổi quận Ba Đình là 7,1%, béo phì là 3,9% (bảng1) So với thành phố Hồ Chí Minh thừa cân ở trẻ dưới 5 tuổi liên tục tăng lên từ năm 1996 đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo tại quận Gò Vấp lên tới 7,9% [1] Theo điều tra hàng năm của Viện Dinh dưỡng với qui mô toàn quốc thừa cân trẻ dưới 5 tuổi năm 1999
Trang 4(1,1%) đến năm 2000 (2,7%) Thừa cân 6 tuổi
xuất hiện tỷ lệ khá cao ở các thành phố lớn
như thành phố Hồ Chí Minh 12,9% (1997),
Hà Nội 7,4% (2000), Hải Phòng 12,0% (2000)
và Nha Trang 5,8% (2001) [2] Như vậy trẻ
em thừa cân-béo phì tăng lên khá nhanh
trong thời gian gần đây, tỷ lệ TCBP tăng
nhanh phải chăng do sự thay đổi mô hình
chế độ ăn và hoạt động thể lực trong thời kì
chuyển tiếp mà hậu quả sẽ dẫn đến thay đổi
cấu trúc cơ thể và hình thành tình trạng béo
phì ở trẻ em trong thời gian tiếp theo
Thừa cân ở nam là 10,5% cao hơn nữ
(3,0%) với P < 0,05 Kết quả của chúng tôi
tương tự với Lê Thị Hải, Nguyễn T.K.Hưng,
Nguyễn T.T Hiền và Đỗ T.K.Liên [2] Ngược
lại ở Mỹ thừa cân nữ nhiều hơn nam (trai 5,0%
và gái 10,8%) ở trẻ 4-5 tuổi [7] Theo chúng
tôi sự khác biệt giữa nam và nữ ở Việt Nam
có thể có những sự khác nhau trong chăm
sóc giữa trẻ trai và trẻ gái
2 Mô hình tiêu thụ lương thực thực
phẩm và tình trạng thừa cân béo phì
Quá trình gây thừa cân và béo phì ở trẻ em
bị tác động bởi hai yếu tố cơ bản được nhiều
tác giả trong nước cũng như ngoài nước đề
cập đến là khẩu phần ăn và các hoạt động
thể lực, chế độ ăn uống thay đổi một cách
nhanh chóng theo thu nhập và lối sống [2]
Qua nhiều thập kỉ các nghiên cứu đã phát
hiện ra mối liên quan giữa chế độ ăn và tỷ lệ
thừa cân ở trẻ em Theo Stewat (1999) cho
rằng trẻ thừa cân ăn ít năng lượng hơn trẻ
bình thường Klesges (1995) nghiên cứu
thuần tập ở trẻ 3-5 tuổi cho thấy tăng% mỡ ăn
vào làm tăng chỉ số BMI [7], Nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy các thực phẩm bà mẹ cho
trẻ sử dụng có tần xuất 3-5 lần trong 1 tuần
hoặc trên 5 lần/1tuần ở nhóm thừa cân - béo
phì cao hơn nhóm chứng chủ yếú là các thực
phầm sinh nhiều năng lượng (bảng 2) Nghiên
cứu của chúng tôi cũng phù hợp với Troiano
(1997) ghi nhận ở nhóm thừa cân uống nước
ngọt nhiều hơn nhóm không thừa cân Một
phát hiện khác của Ludwig (2001) cho uống
nước ngọt 1,5 năm liên tục ở trẻ trường học
thì nguy cơ thừa cân tăng lên tới 60% [7]
3 Tiền sử dinh dưỡng và tình trạng thừa cân béo phì
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trẻ không được bú mẹ đầy đủ (cai sữa trước 12 tháng ) có nguy cơ mắc thừa cân và béo phì cao hơn so với trẻ được bú mẹ đầy đủ (bảng 3) Kết quả này cũng phù hợp với Gillman cho rằng trẻ được bú mẹ hoặc bú mẹ thời gian dài
ít nhất là 7 tháng thì có nguy cơ bị thừa cân-béo phì thấp hơn khi trưởng thành so với trẻ nuôi bằng sữa bò [6], khi cho con bú thì người
mẹ có khả năng tập trung khống chế việc ăn quá nhiều của trẻ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trẻ lúc sinh có cân nặng từ 3,6 kg trở lên có nguy cơ mắc thừa cân béo phì là 2,9 lần
so với trẻ sinh ra có cân nặng thấp hơn 3,6 kg, theo Frisancho thì cân nặng lúc sinh cao là yếu
tố nguy cơ cho việc tăng sinh tế bào mỡ khi lớn lên và tiếp tục cho đến khi trưởng thành, một nghiên cứu khác của Metzger cho thấy những trẻ con của người mẹ mắc bênh đái đường có cân năng lúc sinh cao thì có nguy cơ cao bị thừa cân lúc 14 tuổi [7] Do vậy phòng thừa cân- béo phì cho trẻ nên được bắt đầu ngay từ khi người mẹ mang thai, chú ý những người mẹ
bị bệnh đái đường cũng như trẻ có cân nặng lúc sinh cao và thấp
4 Thực hành dinh dưỡng và chăm sóc trẻ của bà mẹ và tình trạng thừa cân béo phì
Một số thực hành chăm sóc trẻ chưa đúng như đánh giá sai về tình trạng dinh dưỡng của trẻ hay không chấp nhận con mình thừa cân,
ép trẻ ăn trong bữa ăn hàng ngày, không theo dõi cân nặng thường xuyên cho trẻ là những yếu tố có nguy cơ cao gây thừa cân (bảng 8) Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với Baughcum nghiên cứu mẹ và trẻ từ 23-60 tháng cho thấy có tới 95% bà mẹ có con béo phì nhưng lại cho rằng con mình mới chỉ thừa cân [5] và Nguyễn Thìn cho thấy có tới 67,7% phụ huynh có quan niệm sai về thừa cân và béo phì [4] Theo Birch cho rằng cha mẹ thường dùng thức ăn trẻ thích để trao giải thưởng cho trẻ như bánh ngọt hoặc bắt trẻ ăn thêm bữa tối trong khi trẻ thích ăn hoa quả [7] Như vậy khi điều kiện kinh tế phát triển, thu nhập người dân tăng lên, lối sống và phong
Trang 5cách làm việc bị thay đổi nhiều đã dẫn đến
thực hành chăm sóc trẻ chưa hợp lý, là những
nguy cơ cho trẻ phát triển không cân đối, đặc
biệt là thừa cân và béo phì
V Kết luận
1 Tỷ lệ thừa cân của trẻ 4-6 tuổi tại quận
Ba Đình - Hà Nội năm 2002 là 7,1%, béo phì
là 3,9%, trẻ nam mắc thừa cân béo phì cao
hơn trẻ nữ (p<0,05)
2 Các yếu tố nguy cơ gây thừa cân và béo
phì ở trẻ 4-6 tuổi tại quận Ba Đình - Hà Nội.
- Tần xuất sử dụng thực phẩm 3-5 lần trong
1 tuần (đường, nước ngọt), trên 5 lần/1tuần(
bánh kẹo, thịt các loại) và những thức ăn chế
biến bằng phương pháp xào rán ở nhóm thừa
cân béo phì cao hơn nhóm chứng.
- Thực hành đánh giá sai tình trạng dinh
dưỡng của trẻ đối với các bà mẹ là những nguy
cơ câo gây thừa cân và béo phì ở trẻ (p < 0,01)
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Thị Kim Hưng (2002) “Tình
trạng tăng cân và béo phì các tầng lớp dân
cư TP Hồ Chí Minh năm 1996- 2001", Y học
thực hành, số 418 tr 22-28.
2 Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn
(2002), “Thừa cân và béo phì, một vấn đề sức
khoẻ cộng đồng mới ở nước ta” (2002), Y học
thực hành, số 418 tr 5-9
3 Nguyễn Công Khẩn, Hà Huy Khôi,
(2003), “Nhận xét bước đầu về gánh nặng kép
của suy dinh dưỡng ở nước ta ”, Y học Việt
Nam, số 9, 10, tr 8-16
4 Nguyễn Thìn, Hoàng Đức Thịnh, Nguyễn Viết Dũng, Nguyễn Thị Niệm (1999)
“Tình trạng thừa cân và béo phì ở học sinh
tuổi mẫu giáo và tiểu học tại Nha Trang”, Y
học Dự phòng, 3 (41), tr 57-62.
5 Baughcum AE, Chamberlin LA, Deeks
CM, Powers SW, Whitaker RC (2000)
“Maternal perceptions of overweight preschool children “ Pediatric, Vo 106 (6),1380-1386.
6 Gillman MW, Rifas-Shiman SL, Camargo
CA Jr, Berkey CS, Frazier AL, Rockett HR, Field AE, Colditz GA (2001), Rick of overweight among adolescents who were breastfed as infants, JAMA, 285 (19): 2461-7.
7 Ritchie L, Ivey S, Masch M, Lopez GW, Ikeda J, Crawford P(2001) "Pediatric Overweight: A review of the literature" The center for weight and health College of National Resources University of California, Berkeley, 7-14, 333, 371-379.
8 Serdula MK, Ivery D et all (1993), “Do obese children become obese adults ? A review
of the literature”, Prev Med, 22(2): 167-77.
9 Waxman A (2003), “Prevention of chronic diseases : WHO global strategy on diet, physical activity and health”, Food and Nutrition Bulletin,Vol 24, No3, p 281- 284
10.WHO (1991) Sample size determination in Health studies A Practical Manual World Health Organization Geneva 1-5, 25-26
Summary
OVERWEIGHT- OBESITY STATUS OF CHILDREN 4-6 YEARS OF AGE AT
BA DINH DISTRICT, HANOI CITY AND SOME Related FACTORS
For contributing to make plan effective interventions of overweight and obesity, a cross-section study 352 children 4-6 years of age at Ba Dinh district, Hanoi city by 2002 aimed identify prevalence overweight and obesity and some related factors The finding is that prevalence overweight accounted 7.1% and obesity 3.9%, prevalence overweight and obesity of boys is higher than girls (p<0.05) The children have high risk suffer from overweight and obesity: Frequency consumes foods 3-5 times per week (sugar, beverage), over 5 times/week (Cakes, meats) and foods had been prepared by fried methods Mothers’ Practices of evaluation on nutrition status of children is high risk caused overweight and obesity (p < 0.01)