Ngày 6 tháng 10 Viện Hàn lâm khoa học Vương quốc Thuy điển đã công bố giải thưởng Nobel hoá học cho năm 2004 vè những công trình “ phát hiện ra sự thoái hoá protein qua trung gian ubiq
Trang 1Giải thưong Nobel về hoá học năm 2004
(Nobel Prize in chemistry 2004)
GS Vũ Triệu An
Bộ môn Miễn dịch Sinh lý bệnh – Trường Đại học Y Hà Nội (Mặc dù đây là một giải thuởng thuộc
lãnh vực Hoá học hay nói cho đúng hơn
là về Hóa sinh nên có liên quan nhều đến
Sinh học và đặc biệt đã được nói đến từ
lâu trong miẽn dịch học và đã có ứng
dụng trong y học cho nên chúng tôi viết
bản tổng quan ngắn này để chia se cùng
bạn đọc thích những kiến thức mới.)
Ngày 6 tháng 10 Viện Hàn lâm khoa
học Vương quốc Thuy điển đã công bố
giải thưởng Nobel hoá học cho năm 2004
vè những công trình “ phát hiện ra sự
thoái hoá protein qua trung gian
ubiquitin” dành cho 3 nhà bác học :
Aaron Ciechanover, Avram Hershko,
người Do Thái làm việc tại Technion, Viện
kỹ thuật Israel, và Irwin Rose người Mỹ
Mỹ tại Đại học California Irvine
Aaron Ciechanover sinh năm 1947 tai
Haifa, Israel , tiến sĩ y khoa 1981, giáo sư
Sinh hoá viện Technion và Giám độc
Viện nghiên cứu Gia đình Rappaport tại
Haifa
Avram Hershko sinh năm 1957 tai
Karcag, Hung, di cư sang học y ở
Jerusalem đỗ tién sĩ năm 1969 rồi về làm
giáo sư cùng chỗ với Aaron
Irwin Rose sinh năm 1926 tại Nữu Ước
Nỹ , tiến sĩ y năm 1952 tại Chicago,
chuyên viên khoa Sinh lý và Ký sinh trùng Khoa y Đai học Irvine California
Chất ubiquitin đã được phân lập từ tuyến ức (Goldstein 1975) là một protein gồm 76 acid amin mà trình tự đã được xác định Do thấy hay kết hợp với chất histon (Hunt và Dayhoff 1977) ở nhân tế bào nên đã có giả định nó tham gia vào
sự biệt hoá của tế bào lymphô ở tuyến ức nhưng như thế nào thì chưa ai biết
Quá trình giáng hoá protein ngoài tế bào là do protein bị phá vỡ thành các acid amin cấu thành bởi enzym tiêu đạm như trypsin đã được biết từ lâu, nhất là trong sinh lý học tiêu hoá Quá trình này không
đòi hỏi cung cấp năng lượng nhưng phải trong môi trường acid Bên trong tế bào, quá trình xấy ra trong môI trườngpH sinh
lý nhưng lại cần được cung cấp năng lương từ ATP (Símpson 1953) Sự khác biệt ấy đã được các nhà bác học nói trên bắt tay vào nghiên cứu Lý thú hơn nữa
là phần lớn công trinh của họ đã được tiến hành trong những năm nghỉ chế độ (sabbat year1) tại phòng thí nghiệm của Irwin Rose tại Đại học California Cũng phaỉ kể đến công trước đó của Etlinger và Goldberg (1977) đã xây dựng được một
tiến, các giáo sư làm nghiên cứu cứ 7 năm
được nghỉ hẳn một năm mà vẫn hưởng lương
và muốn làm gì tuỳ ý Thường để có thêm kiến thức cũng như phương pháp làm việc và
kể cả thêm thu nhập , họ hay dành năm đó
mà viết sách hoặc xin đến làm việc tạị một labo có tiéng để học hỏi thêm những ý kiến mới, phương pháp làm việc, tổ chức nghiên cứu
Trang 2hệ thống thực nghiệm không tế bào vẫn
gây thoái hoá protein nhưng lại phụ
thuộc vào ATP ở pH 7,8 ; đó là chất lysa
hồng cầu mạng thỏ
Bằng nhiều kỹ thuật khác nhau (sắc
ký, tủa, đánh dấu phóng xạ, xác định
trình tự acit amin) qua nhiều công trình
công bố, bước đầu các ông đã phát hiện
trong những lysa khác nhau muốn có sự
phá huỷ protein phụ thuộc ATP thì phải
có 3 yếu tố cùng kết hợp, để riêng không
hoạt động : một bền nhiệt tạm gọi APF1
(active principle of fraction 1) (sau được
xác định chính là ubiquitin), trong 2 cái
kia không chịu nhiệt thì một là enzym
tách ubiquitin ra khỏi protein (deamidáe)
và một chứa tới 3 enzym E1, E2 và E3
liên kết ubiquitin vơi protein đích sẽ bị
phá Hơn nữa các ông lại thấy ubiquitin
có thể kết hợp với rất nhiều protein cần
phá huỷ khác nhau có trong lysa và
ngược lại cũng cùng một protein cần phá
huỷ lại kết hợp với nhiều phân tử ubiquitin
Ubiquitin có một trình tự acid amin rất bền
vững trong mọi tế bào có nhân ở các sinh
vật khác nhau cho nên suy ra là quá trình
phân giải protein qua ubiquitin phụ thuộc
ATP có một tầm quan trọng chung rất lớn
trong sinh học.Cơ chế hoạt động của
ubiquitin ( sẽ viết tắt là U) trong giáng hoá
protein phụ thuộc ATP có thể tóm tắt qua
các bước trong hình sau 1:
- Enzym E1 (ubiquitin activating
enzym) đầu tiên hoạt hoá ubiquitin, cần
năng lượng của ATP cho quá trình adenyl
hoá này tạo ra phức hợp U-E1
-U được giao chuyển sang enzym E2
(ubiquitin cọnjugating enzym) cho U-E2
- Enzym E3 (ubiquitin protein ligase)
làm nhiệm vụ nhận ra protein đích cần
phá, và với sự có mặt U-E2 cận kề, U rời
E2 chuyển sang gắn lên protein đích và E3 sẽ rời phức hợp ubiquitin-protein đích Bứoc này được nhắc lại nhiều lần trên cùng một protein đích cho đến khi thành một chuỗi ubiquitin
-Chính chuỗi ubiquitin ấy là tín hiệu cho proteasom mở kênh, kéo dãn protein
đích, nhập nó vào bên trong còn ubiquitin được giải phóng nhờ một enzym isopeptidase của protéasom và tái sử dụng Proteasom là những cơ quan tử có cả trong nhân lẫn nguyên sinh chất làm nhiệm vụ phá protein đã được đưa vào thành những peptid có 7-8 acid amin Sau Findley (1989) lại phát hiện ra có protein như các rêxepto màng, chỉ liên kết với một phân tử ubiquitin nên không bị phá vỡ mà lại được đưa nguyên vẹn vào
Trang 3bên trong ribosom có nghĩa là ubiquitin
còn tham gia vào trong quá trinh nhập
vào nội bào (endocytosis)
Sau khi cơ chế hoạt động của ubiquitin
được làm sáng tỏ thì nhiều công trình của
các labo nghiên cứu khác đã bổ sung
thêm để làm rõ chức năng sinh học của
chất này cụ thể có ứng dụng chính trong
lĩnh vực sinh y học như sau
Về mặt sinh học ubiquitin giữ vai trò
quan trọng trong điều hoà chu trình phân
bào Một nhóm nhà nghiên cứu Nhật bản
nhận thấy trong phân bào có một giai
đoạn nhiễm sắc thể bị cô lại, Masa-atsu
Yamada cho là có phosphoryl hoá
histone Ông đã tạo ra được một dòng tế
bào đột biến ts85, chỉ hoàn tất chu trình
phân bào ở một nhiệt độ thích hợp Ơ
nhiệt độ khác nó ngừng lại ở thới kỳ G2
Marunouchi đã chứng minh đó là do đột
biến nên histon không kết với ubiquitin vì
thiếu enzym E1 Một trong những cyclin
điều hoà chu trình phân bào ở nấm men
là Cdc34, một biến thể trong tiến hoá của
enzym E2 Rồi gần đây E3 cũng được
thấy tham gia trong thời kỳ tách nhiễm
sắc thể khi phân bào Suy ra nếu sự tách
biệt các nhiễm sắc thể mà bị rối loạn thì
có thể xẩy ra sự chuyển sai nhiễm sắc
thể như ta thấy trong hội chứng Down có
3 nhiễm sắc thể 21 Phần lớn các tế bào
ung thư thấy có thay đổi NST có thể là do
cơ chế có rối loạn trong hệ thông
ubiquitin
Ubiquitin thuộc họ “protein chấn động”
(stress proteines) như protein sốc nhiệt
(heat shock proteines) mà cơ thể sản
xuất nhằm loại trừ những protein lạ qua
đáp ứng miễn dịch hay những protein của
bản thân nhưng bị hư hại cần được đào
thải Đầu tận cùng C của ubiquitin đa
dạng, là nơi kết hợp nhờ nhận biết vùng
kỵ nước của protein đích, bình thường
được dấu kín bên trong thường bị lộ ra khi
có hư hại
Trong đáp ứng miễn dịch hệ thống ubiquitin-proteasom cồn làm nhiệm vụ sử
lý kháng nguyên để trình diện chúng trên các phân tử màng của phức hợp hoà hợp mô Còn khi rêxepto màng tế bào nhận liên phối tử tương ứng sẽ hoạt hoá hệ thống tín hiệu thứ hai, phosphoryl hoá cấu thành IκB của liên kết IκB-NF-κB trong chất nguyen sinh, IκB bị tiêu do hệ thống ubiquitin, NF-κB giải phóng đi vào trong nhân hoạt hoá sự biểu lộ các gen cần thiết
Trong ung thư học hiện nay hay nói
đến p53 (do gen p53 mã) một yếu tố sao
mã tham gia vào điều hoà chu trình tế bào Nó được biểu lộ nhiều khi tế bào bị “ chấn động” có thể cấu trúc ADN bị thay
đổi ( như tia xạ, hoá chất ) Khi ấy nó bị phosphoryl hoá không tương tác với phức hợp có E3 gọi là Mdm2, và nồng độ tăng tại chỗ làm ngừng chu trình tế bào ở G1
nhằm sửa chữa chỗ bị hư hại Nếu hư hại quá lớn không sửa chữa nổi thì hướng tế bào chết theo chương trình Tới 50% ung thư có đột biến p53 mã cho một protein không bình thường nên bị hệ thống ubiquitin tiêu huỷ Tế bào không còn người bảo vệ nữa sinh ra ác tính Như vậy E3 của phức hợp ubiquitin có ảnh hưởng tới P53 và có thể là một nguyên nhân sinh ung thư
2 ví dụ về p53 và NF-κB cho thấy hệ thống tiêu protein qua ubiquitin hay đi kèm với phosphoryl hoá, làm nhiệm vụ
đièu hoà quá trình sao mã bằng cách kiểm soát tính vững bền của các yếu tố sao mã khác nhau
Trang 4Hiện nay hệ thống ubiquitin đang là
mục tiêu nghiên thuốc nhằm chữa bệnh
Cơ sở lý luận là tìm cách ngăn cản hay
tăng cường hệ thống tiêu protein qua
ubiquitin ví dụ như tiêu diệt những protein
không bình thường sinh bệnh Một chất
ức chế proteasom mang tên Velcade
đang được thử để chữa bệnh ác tính
myelom, có nhiều triển vọng
Tài liệu tham khảo
1 Nobel Prize in Chemistry 2004
Press Rlease The Royal Swedish
Academy of Scences 6/10/2004
2 Lars Thelander Ubiquitin mediated
proteolysis Information Department The
Royal Swedish Academy of Scences 6/10/2004
3 An-Vu-Trieu & J.C.Homberg
2001 Vai trò của các phân tử HLA lớp I
trong Miễn dịch học tr 136-37 NXBYH
Hà nội
4 Revillard J.P Immunologie 1998
De Boeck Universite 3eme edition