1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tuyển tập tác giả tác phẩm ngữ văn lớp 8 tập 2 hay nhất

229 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 10,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn luận về phép học (Luận học pháp) Tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 8 I Tác giả văn bản Bàn luận về phép học (Luận học pháp) Nguyễn Thiếp (1723 1804) tự là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đươ[.]

Trang 1

Bàn luận về phép học (Luận học pháp) - Tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 8

I Tác giả văn bản Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

- Nguyễn Thiếp (1723-1804) tự là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đương thời kính trọng gọi là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp

- Quê quán: làng Mật Thôn, xã Ao Nguyệt, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ) tỉnh Hà Tĩnh

- Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:

+ Ông từng làm quan dưới triều Lê nhưng sau đó từ quan về dạy học

+ Ông từng được vua Quang Trung viết thư mời giúp triều Tây Sơn, góp phần xây dựng đất nước về mặt chính trị

+ Những tác phẩm tiêu biểu: La Sơn tiên sinh thi tập, Hạnh Am di văn…

Bài giảng Ngữ Văn 8 Bàn về phép học

II Nội dung văn bản Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Trang 4

III Tìm hiểu chung về tác phẩm Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

1 Bố cục tác phẩm Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

- Phần 1 (Từ đầu đến tệ hại ấy): Mục đích của việc học

- Phần 2 (Tiếp theo đến xin chớ bỏ qua): Bàn về cách học

- Phần 3 (Tiếp theo đến thịnh trị): Kết quả dự kiến

- Phần 4 (Còn lại): Kết luận về phép học

2 Tóm tắt tác phẩm Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Tóm tắt tác phẩm Bàn về phép học (Luận học pháp) (mẫu 1)

Bàn luận về phép học là một bài tấu Nguyễn Thiếp gửi lên vua Từ việc đưa ra mục

đích chính của việc học, phê phán những quan điểm học tập tiêu cực, thực trạng sai trái tác giả đưa ra và khẳng định quan điểm, phương pháp học đúng đắn, cuối cùng là thuyết phục cho sự đúng đắn ấy bằng việc chỉ ra tác dụng của nó

Tóm tắt tác phẩm Bàn về phép học (Luận học pháp) (mẫu 2)

Nguyễn Thiếp (1723-1804) tự là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đương thời kính trọng gọi là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp Khi Quang Trung xây dựng đất nước đã viết thư mời ông giúp dân giúp nước về mặt văn hóa giáo dục, vì vậy tháng 8 năm 1971, Nguyễn Thiếp đã đang lên vua bản tấu "Luận bàn về phép học" Bài tấu giúp

ta hiểu được mục đích của việc học là để làm người có đạo đức, có tri thức, góp phần xây dựng đất nước chứ không phải học để cầu danh lợi Học tốt phải có phương pháp học đặc biệt học phải đi đôi với hành

Tóm tắt tác phẩm Bàn về phép học (Luận học pháp) (mẫu 3)

Nguyễn Thiếp nêu rõ mục đích, tác dụng của việc học là để làm người, học để nâng cao hiểu biết và làm việc ngày một tốt hơn; đóng góp được nhiều hơn cho đất nước Nếu mọi người hiểu được điều đó thì sẽ nhận ra tác hại ghê gớm của lối học hình thức hòng cầu danh lợi Nội dung bài Bàn luận về phép học tất nhiên chịu ảnh hưởng của quan

Trang 5

điểm giáo dục Nho giáo, song điều chính yếu mà tác giả muốn nhấn mạnh là mục đích, tác dụng của việc học tập chân chính cũng như phương pháp học tập đúng đắn khoa học Những ý kiến mà Nguyễn Thiếp nêu ra có nhiều điểm tiến bộ, đáng để cho hậu thế noi theo

3 Phương thức biểu đạt

- Tác phẩm Bàn về phép học (Luận học pháp) sử dụng phương thức biểu đạt: Nghị luận

4 Thể loại

- Tác phẩm Bàn về phép học (Luận học pháp) thuộc thể loại: Tấu

5 Giá trị nội dung tác phẩm Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Bàn luận về phép học giúp ta hiểu mục đích của việc học là để làm người có đạo đức,

có tri thức, góp phần làm hưng thịnh đất nước, chứ không phải để cầu danh lợi Muốn học tốt phải có phương pháp, học cho rộng nhưng phải nắm cho gọn, đặc biệt, học phải

đi đôi với hành

6 Giá trị nghệ thuật tác phẩm Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

- Bài tấu có cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng

- Ngôn ngữ giản dị, rõ ràng, ý tứ bộc lộ trực tiếp giàu sức thuyết phục

IV Dàn ý tác phẩm Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

I Mở bài

- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Thiếp - một viên quan dưới triều nhà Lê, có nhiều đóng góp cho xây dựng đất nước về chính trị

- Bàn luận về phép học là một bài tấu đã khát quát và đưa ra một cách khách quan nhất

về mục đích của việc học và cách học sao cho đúng đắn đạt hiệu quả

II Thân bài

1 Bàn luận về mục đích của việc học

Trang 6

- Khái quát mục đích của việc học: “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo” => chân lí học tập đúng đắn từ lâu đời

- Chỉ bằng con đường học tập thì con người mới trưởng thành, là người có đạo đức

- Học là một quá trình tất yếu, quy luật muôn đời

- Phê phán lối học hình thức

- Nêu lên hậu quả khôn lường của những lối học tiêu cực ấy

⇒ Những lời bàn luận sâu sắc, nghiêm túc, xác đáng với tầm nhìn cao rộng, đầy tâm huyết với nước nhà

2 Bàn luận về cách học

- Phê phán những cách học sai lầm và nêu rõ mục đích tai hại của nó

- Tác giả cũng đã trình bày quan điểm tích cực của mình về chủ trương phát triển sự học cho thật hiệu quả

- Bên cạnh đó tác giả còn nêu lên chủ trương phát triển sự học sâu rộng khắp cả nước

⇒ Về nội dung học, tác giả vẫn đi theo truyền thống cũ, không đưa ra điều gì mới mẻ

mà chủ yếu là cải cách về phương pháp học

3 Tác dụng của phép học

- Mục đích học chân chính, cách học tích cực sẽ là cơ sở vững chắc cho đạo học, bồi dưỡng được nhân tài cho quốc gia

⇒ Tin tưởng rằng, học chân chính nhất đinh trường tồn và cũng gửi gắm niềm hi vọng

về tương lai tốt đẹp của đất nước

III Kết bài

- Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật: Là bản tâu của Nguyễn Thiếp về việc học

để phần nào củng cố, kiến thiết xây dựng nước nhà phát triển theo hướng chú trọng giáo dục

Trang 7

- Liên hệ: Bản thân mỗi người nhất là học sinh cần chú trọng việc học tập, tu dưỡng

để đưa đất nức ngày càng giàu đẹp bằng con đường học tập chân chính

V Một số đề văn bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Đề bài: Phân tích bài "Bàn luận về phép học" của Nguyễn Thiếp.

Phân tích bài Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp - mẫu 1

"Bàn luận về phép học" là đoạn văn trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung vào tháng 8-1791 Lúc bấy giờ Nguyễn Thiếp đang làm Viện trưởng ,viện Sùng Chính, phụ trách việc biên soạn sách và xây dựng Trung đô Phượng Hoàng (Nghệ An), một công việc vô cùng to lớn và hết sức nặng nề

Bài tấu này thể hiện cái tâm của Nguyễn Thiếp đối với việc chấn hưng nền quốc học, nền giáo dục nước nhà, nhằm mở mang dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước.Các vấn đề như mục đích việc học, nội dung học tập và phương pháp học tập đã được Nguyễn Thiếp trình bày một cách ngắn gọn và tường tận

Mở đầu, ông nhắc lại câu cổ ngữ: ''Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo" Vậy mục đích học là biết "lẽ đối xử hàng ngày giữa mọi người" Nói cách khác, học để mở mang trí tuệ và bồi bổ đạo đức Đạo mà Nguyền Thiếp nói đến là đạo làm người Ông than phiền "nền chính học đã bị thất truyền" Có biết bao tệ lậu đáng chê trách như "đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi", coi thường đạo lí "không cồn biết đến tam cương, ngũ thường" Nhà dột từ nóc: "Chúa trọng nịnh thần" Ví dụ, cuối thời Lê - Trịnh, tệ nạn buôn quan bán tước hoành hành,

sử sách cho biết: năm 1750, đời vua Lê Hiển Tông, vì Nhà nước thiếu tiền, đã đặt ra lệ thu tiền thông kinh: hễ ai nộp ba quan thì được đi thi hương, không phải khảo hạch Thành ra những người làm ruộng, đi buôn, ai cũng nộp quyển vào thi, rồi người thì dùng sách, kẻ thì thuê người làm bài; kẻ thuê học mười người không được một (theo Dương Quáng Hàm) Sống trong thời kì đen tối, loạn lạc ấy, Nguyễn Thiếp vô cùng đau buồn, thở than: "Nước mất nhà tan đều do những điều tệ hại ấy" Nguyễn Thiếp

đã có một cách nói trầm tĩnh, ôn hòa mà sâu sắc

Phần thứ hai, tiên sinh nói đến nội dung và phương pháp học tập Học ở đâu? - Trường học của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ, thuộc lại "đều tùy đâu tiện đấy mà đi học" Học cái gì? Tác giả bài tấu cho hay: "Nhất định theo Chu Tử' (1130-1200) - một học giả đời Nam Tống Nội dung học tập: "Lúc đầu học tiểu học để

Trang 8

bồi lấy gốc Tuần tự tiến lên học đến Tứ thư, Ngũ kinh, Chư sử" Điều đó cho thấy, nội dung học tập mà Nguyễn Thiếp nêu lên không có gì mới, ông chưa vượt qua được những hạn chế của lịch sử và của thời đại Sách Tàu đã mấy nghìn năm vẫn được tôn thờ! Vẫn coi trọng thơ văn, chưa hướng tới khoa học

Về phương pháp học, ý kiến của Nguyễn Thiếp rất xác đáng và tiến bộ Coi trọng vấn đề thiết yếu cơ bản: "Học rộng rồi tóm lược cho gọn" Học phải đi đôi với hành "theo chiếu học mà làm" Niềm mong ước của ông rất đẹp và chân thành: "Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, Nhà nước nhờ thế mà vững yên Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người Xin chớ bỏ qua"

Tiên sinh đã khẳng định tầm quan trọng của đạo học, ý nghĩa to lớn của đạo học: "Đạo học thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị" Đúng là việc học góp phần đào tạo nhân tài, mở mang dân trí, góp phần xây dựng đất nước thịnh trị Chiến lược "trồng người" được tiên sinh nói lên thật sáng tỏ Phần cuối, Nguyễn Thiếp giãi bày lòng mình Bài tấu nói về phép học là những lời "thành thật", chứ không phải "lời nói vu vơ", ông khiêm tốn và cung kính "cúi mong Hoàng thượng soi xét"

Nguyễn Thiếp đức trọng tài cao, được người đương thời kính ái gọi là La Sơn phu tử Tài năng của ông chưa kịp thi thố, thì vua Quang Trung băng hà Ông đã từ chức và lui về núi cũ rừng xưa ở ẩn Ông đã qua đời năm 81 tuổi, thanh bạch và thanh cao Bài tấu "Bàn luận về phép học" với nhũng ý kiến của tiên sinh về mục đích học tập, phương pháp học tập rất đúng đắn tiến bộ, về nội dung học tập, ý kiến của tiên sinh chưa vượt qua được hạn chế của lịch sử và thời đại Có điều nhiệt tâm của La Sơn phu tử đối với nước, với dân, đối với sự nghiệp trồng người đã để lại nhiều ngưỡng mộ cho hậu thế

Phân tích bài Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp - mẫu 2

Trong lịch sử nước ta, giới học thuật có đủ căn cứ để xếp bốn nhân vật vào hàng Phu tử, đó là Chu Văn An (1292-1370), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Võ Trường Toản (1720-1792) và Nguyễn Thiếp (1723-1804) Trong bốn bậc phu tử đó, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, sống thời Quang Trung - Nguyễn Huệ bách chiến bách thắng

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp sinh ngày 24-9-1723, mất ngày 6-2-1804, quê làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) Ông đỗ Hương giải (1743) ra làm quan huấn đạo, tri phủ ít lâu thì cáo về, ở ẩn trên núi Thiên Nhẫn, đọc

Trang 9

sách, nghiên cứu lý học Ông nổi tiếng là người đạo hạnh thanh cao, có trình độ uyên bác Cả nước hâm mộ tôn ông là bậc thầy Ông cũng là con người cao sĩ, sống ẩn dật Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp

Bàn luận về phép học là đoạn văn trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua

Quang Trung vào tháng 8 - 1791 Vua Quang Trung từng mời Nguyễn Thiếp ra hợp tác với triệu Tây Sơn nhưng vì nhiều lý do nên ông chưa nhận lời Ngày 10/7/1791, vua lại viết chiếu thư mời Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân hội kiến vì có nhiều điều bài nghị Lần này ông lòng vào Phú Xuân và dựa bàn quốc sự Nhân lúc này, ông làm bài tấu bàn về 3 việc mà bậc quân vương nên biết Một là về quân đức: Mong bậc đế vương một lòng tu đức, lấy sự học vấn mà tăng thêm tài sản, bởi sự học mà có đức, hai là bài

về dan tộc (lòng dân) Khẳng định "Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yếu", Ba là bàn về học pháp (phép học) Văn bản Bàn luận về phép học chính là nội dung thứ ba của bài tấu

Đoạn trích Bàn luận về phép học có bố cục ba phần chặt chẽ: Bàn về mục đích

của việc học, bàn về cách học, tác dụng của phép học Phần mở đầu, Nguyễn Thiếp nêu mục đích chân chính của việc học Tác giả sử dụng câu châm ngôn vừa dễ hiểu vừa tăng thêm sức mạnh thuyết phục: 'Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo" Nhưng đạo ấy là gì? Ấy là cái đích của sự học vậy Theo tác giả thì "Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người" Đạo dạy người ta về những mối quan hệ: hẹp thì với bản thân, trong gia đình, rộng ra là ngoài xã hội Mối quan hệ ấy trong khuôn khổ của xã hội phong kiến không nằm ngoài khái niệm "tam cương", "ngũ thường" quen thuộc Tóm lại, học trước hết là học đạo làm người, học

để "lập đức" cho mình, để "lập công" nghĩa là phải cống hiến tài năng cho xã hội Đó

là nền tảng của "chính học", là cơ sở của một quốc gia nước mạnh dân giàu, xã hội thái bình, thịnh trị Cách nhìn của tác giả đoạn văn có tầm chiến lược dài lâu vì nó đụng đến sự an nguy của xã tắc (tức đất nước)

Sau khi xác định mục đích của việc học, tác giả soi vào thực tế đương thời để phê phán những biểu hiện lệch lạc, sai trái trong việc học Đó là "lối học hình thức hòng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương, ngũ thường" Vậy thế nào là lối học hình thức hòng cầu danh lợi? Đó là lối học theo kiểu tầm chương trích cú, thuộc lòng từng câu từng chữ mà không hiểu kĩ về nội dung, học theo kiểu hữu danh vô thực Học

Trang 10

chỉ để đi thi, để ra làm quan, được trọng vọng, nhàn nhã và thu nhiều bổng lộc Tác hại của lối học lệch lạc, sai trái đó là làm cho "chúa trọng nịnh thần", người trên, kẻ dưới đếu thích sự chạy chọt, luồn cúi, không có thực chất, dẫn đến cảnh "nước mất, nhà tan"

Ngày nay, chúng ta gọi lối học đó là học vẹt, học để đối phó, thực chất chẳng tiếp thu được bao nhiêu Kiến thức Thuộc bài là yếu tố rất cần trong học tập nhưng điều cốt yếu là phải hiểu nội dung, bản chất của vấn đề, từ đó có cách suy nghĩ, cách cảm nhận, sáng tạo riêng Sau khi phê phán những biểu hiện tiêu cực trong nhận thức

về việc học, Nguyễn Thiếp đã nêu ra quan điểm và phương pháp học tập đúng đắn

Việc học phải được phổ biến rộng khắp: mở thêm trường, mở rộng thành phần người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học: "Cúi xin từ nay ban chiếu thư cho thầy trò trường học của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ, thuộc lại

ở các trấn cựu triều, đều tùy đâu tiện đấy mà đi học" Nguyễn Thiếp quả là một bậc hiền tài có tầm nhìn xa trông rộng Quan điểm hết sức tiến bộ của ông tuy nêu ra cách đây đã hai thế kỉ nhưng nó rất gần gũi với chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Chúng ta đang áp dụng ý tưởng sáng suốt của ông vào thực tế giáo dục

Theo Nguyễn Thiếp, việc học phải được bắt đầu từ những kiến thức có tính chất nền tảng Và ông đưa ra các phương pháp học cụ thể

Phương pháp thứ nhất, học tuần tự tiến lên, từ thấp đến cao: "Phép dạy, nhất định theo Chu Tử Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử" Phương pháp thứ hai, đó là học rộng, nghĩ sâu biết tóm lược những điều cơ bản, cốt yếu nhất Với phương pháp này, Nguyễn Thiếp hướng dẫn người học một cách học đúng đắn, dễ nhớ kiến thức Chúng ta thường mắc bệnh học nhiều, học tràn lan, nhưng cuối cùng lại không ghi nhớ được gì cả vì không biết nghĩ cho sâu, tóm cho gọn Có như thế này thì người học mới có thể ghi nhớ được kiến thức của mình lâu và khoa học

Phương pháp thứ ba học phải biết kết hợp với hành Nói theo quan điểm của Phu Tử đó là "theo điều học mà làm" Học không chỉ để biết mà còn để làm Học đi đôi với hành là cách để hiểu và ứng dụng điều học có hiệu quả, điều đó khác với việc học chay, học vẹt, học lý thuyết suông, học một cách máy móc, sáo rỗng, có thể đọc nghìn cuốn sách "chữ chứa đầy bụng" nhưng khi bước vào đời thì ngu ngơ, rỗng tuếch,

Trang 11

trở thành "thầy dở, thợ dốt" Vì không "học đi đôi với hành", vì không biết "theo điều học mà làm" nên nhiều người "đua học hình thức cầu danh lợi" như La Sơn Phu Tử chê trách Cho nên học tập phải thu nhận được kết quả thiết thực và hữu ích Sau này, Bác Hồ trong "Thư trung thu" - 1952, cũng khẳng định:

"Mong các cháu cổ gắng Thi đua học và hành Tuổi nhỏ làm việc nhỏ Tuỳ theo sức của mình

Để tham gia kháng chiến

Để gìn giữ hoà bình"

Ở phần cuối văn bản tiên sinh đã khẳng định tầm quan trọng của đạo học, ý nghĩa to lớn của đạo học: "Đạo học thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị" Đúng là việc học góp phần đào tạo nhân tài, mở mang dân trí, góp phần xây dựng đất nước thịnh trị Chiến lược "trồng người" được tiên sinh nói lên thật sáng tỏ

Tóm lại, bằng lời tấu rất thẳng thắn và chân thành, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp

đã nêu lên mục đích chân chính của việc học và thực trạng tiêu cực của việc học đang hiện hành cùng các phương pháp học tập đúng đắn

Những bài học mà Nguyễn Thiếp mang lại không chỉ có giá trị đối với đất nước trong xã hội phong kiến mà còn bổ íc đối với tất cả chúng ta trong mọi thời đại

Đề bài: Phân tích sự cần thiết và tác dụng của phương pháp "Học đi đôi với hành"

sau khi học văn bản "Bàn luận về phép học"

Phân tích sự cần thiết và tác dụng của phương pháp Học đi đôi với hành - mẫu 1

Từ xưa tới nay, mối tương quan chặt chẽ giữa học và hành đã được nhiều người quan tâm, bàn luận Học quan trọng hơn hành hay hành quan trọng hơn học? La Sơn

Phu Tử Nguyễn Thiếp đã góp một ý kiến xác đáng về vấn đề này trong bài Bàn luận

về phép học: Phép dạy, nhất định theo Chu Tử Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc

Trang 12

Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, nhà nước nhờ thế mà vững yên Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người Xin chớ bỏ qua

Ý kiến trên đây của ông là sự đúc kết kinh nghiệm sau bao năm nghiền ngẫm

và áp dụng trong thực tế phương pháp dạy và học của Chu Tử (tức Chu Đôn Di), một bậc thầy của Nho giáo đời Tống bên Trung Quốc Trong phép học của Chu Tử, Nguyễn Thiếp nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa học và hành: học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm Vậy, chúng ta phải tìm hiểu xem học là gì? hành là gì?

Học là hoạt động tiếp thu những tri thức của nhân loại đã được đúc kết qua mấy ngàn năm lịch sử Chúng ta có thể học ở trường qua sự truyền thụ của thầy cô, học ở bạn bè; tự học qua sách vở và học ở thực tế đời sống Học để làm giàu tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết Học để có thể làm chủ bản thân, làm chủ công việc của mình và góp phần hữu ích vào sự nghiệp chung của đất nước, dân lộc Theo Nguyễn Thiếp, muốn có kết quả tốt phải có phương pháp học tốt Trước hết phải học từ thấp đến cao Khi học phải biết tóm lược kiến thức cơ bản đế dễ nhớ, dễ vận dụng Theo cách nói bây giờ là ta phải biết sơ đồ hóa kiến thức, biết tóm tắt nội dung văn bản đã học

Hành là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào những công việc hằng ngày Ví dụ như một bác sĩ những kiến thức tiếp thu được trong suốt quá trình đào tạo sáu, bảy năm ở trường đại học để vận dụng vào việc chữa bệnh cho nhân dân Những kiến trúc sư, kĩ sư xây dựng đem kiến thức đã học để thiết kế và thi công bao công trình như nhà máy, bệnh viện, trường học, công viên để phục vụ đời sống con người

Anh công nhân trong xưởng máy vận dụng lí thuyết để cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm Chị nông dân áp dụng khoa học vào đồng ruộng để có được những vụ mùa bội thu Học sinh vận dụng những điều thầy dạy để làm một bài toán, một bài văn đó là hành

Bác Hồ cũng khẳng định: Học để hành, có nghĩa là học để làm cho tốt, thực tế cho thấy có học có hơn Ông cha chúng ta ngày xưa đã nói: Bất học, bất tri lí (Không học thì không biết đâu là phải, là đúng) Mục đích cuối cùng của sự học là nhằm phục

vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao hơn Nếu học được lí thuyết dù cao siêu đến đâu chăng nữa mà không đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học ấy chỉ tốn thời gian, công sức, tiền bạc mà thôi

Trang 13

Ngược lại, hành mà không học thì hành không trôi chảy Trong học tập, học sinh muốn làm được một bài văn hay một bài toán thì không những phải nắm vững lí thuyết mà còn phải biết vận dụng lí thuyết để làm từng kiểu bài cụ thể Trong công việc, nếu ta chỉ làm theo thói quen, theo kinh nghiệm mà không có lí thuyết soi sáng thì năng suất công việc sẽ thấp và chất lượng không cao Cách làm theo thói quen chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ Còn đối với những công việc phức tạp có liên quan đến khoa học kĩ thuật thì chúng ta bắt buộc phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời đại

Quan niệm về học và hành của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cho đến nay vẫn giữ nguyên tính khoa học và tính thực tiễn của nó Trong giai đoạn khoa học phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức các công việc phức tạp Lí thuyết đúng đắn

có tác dụng soi sáng, dẫn đường cho thực hành Con người sẽ rút ngắn thời gian mò mẫm, thử nghiệm và tránh được những sai lầm đáng tiếc Lí thuyết gắn với thực hành

sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh hơn và đạt hiệu quả cao hơn

Do đó, chúng ta không thể coi nhẹ vai trò to lớn của việc học mà phải nhìn nhận, đánh giá đúng mức mối liên quan giữa học và hành Học và hành phải đi đôi vì chúng

có tácđộng hai chiều với nhau Học hướng dẫn hành Hành bổ sung, nâng cao và làm cho việc học thêm hoàn thiện Có học mà không có hành thì chỉ là ôm mớ lí thuyết suông Trái lại, chỉ chú trọng thực hành mà không chịu học hỏi thì làm việc gì cùng khó khăn Học và hành là hai mặt của một quá trình, không thể xem nhẹ mặt này hay mặt khác

Thực tế cho thấy trong tất cả các cấp học ngày nay, phương châm học đi đôi với hành là hoàn toàn đúng Những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở phải được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống để sáng tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần phục vụ con người

Với cách lập luận chặt chẽ, bài Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp giúp

chúng ta hiểu rõ mục đích của việc học là để làm người có đạo đức, có tri thức, tài năng, đặng góp phần thúc đầy sự hưng thịnh của đất nước, chứ không phải để cầu danh lợi theo kiểu "vinh thân phi gia" Muốn học tốt phải có phương pháp đúng: Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm; đặc biệt học phải đi đôi với hành

Trang 14

Phân tích sự cần thiết và tác dụng của phương pháp Học đi đôi với hành - mẫu 2

Một trong những điều trọng yếu nhất của phương pháp học tập là "Học đi đôi với hành" Nguyên lí ấy đã được ông cha ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần Trong bài tấu

"Bàn luận về phép học" gửi vua Quang Trung, La Sơn Phu Tử cũng có viết, cần phải

"theo điều học mà làm" Tuy vậy, nhiều người trong chúng ta còn chưa hiểu rõ, hiểu một cách đầy đủ nguyên lí ấy, chân lí ấy

Vậy, thế nào là "học đi đôi với hành"? Thế nào là "theo điều học mà làm?" Học

là học tập, học văn hóa, ngoại ngữ, học lí thuyết về khoa học kĩ thuật Hành là hành động, là hoạt động Học đi đôi với hành có nghĩa là vừa học văn hóa, lí thuyết vừa tập tành, vận dụng; lấy lí thuyết soi sáng thực hành, lấy thực hành củng cố lí thuyết; học tập phải gắn liền với sản xuất, với các hoạt động khác, nhất là hoạt động xã hội "Theo điều học mà làm" có nghĩa là biến những kiến thức đã học được thành kĩ năng kĩ xảo, vận dụng những điều đã học được để làm ăn, phải biết làm theo những điều đã học để phục vụ lao động sản xuất, để ứng dụng vào cuộc sống Đúng như cụ Phan Bội Châu

đã chỉ rõ: "Học là bắt chước, học là cầu cho biết, học là để mà làm"

Tại sao phải "học đi đôi với hành"? Tại sao lại phải "theo điều học mà làm" Không học chay, học vẹt, học lí thuyết suông Không thể học sáo rỗng, có thể đọc thiên kinh vạn quyển, "chữ chứa đầy bụng", nhưng khi bước vào đời thì ngu ngơ, rỗng tuếch, trở thành kẻ "thầy dở, thợ dốt" Vì không "học đi đôi với hành", vì không biết "theo điều học mà làm" nên nhiều người "đua học hình thức cầu danh lợi" như La Sơn đã chê trách Cho nên học tập phải thiết thực và hữu ích

Học luận lí là để bồi dưỡng phẩm hạnh, để trở thành con ngoan, trò giỏi, người công dân tốt Học các môn khoa học xã hội nhân văn không chỉ để có những hiểu biết, những kiến thức về văn, sử, địa, mà còn để bồi dưỡng tâm hồn, Học ngoại ngữ phải tập nói, tập dịch, để đọc sách, để có thêm một công cụ mà làm ăn, mà tiến thủ, chứ đâu phải là để nói một vài câu tiếng Tây, tiếng Tàu, tiếng Anh, tiếng Nhật cho oai! Nước

ta đang trên đường phát triển và hội nhập quốc tế, cho nên "học đi đôi với hành", "theo điều học mà làm" là những phương châm giúp chúng ta cải tiến phương pháp học tập Các môn khoa học tự nhiên là cực kì quan trọng, sẽ trang bị cho thanh thiếu niên bao kiến thức khoa học, kĩ thuật hiện đại Phòng thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn, nhất là phòng máy tính, đã và đang được xây dựng, phát triển ở các trường tiểu học, trường phổ thông trên phạm vi cả nước đã cho thấy việc "học đi đôi với hành",

"theo điều học mà làm" được ngành giáo dục và xã hội quan tâm, coi trọng như thế

Trang 15

nào Các phong trào mang tính xã hội rộng lớn của học sinh, sinh viên những năm gần đây như "phong trào tình nguyện", đóng góp quỹ từ thiện xóa đói giảm nghèo, giúp những người khuyết tật, những nạn nhân chiến tranh không chỉ thể hiện tình tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, mà còn cho thấy trường học đã gắn liền với cuộc sống xã hội, phương châm "học đi đôi với hành" được hàng chục triệu thầy cô giáo và học sinh nhiệt liệt quán triệt, hưởng ứng

Những hoạt động như cắm trại, tham quan, du lịch, sưu tầm văn học dân gian ở quê hương mình; những việc làm như trồng hoa, trồng cây, làm sạch trường, đẹp lớp,

là vô cùng thiết thực, đúng là "theo điều học mà làm" Quét nhà, lau nhà, nấu cơm, giặt quần áo trong gia đình là những công việc giúp tuổi trẻ trở nên tháo vát, khéo léo, biết yêu thương đỡ đần bố mẹ, sớm hình thành những đức tính tốt đẹp như siêng năng cần

cù, yêu lao động và biết quý trọng người lao động

"Học đi đôi với hành", biết "theo điều học mà làm" là rất thiết thực, bổ ích Nhờ

đó mà lí thuyết được khắc sâu, lí thuyết được thực hành soi sáng, vừa học vừa tập, vừa

ôn vừa luyện, nên dễ hiểu, dễ nhớ Học đi đôi với hành hướng học sinh, sinh viên biết tìm tòi, nghiên cứu, phát minh Trong những kì thi "tuổi trẻ sáng tạo" ta thấy tuổi trẻ Việt Nam đã biết "theo điều học mà làm", có nhiều phát minh, ứng dụng trong lĩnh vực tin học và công nghệ thể hiện tài năng, trí tuệ Việt Nam

"Học đi đôi với hành", "theo điều học mà làm" là phương châm, phương pháp giúp học sinh, sinh viên phát huy tinh thần chủ động, năng động trong học tập, sớm xác định được mục tiêu học tập đúng đắn Học để mở mang tầm hiểu biết, để trở thành người lao động có kĩ thuật, có khoa học để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hiện tượng "học giả mà bằng thật", mua bán bằng giả hiện nay đâu chỉ là hội chứng chạy theo bằng cấp, hư danh mà còn phản ánh một sự thật trong xã hội ta là nhiều người chưa hiểu "học đi đôi với hành", "theo điều học mà làm"

Con đường học tập đi tới tương lai của tuổi trẻ Việt Nam vô cùng tươi sáng và rộng mở "Học đi đôi với hành", "theo điều học mà làm", là những bài học thiết thực,

bổ ích đối với chúng ta

Trang 16

Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) - Tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 8

I Tác giả văn bản Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

- Lí Công Uẩn (974-1028) tức Lí Thái Tổ

- Quê quán: Là người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

- Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:

+ Ông là người thông minh, có chí lớn, lập được nhiều chiến công

+ Dưới thời Lê ông làm chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ

+ Khi Lê Ngọa mất ông được tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên

- Phong cách sáng tác: Sáng tác của ông chủ yếu là để ban bố mệnh lệnh, thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao có ảnh hưởng đến vận nước

Bài giảng Ngữ Văn 8 Chiếu dời đô

II Nội dung văn bản Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

Trang 19

III Tìm hiểu chung về tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

1 Bố cục tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

- Phần 1 (Từ đầu đến …không thể không dời đổi): Đưa ra những lí do, cơ sở của việc

dời đô

- Phần 2 (Tiếp theo đến …muôn đời): Những lí do chọn Đại La làm kinh đô

- Phần 3 (Còn lại): Thông báo quyết định dời đô

2 Tóm tắt tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

Tóm tắt Chiếu dời đô (mẫu 1)

Năm 1010, Lí Thái Tổ viết "Chiếu dời đô" để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La Sau khi dời về Đại La, ông đổi tên địa điểm này thành Thăng Long, kinh đô của nước Đại Việt, chính là Hà Nội ngày nay Chiếu dời đô của Lí Công uẩn là văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn Chính văn bản này đã góp phần khai sinh ra kinh đô của nước ta trong quá khứ và hiện nay

Tóm tắt Chiếu dời đô (mẫu 2)

Năm 1010, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên Đại Việt thành Đại Cồ Việt Nhân dịp này, ông đã viết bài chiếu để thông báo rộng rãi quyết định cho nhân dân được biết Bài chiếu phản ánh khát vọng của nhân dân về một dân tộc độc lập thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt trên đà lớn mạnh

Tóm tắt Chiếu dời đô (mẫu 3)

Việc dời đô của Lí Công uẩn là một kì tích, kì công đối với đất nước Sau một ngàn năm, Thăng Long - Hà Nội đã trở thành kinh đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; là trung tâm kinh tế, quốc phòng, văn hóa lớn của cả nước Chiếu dời đô là áng văn xuôi cổ độc đáo, đặc sắc của tổ tiên để lại Ngôn từ trang trọng đúng như khẩu khí của bậc đế vương Nó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam Nó khơi dậy trong nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ

Trang 20

3 Phương thức biểu đạt

- Tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) sử dụng phương thức biểu đạt: Nghị luận

4 Thể loại

- Tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) thuộc thể loại: Chiếu

5 Giá trị nội dung tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

Bài chiếu phản ánh khát vọng của nhân dân về một dân tộc độc lập thống nhất đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt trên đà lớn mạnh

6 Giá trị nghệ thuật tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

- Chiếu dời đô là áng văn chính luận đặc sắc viết theo lối biền ngẫu, các vế đối nhau

cân xứng nhịp nhàng

- Cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo rõ ràng

- Dẫn chứng tiêu biểu giàu sức thuyết phục

- Có sự kết hợp hài hòa giữa tình và lí

IV Dàn ý tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

I Mở bài

- Giới thiệu vài nét về tác giả Lý Công Uẩn- là một vị vua sáng suốt, anh minh của dân tộc, là người có tầm nhìn xa trông rộng, thông minh tài trí

- Chiếu dời đô là một tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử của dân tộc

II Thân bài

1 Lí do cần dời đô

- Dời đô là việc thường xuyên xảy ra trong lịch sử và đem lại lợi ích lâu dài

+ Nhà Thương: 5 lần dời đô

+ Nhà Chu: 3 lần dời đô

Trang 21

- Mục đích:

+ Kinh đô được đặt ở một nơi trung tâm của đất trời, phong thủy và khẳng định vị thế

+ Thuận lợi cho sự nghiệp, mưu toan việc lớn

+ Là nơi thích hợp để có thế tồn tại đất nước, tính kế muôn đời cho con cháu

- Kết quả:

+ Vận mệnh đất nước được lâu dài

+ Phong tục, tập quán, lối sống đa dạng, phồn thịnh

- Nhà Đinh- Lê đóng đô một chỗ là hạn chế

- Hậu quả:

+ Triều đại không lâu bền, suy yếu không vững mạnh dễ dàng bị suy vong

+ Trăm họ hao tổn

+ Số phận ngắn ngủi, không tồn tại

+ Cuộc sống, vạn vật không thích nghi

⇒ Dời đô là việc làm chính nghĩa, vì nước vì dân, nghe theo mệnh trời, thể hiện thực lực của nước ta lớn mạnh, ý chí tự cường

2 Nguyên nhân chọn Đại La làm kinh đô

- Các lợi thế của thành Đại La

+ Về lịch sử: là kinh đô cũ của Cao Vương

+ Về địa lí: Trung tâm trời đất, địa thế rộng mà bằng, đất cao mà thoáng, địa thế đẹp, lợi ích mọi mặt

+ Dân cư khỏi chịu cảnh ngập lụt, mọi vật phong phú, tốt tươi, là mảnh đất thịnh vượng ⇒ Xứng đáng là nêi định đô bền vững, là nêi để phát triển, đưa đất nước phát triển phồn thịnh

Trang 22

- Bài Chiếu bên cạnh tính chất mệnh lệnh còn có tính chất tâm tình khi nhà vua hỏi qua ý kiến các quần thần

⇒ Luận cứ có tính thuyết phục vì được phân tích trên nhiều mặt ⇒ Chọn Đại La làm kinh đô là một lựa chọn đúng đắn, nên đây xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vướng muôn năm

III Kết bài

- Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật: Bài chiếu như một lời tâm sự của nhà vua với nhân dân, quần thần, cho thấy sự thấu tình đạt lí, thể hiện sự anh minh của nà vua trong sự nghiệp gây dựng đất nước

- Liên hệ bản thân: Học tập tích cực, rèn luyện tu dưỡng đạo đức để kế tục sự nghiệp xây dựng quê hưêng đất nước

V Một số đề văn bài Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

Đề bài: Phân tích "Chiếu dời đô" của Lí Công Uẩn.

Phân tích Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn mẫu 1

Năm 1010, vua Lí Thái Tổ đã rời từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La (Thăng Long – Hà Nội ngày nay) Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thời

kì phát triển mạnh mẽ của triều đại phong kiến Việt Nam thời đó Và nhà vua đã viết lên "Chiếu dời đô" để thông báo cho quần chúng được biết về sự việc dời đô đó Bản chiếu vượt ra khỏi chức năng hành chính nhà nước thông thường, trở thành một tác phẩm vừa có giá trị lịch sử lại vừa có giá trị văn học độc đáo

Tác phẩm được viết theo thể "Chiếu", một thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh, được viết bằng văn vần, văn biền ngẫu hoặc văn xuôi; thể hiện những tư tưởng lớn lao, có ảnh hưởng lớn đến vận mệnh, triều đại, đất nước "Chiếu dời đô" phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí

tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh

Trước hết, đoạn văn đầu nêu lên tiền đề, cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời

đô Nhà vua không trực tiếp "áp đặt" mệnh lệnh của mình xuống quần thần mà ngược lại đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng rất tiêu biểu về các triều đại cũ trong lịch sử trước đó

Trang 23

của cả Trung Quốc và Đại Cồ Việt Nhà Thương năm lần dời đô, nhà Chu ba lần dời

đô chỉ nhằm mục đích để "vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh"

Điều đó là một việc làm hợp lí "trên vâng mệnh trời, dưới theo lòng dân" và cuối cùng thì việc dời đô của hai triều đại Thương – Chu đều tốt đẹp, mang lại kết quả viên mãn Ngược lại, hai triều Đinh – Lê ở nước ta lại cứ đóng đô tại Hoa Lư, không chịu di dời, vậy là trái ngược mệnh trời, không chịu noi gương "tiền nhân" dẫn tới hậu quả: triều đại suy vong, không được cường thịnh

Cách lập luận so sánh giữa một bên những điều tốt đẹp khi dời đô với một bên

là hậu quả không tốt của việc không chịu di dời, nhà vua đã khéo léo chỉ ra quan điểm

ý kiến của mình: dời đô là việc nên làm và bắt buộc phải làm Đó là việc dời đô không chỉ có ý nghĩa noi theo tấm gương của người đi trước mà còn là việc "tính kế muôn đời cho con cháu" mai sau Như vậy, ngay ở phần đầu bài chiếu, chúng ta đã thấy hiện lên khát vọng mãnh liệt về một đất nước độc lập, thống nhất, phát triển giàu đẹp trong tương lai của nhà vua Lí Thái Tổ

Đoạn văn tiếp theo, nhà vua đưa ra những lý do để chọn thành Đại La là kinh

đô mới Dưới con mắt của nhà vua, thành Đại La hiện lên thực sự là một vùng đất hội

tụ, chung đúc khí thiêng của muôn đời Xét về vị trí địa lí, đây là nơi trung tâm của cả nước, có thế đất đẹp (rồng cuộn hổ ngồi) nhìn ra bốn phương nam , bắc, đông, tây, có núi có sông, đất đai rộng mà bằng, cao mà thoáng, không lo lụt lội Về chính trị, là đầu mối giao lưu của bốn phương, dân cư đông đúc, đất đai màu mỡ, muôn vật phong phú tốt tươi

Từ đó, nhà vua đi tới kết luận: khắp cả nước thì đây chính là nơi "kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời" Đến đây, chúng ta thấy, vua Lí Thái Tổ thực sự là một

vị vua anh minh, có tầm nhìn xa trông rộng, biết nắm giữ vận mệnh thịnh suy của triều đại mình và biết chủ động đáp ứng một nhu cầu cấp thiết của lịch sử, xã hội

Bởi dời đô từ nơi có núi non hiểm trở (thích hợp cho việc phòng thủ và chiến đấu) xuống vùng đồng bằng rộng lớn (khả năng phòng thủ thấp) chứng tỏ dân tộc đã

có nội lực phát triển vững vàng, triều đại mạnh mẽ Cho nên đây là biểu hiện của một khát vọng tự lực, tự cường, quyết tâm dựng nước đi liền với việc giữ nước hết sức cháy bỏng, mãnh liệt của dân tộc Đại Việt

"Chiếu dời đô" của Lí Thái Tổ được viết cách đây hơn một nghìn năm nhưng cách lập luận vẫn có sức thuyết phục mạnh mẽ nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí lẽ và tình

Trang 24

cảm Sau những cơ sở và lí lẽ ở hai phần trước đó, nhà vua đã kết thúc bài chiếu với câu hỏi: "Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở Các khanh nghĩ thế nào?" vừa có tính chất ban bố, lại vừa có tính chất đối thoại, thăm dò ý kiến của quần thần

Chính câu hỏi đó đã xóa nhòa đi khoảng cách giữa bậc quân vương với bách gia trăm họ, dễ tạo nên sự đồng cảm giữa nhà vua với thần dân Từ đó mà vua – tôi dễ đồng lòng quyết tâm xây dựng đất nước cường thịnh, vững mạnh, huy hoàng

Có một câu chuyện mà người xưa vẫn truyền tai nhau, khi dời đô về Đại La, vua

Lí Thái Tổ đã nằm mộng thấy rồng vàng hiển hóa bay lên trời nên nhà vua đã đổi tên Đại La thành Thăng Long Điều đó càng cho thấy rằng, việc dời đô của nhà vua càng trở nên đúng đắn, thuyết phục hơn

Bởi đây là một sự kiện không chỉ có sự hội tụ của địa lợi, nhân hòa mà còn có

cả thiên thời Và cho tới ngày hôm nay, chúng ta vẫn thấy Đại La – Thăng Long – Hà Nội thực sự là một mảnh đất địa linh nhân kiệt với nghìn năm văn hiến và mãi trường tồn bất diệt với thời gian năm tháng trong trái tim của mỗi người dân Việt

Tóm lại, với nghệ thuật lập luận mạch lạc, chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, tình cảm chân thành, bài chiếu đã có sức lay động tới trái tim đồng cảm của hàng triệu triệu người dân thời bấy giờ Nguyện vọng dời đô của nhà vua đã được quân thần ủng hộ, cho thấy Lí Thái Tổ là vị vua thực sự là một bậc minh vương sáng suốt Đồng thời qua bài chiếu, chúng ta cũng thấy được khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên

đà lớn mạnh, phát triển, sáng tươi huy hoàng

Phân tích Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn mẫu 2

Trong chế độ phong kiến Việt Nam, Lí Công Uẩn được biết đến là một trong những vị minh quân có tầm nhìn xa trông rộng, lo lắng cho vận mệnh đất nước Điều này đã được thể hiện rõ thông qua việc ông quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình)

ra thành Đại La (Hà Nội) Sự kiện chính trị này gắn với một tác phẩm văn học có giá trị là “Chiếu dời đô” Bằng lập luận chặt chẽ, thuyết phục, bài chiếu chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc

Đầu tiên, trong tác phẩm này, giá trị nhân văn thể hiện qua mục đích và dời đô

và nỗi lòng của tác giả Mục đích của việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La là vì lo

Trang 25

lắng cho vận mệnh đất nước Nhận thấy những khó khăn ở nơi đóng đô hiện tại, cụ thể

là địa hình núi hiểm trở gây ra nhiều khó khăn để phát triển đất nước trong thời bình

Tác giả nêu ra những tấm gương không ngần ngại dời đô: “Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô” cùng với việc khẳng định đây là việc tất yếu nếu muốn phát triển đất nước Vì hai nhà Đinh,

Lê không nhận ra điều này nên “cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp” khiến cho tác giả lo lắng cho vận nước

Chứng kiến cảnh nhân dân khổ cực, lầm than, Lí Công Uẩn “vô cùng đau xót” Lời bộc bạch chân thành đã làm nổi bật hình ảnh của một ông vua yêu nước, thương dân và luôn khắc khoải về vận mệnh dân tộc Như vậy, giá trị nhân văn đã được thể hiện qua tấm lòng của bậc minh quân, một lòng muốn dời đô để phát triển đất nước, tạo nên thái bình cùng cuộc sống an vui của con dân

Giá trị nhân văn của tác phẩm còn được thể hiện qua lí do chọn Đại La làm kinh đô: “ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi”

Tác giả đã phân tích những ưu điểm về mặt địa lí, phong thủy của vùng đất Đại

La Việc nhìn nhận địa thế của Đại La không những thể hiện sự hiểu biết sâu rộng mà còn cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của sự thấu tình đạt lí trong việc quyết định dời

đô

Tuy là một bài chiếu nhưng “Chiếu dời đô” lại thấm đẫm giá trị nhân văn bởi một lẽ, Lí Công Uẩn không hề ép buộc nhân dân phải làm theo ý mình Chiếu vốn thuộc thể loại văn học chức năng, là lời ban bố của vua truyền xuống nhân dân nhưng xuyên suốt bài chiếu, chúng ta không hề bắt gặp bất cứ từ ngữ mang tính chất khẩu lệnh hay ép buộc nào

Ngược lại, bài chiếu được viết nên đầy cảm xúc: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy

mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?” Việc dời đô giống như được đưa ra trưng cầu

ý dân bằng lập luận chặt chẽ, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục, giọng văn ôn hòa, lời văn chân thật

Trang 26

Như vậy, tuy thuộc là thể loại văn học chức năng với mục đích ban bố mệnh lệnh nhưng “Chiếu dời đô” không hề khô khan mà rất giàu cảm xúc Với tấm lòng yêu nước thương dân, tác giả- vị vua Lí Công Uẩn đã tạo nên một tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân văn

Từ mục đích dời đô, lí do chọn Đại La làm kinh đô mới hay đến những lời bộc bạch của tác giả, chúng ta đều bắt gặp trong đó những giá trị vô cùng tốt đẹp và vì con người

Phân tích Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn mẫu 3

Trước những biến động của nước nhà, hàng loạt các chiếu của nhà vua được ban xuống để bây giờ trở thành những tác phẩm hay có giá trị trong nền văn học Việt Nam Cùng với chiếu cầu hiền của vua Quang Trung thì chúng ta còn được biết đến chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn Bài chiếu không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà

nó còn mang nhiều nét văn học trong đó Lý Công Uẩn nổi tiếng là một nhà vua thông minh nhân ái có trí lớn và lập được nhiều chiến công hiển hách Khi vua Lê Ngọa Triều băng hà, ông được triều thần tôn lên làm vua, xưng là Lí Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên Năm Canh Tuất (1010), Lí Thái Tổ viết bài chiếu bày tỏ ý định dời đô

từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay)

Tương truyền khi thuyền nhà vua đến đoạn sông dưới chân thành thì chợt thấy

có rồng vàng bay lên Cho là điềm lành, Lí Thái Tổ nhân đó đổi tên Đại La thành Thăng Long

Chiếu là một loại văn bản cổ, nội dung thông báo một quyết định hay một mệnh lệnh nào đó của vua chúa cho thần dân biết Chiếu thường thể hiện một tư tưởng lớn lao có ảnh hưởng đến vận mệnh triều đại, đất nước Chiếu dời đô cũng mang đầy đủ đặc điểm trên nhưng bên cạnh đó, nó cũng có những nét riêng Đó là tính chất mệnh lệnh kết hợp hài hòa với tính chất tâm tình Ngôn ngữ bài chiếu vừa là ngôn ngữ hành chính vừa là ngôn ngữ đối thoại Cũng như chế và biểu, chiếu được viết bằng tản văn, chữ Hán, gọi là cổ thể; từ đời Đường (Trung Hoa) mới theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây)

Trước hết tác giả nêu lên những dẫn chứng, những cơ sở để làm tiền đề cho việc dời đô của mình Từ cổ chí kim việc dời đô là một việc làm thường xuyên của các nhà vua, cốt là để tìm cho hàng cung một chỗ phong thủy hợp cho sự phát triển của đất nước, góp phần hưng thịnh đất nước Lí Công Uẩn dẫn ra hàng loạt sự dời đô của

Trang 27

những vị vua bên Trung Quốc trước đó Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo

ý dân nếu thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh

Có thể nói bằng những dẫn chứng trên tác giả lấy đó làm tiền đề và mở đầu cho bản chiếu dời đô của mình Dời đô không phải là một việc xấu, từ xưa nó đã diễn ra thường xuyên rồi Mục đích của nó cốt chỉ để làm cho việc mưu sinh thêm thuận lợi, bộ máy hành chính được đặt ở trung tâm của đất nước Dời để hợp ý trời và thuận lòng dân để

từ đó đất nước phồn thịnh kéo dài

Qua việc đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng ấy, tác giả khẳng định việc thay đổi kinh đô đối với triều đại nhà Lí là một tất yếu khách quan Ý định dời đô của Lí Công Uẩn bắt nguồn từ thực tế lịch sử đồng thời thể hiện ý chí mãnh liệt của nhà vua cũng như của dân tộc ta hồi đó Nhà vua muốn xây dựng và phát triển Đại Việt thành một quốc gia hùng mạnh trong tương lai

Tiếp theo tác giả phân tích nhưng thực tế cho thấy kinh đô cũ không còn thích hợp với sự mở mang của đất nước nữa cho nền cần thiết phải dời đô Ông không ngần ngại phê phán những triều đại cũ "Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi" tác giả nói rằng các triều đại nhà Đinh nhà Lê đã không nghe theo ý trời nên chỉ đóng đô ở nơi đây chính vì thế mà triều đại không được lâu dài Không biết học những cái của thời xưa như nhà Thương, nhà Chu Vậy nên trái với khách quan thì sẽ

bị tiêu vong, không đi theo quy luật thì sẽ không có kết quả tốt Tóm lại kinh đô Đại Việt không thể phát triển được trong một quốc gia chật hẹp như thế Nhưng thực chất thì ở giai đoạn đó hai triều đại chưa đủ mạnh cả thế và lực để tiến hành việc rời đô vùng đồng bằng trống trải nên vẫn phải dựa vào địa thế hiểm trở của rừng núi để chống thù trong, giặc ngoài Nhưng đến thời Lí, trên đà mở mang phát triển của đất nước thì việc đóng đô ở Hoa Lư không còn phù hợp nữa Bên cạnh những dẫn chứng thuyết phục như thế tác giả còn thể hiện giãi bày tình cảm của mình Điều đó đã làm tăng thêm sức thuyết phục cho bài văn Cảm xúc ấy chính là cảm xúc mà tác giả muốn phát triển đất nước theo một hướng phát triển thịnh vượng hơn, lâu dài và bền vững hơn

Trang 28

Sau đó nhà vua chứng minh và khẳng định sự đúng đắn hợp quy luật và phù hợp của việc dời đô Đại La là một nơi có tất cả các điều kiện để phát triển đất nước "Huống

gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hưởng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi " Đại La hiện lên đẹp về mọi mặt như địa lý, văn hóa, đầu mối giao lưu, điều kiện của dân cư và sự phong phú, tốt tươi của cảnh vật tác giả đã nhìn từ góc nhìn của một nhà phong thủy, cho thấy tất cả những điều kiện tốt đẹp của thiên nhiên cũng như con người nơi đây Thành Đại La ở vị trí trung tâm của đất nước Có thế rồng cuộn hổ ngồi Địa hình đa dạng có núi có sông, địa thế cao và khoáng đạt, mở ra bốn hướng nam, bắc, đông, tây, tiện cho việc phát triển lâu dài của quốc gia Đây cũng là đầu mối giao lưu chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước Xét toàn diện, thành Đại La có đủ điều kiện tối ưu để trở thành kinh đô mới của Đại Việt Chứng cớ nhà vua đưa ra có sức thuyết phục rất lớn vì được cân nhắc kĩ càng trên nhiều lĩnh vực có thể nói đây là một mảnh đất lý tưởng cho kinh đô

và với những điều kiện ấy triều đại sẽ phát triển hưng thịnh Nhà vua tự cho rằng xem

cả dải đất nước Đại Việt thì chỉ có mỗi nơi đây là thánh địa Có thể hiểu thánh địa là một nơi đất đai địa hình tốt đẹp hợp với một sự phát triển mạnh mẽ

Kết thúc bài chiếu Lí Công Uẩn không dùng sức mạnh uy quyền để quyết định rời đô mà dùng một giọng như tham khảo ý kiến của nhân dân, bề tôi trung tín "Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở Các khanh nghĩ thế nào?" Đó như thể hiện sự dân chủ và công bằng cho tất cả những người bề dưới, quyền quyết định đương nhiên thuộc về nhà vua thế nhưng ông vẫn muốn hỏi ý kiến phía dưới để thấy đồng lòng với người dân Vì chỉ có hợp với lòng dân thì nhà vua cũng như đất nước mới trở nên vững bền được

Như vậy có thể thấy Lí Công Uẩn là một vị vua thông minh, nhân ái hiền từ và rất đổi hợp lòng dân Ông không chỉ lấy những thực tế dẫn chứng từ các triều đại trước cũng như sự tốt đẹp của địa hình Đại La mà ông còn đánh vào tình cảm để thuyết phục

Tuy là một bài chiếu có ý nghĩa ban bố mệnh lệnh nhưng Chiếu dời đô của Lí Công

Uẩn rất có sức thuyết phục bởi nó hợp với lẽ trời, lòng dân Tác giả đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng điệu mạnh mẽ, khỏe khoắn để thuyết phục dân chúng tin và ủng hộ cho kế hoạch dời đô của mình

Trang 29

Đề bài: Chứng minh "Chiếu dời đô" có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí

Xưa nay , thủ đô là trung tâm về văn hoá , chính trị của 1 đất nước Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự thịnh suy của một dân tộc Thủ đô có ý nghĩa rất lớn Dường như lịch sử của các nước có nền văn minh lâu đời đều có những cuộc dời đô như thế Mỗi lần dời là một thử thách của dân tộc Đó phải là quyết định của những đầu óc ưu

tú nhất thời đại Nói cách khác , ko có ý chí quyết tâm lớn , ko có tầm nhìn thấu cả tương lai thì LÝ Công Uẩn ko thể nói đến chuyện dời đô

Mở đầu bài chiếu , nhà vua giải thích tại sao lại dời đô Và bằng một lý lẽ ngắn gọn nhưng sắc sảo , cùng với dẫn chức thiết thực , nhà vua đã khẳng định : việc dời đô

ko phải là hành động , là ý chí của một người Nó là biểu hiện cho xu thế tất yếu của lịch sử Lý Công Uẩn tuyệt vời là đã hiểu được khát vọng của nhân dân , khát vọng của lịch sử Dân tộc Việt không chỉ là một nước độc lập Muốn bảo vệ được điều ấy thì non sông , nhân tâm con người phải thu về 1 mối Tất cả thần dân phải có ý chí tự cường để xây dựng nước Đại Việt thành quốc gia thống nhất vững mạnh Muốn vậy , việc đầu tiên là phải tìm một nơi “trung tâm của trời đất” , một nơi có thế “rồng cuộn

hổ ngồi” Nhà vua đã rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dực núi” Nơi đây ko phải là miền Hoa Lư chật hẹp , núi non bao bọc lởm chởm mà là “ địa thế rộng mà bằng , đất đai cao mà thoáng” Như vậy, đây

là mảnh đất lí tưởng “ dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ và ngập lụt , muôn vật rất mực phong phú tốt tươi ”Thật cảm động , vị vua anh minh khai mở 1 triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân Tìm chốn lập đô cũng vì dân , mong cho dân được hạnh phúc Trong niềm tin của vua , có 1 kinh đô như vậy , nước Đại Việt sẽ bền vững muôn đời

Trang 30

Dời đô ra Thăng Long là 1 bước ngoặc rất lớn Nó đánh dấu sự trường thành của dân tộc Đại Việt Chúng ta ko cần phải sống phòng thủ , phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để đối phó với quân thù Chúng ta đã đủ lớn mạnh để lập đô ở nơi

có thể đưa nước phát triển đi lên , đưa đất nước trở thành quốc gia độc lập sánh vai với phương Bắc Kinh đô Thăng Long quả là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời , là nơi

để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời vậy !

Có thể nói , với trí tuệt anh minh tuyệt vời , với lòng nhân hậu tuyệt vời , Lý Công Uẩn đã bày tỏ ý định với các quan trong triều ý định dời đô giàu sức thuyết phục Phần đầu nhà vua đưa ra những lý lẽ thuyết phục là nhờ những bằng chứng sử sách Nhưng phần sau nhà vua đã đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về miền đất mà vua định lập đô , ko chỉ là cho ta thoả mãn về lí trí mà quan trọng hơn là bị thuyết phục bằng tình cảm Ta bắt gặp ở đây 1 giọng nói đầy nhân từ , tấm lòng lo cho dân cho nước rất mực Những điều vua nói cách đây cả ngàn năm nhưng hôm nay nhìn lại vẫn giữ nguyên tính chân lí của nó Trải qua bao thăng trầm , con rồng bay lên bầu trời Hà Nội vẫn làm cho cả nước bái phục nhân cách , tài năng của Lý Công Uẩn , 1 vị vua anh minh vĩ đại

“Chiếu dời đô” là áng văn xuôi cổ độc đáo , đặc sắc của tổ tiên để lại Ngôn ngữ trang trọng , đúng là khẩu khí của bậc đế vương Đó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn

và trí tuệ Việt Nam Nó khơi dậy trong lòng nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ

Chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí và

tình - mẫu 2

Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) được Lý Công Uẩn ban bố năm 1010, trước khi

dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La Với ý nghĩa và sự tác động đặc biệt, đã trở thành một văn kiện chính trị, lịch sử, văn hoá quan trọng nổi tiếng trong một nghìn năm qua Điểm nổi bậc và là yếu tố làm nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài chiếu này chính là cái lí thuyết phục, sắc bén, trực chỉ nhân tâm, chiếm ngự lòng người bằng những lời lẽ bình dị nhưng hết sức sâu sắc

Với giọng văn khoan thai mà hùng hồn, lời lẽ bình dị mà thắm thiết, lí lẽ sắc bén mà thiết tha tình cảm, bài chiếu đã khẳng định bản lĩnh và truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc, củng cố khối đoàn kết thống nhất, đem lại cho dân tộc và đất nước

Trang 31

một vị thế mới trên bước đường phát triển, mở ra một thời kỳ lớn mạnh hùng cường của dân tộc

Lấy tư cách một vị hoàng đế, trong một bài chiếu có kết cấu chặt chẽ, ý tứ sâu

xa, ngôn từ phong phú và thuyết phục, Lí Công Uẩn đã bày tỏ cùng các quan và thần dân của mình một ý nguyện quan trọng với hai vấn đề chính: lí do cần phải dời đô và việc lựa chọn vùng đất xây dựng kinh đô mới nhằm mở ra một thời đại mới: thời đại thái bình thịnh trị

Việc dời đô là quốc gia đại sự, là trách nhiệm và sự nghiệp của toàn dân, không thể quyết định hay thực hiện trong một sớm một chiều Với lại, đất nước vừa đi qua nạn binh đao, nền hòa bình gây dựng chưa được bao lâu, muôn dân còn đang vất vả, muốn dời đô ngay lúc này e rằng càng làm cho dân thêm khốn khổ Lý công Uẩn rất hiểu điều đó Bởi thế, trước hết ông nói về cái lí phải dời đô và khẳng định dời đô là tất yếu, thuận theo quy luật của trời đất và nhân tâm

Bởi thế, mở đầu bài chiếu, ông viện dẫn tấm gương sáng ngời về đức trị của vua Bàn Canh và vua Thành Vương đã nhiều lần dời đô, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì dời đổi, nhằm mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu Thế nên vận nước được lâu dài, phong tục bởi vậy mà phồn thịnh, lưu truyền

Đó là thành công đáng phải học hỏi

Cái dụng ý của Lý Công Uẩn muốn nói rằng việc dời đô không phải là không

có ở trên đời, người xưa đã làm và thành công, nay ta học tập cái tốt của người xưa cũng là hợp với quy luật của trời đất Có thể nói, Lý Công Uẩn đã đánh đúng vào tâm

lí của muôn dân bởi chuyện của Thương, Chu vốn được truyền tụng khắp nhân gian,

ai mà không biết, từ đó có thể gây được sự đồng cảm, thấu hiểu và ủng hộ sâu sắc

Tiếp đến, ông viện dẫn hai nhà Đinh, Lê – hai triều đại trước, đã không chịu dời đổi, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không được thích nghi, đất nước bao năm nằm trong địa thế hạn hẹp, không hội tụ được khí thiêng của trời đất, nên yếu kém, nhu nhược Điều ấy, muôn dân cũng đã rất

rõ Hai triều Đinh, Lê trong suốt chiều dài lịch sử, vì đống đô ở Hoa Lư đã không thể

mở mang đất nước Tuy Hoa Lư có lợi thế rừng núi tiện lợi trong việc chống giặc xong sản xuất lại hết sức hạn chế khiến cho đất nước không thể phồn thịnh, muôn dân còn đói khổ

Trang 32

Trong suốt thời gian tồn tại, hai triều đại đã gây biết bao đau thương cho đất nước Các vị vua bất tài vô dụng đã để cho quần thần lộng hành, tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau, dân chúng chưa bao giờ được yên ổn Đó cũng là do cái thế đất không kết tụ tinh anh Sự diệt vong của hai triều đại cũng là tất yếu nhưng dưới lời

lẽ của Lý công Uẩn càng trở nên thống thiết vô cùng

Đoạn mở đầu đã đủ sức tạo niềm tin tưởng trong lòng người vào mục đích cao

cả cảu việc nhất thiết phải dời đô nhưng đoạn tiếp theo mới thực sự thuyết phục lòng người về ý nguyện lớn lao và sự lựa chon sáng suốt của vị lãnh đạo tài ba, anh minh, lỗi lạc khi quyết định lựa chọn thành Đại La làm nơi định đô mới

Thành Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn có một

vị trí thuận lợi hiếm có Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời cai trị của Cao Biền, một bậc thầy phong thuỷ, được ca tụng là “đệ nhất địa lí kì sư”

Nhưng điều quan trọng là bởi Đại La “ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”

Bởi thế Đại La xứng đáng “là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” Sự

“thắng thế” của thành Đại La so với kinh đô Hoa Lư là quá rõ, lại được nhìn nhận bởi một vì vua anh minh, vì nước vì dân càng làm thuyết phục lòng người Bởi thế cũng

dễ hiều, khi bài chiếu được ban bố đã nhận được sự ủng hộ lớn lao của quần thần và toàn dân đất nước, khiến cho việc dời đô điễn ra rầm rộ và nhanh chóng ngay sau đó

Lí Công Uẩn không dụng nhiều lời mà hướng đến cái lí sắc bén, thuyết phục lòng người Điểm cốt yếu là ông viện dẫn cái lí lẽ mà ai cũng thấu rõ, kí thác vào đó sức mạnh của niềm tin, nhanh chóng chiếm lĩnh và tìm kiếm sự ủng hộ đồng tình của bách tính

Sự thành công trong chiến lược dời đô cũng là do bởi người lãnh đạo có đức cao, độ lượng, lấy nhân tâm thu phục lòng người, biểu dương cái đức để cai trị đất nước, mưu toan nghiệp lớn vì lợi ích của muôn dân cứ không phải toan tính cho riêng mình Bởi thế, muôn người hồ hởi chung tay cùng triều đình không ngại gian lao mà dời đổi

Trang 33

Cái tài tình của Lý Công Uẩn là ông đã hiểu rõ lòng dân, nắm vững tâm tư nguyện vọng của bách tính Thế nên, lời nói tuy hết sức ngắn gọn nhưng lại có sức biểu dương lớn, nhanh chóng thu phục lòng người, đưa cuộc vận động nhanh chóng biến thành hành động cụ thể, hiệu quả ngay sau đó

Trang 34

Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục) - Tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 8

I Tác giả văn bản Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục)

- Ru-xô (1712-1778) tên khai sinh là Jean-Jacques Rousseau

- Quê quán: Nhà văn người Pháp

- Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:

+ Ông là nhà văn, nhà triết học, nhà hoạt động cách mạng xã hội Pháp

+ Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như Giuy-li, Nàng Hê-lô-i-dơ mới, Ê-min hay về giáo dục…

Bài giảng Ngữ Văn 8 Đi bộ ngao du

II Nội dung văn bản Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục)

Trang 38

III Tìm hiểu chung về tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục)

1 Bố cục tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục)

- Phần 1 (Từ đầu đến bàn chân nghỉ ngơi): Đi bộ ngao du là hoàn toàn được tự do,

không bị lệ thuộc vào bất cứ ai

- Phần 2 (Tiếp đến không thể làm tốt hơn): Đi bộ ngao du – trau dồi vốn tri thức

- Phần 3 (Còn lại): Đi bộ ngao du rèn luyện sức khỏe và tinh thần của con người

2 Tóm tắt tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục)

Tóm tắt tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục) (mẫu 1)

Văn bản Đi bộ ngao du đã cho thấy ích lợi của việc đi bộ, từ đó thấy con người giản dị,

yêu quý tự do, yêu mến thiên nhiên của nhà văn Để chứng minh muốn ngao du cần phải đi bộ, bài đã lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục, lại rất sinh động do các lí lẽ và thực tiễn cuộc sống tác giả từng trải qua luôn bổ sung cho nhau Bài văn còn thể hiện

rõ Ru-xô là một con người giản dị, quý trọng tự do và yêu thiên nhiên

Tóm tắt tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục) (mẫu 2)

Theo Ru -xô, việc đi bộ là việc vô cùng thiết yếu với nhiều tác dụng và mang lại lợi ích lớn Thứ nhất, đi bộ như là một cách để ngao du mà không bị ràng buộc bởi ai hay bất

kì thứ gì khác Đi bộ giúp ta tự do hơn trên cuộc hành trình của chính mình, muốn nghỉ ngơi hay dừng chân ở chốn nào cũng được Khi đi bộ cơ thể sẽ trở nên linh hoạt hơn, không bị giới hạn bởi điều gì cả, có thể quan sát được khắp mọi nơi, nhìn mọi vật một cách toàn diện

Tóm tắt tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục) (mẫu 3)

Ru-xô (1712-1778) là nhà văn, nhà triết học, nhà hoạt động cách mạng xã hội Pháp Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như Giuy-li, Nàng Hê-lô-i-dơ mới, Ê-min hay về giáo dục… Văn bản "Đi bộ ngao du" trích trong quyển V - quyển cuối cùng của tác phẩm Ê-min hay Về giáo dục, xuất bản năm 1762, bài viết bày tỏ quan điểm muốn

Trang 39

ngao du học hỏi cần phải đi bộ Tác phẩm là minh chứng cho những tác dụng mà đi bộ mang lại cho con người, muốn ngao du cần phải đi bộ Qua đó, thể hiện Ru-xô là một con người giản dị, quý trọng tự do và yêu thiên nhiên

3 Phương thức biểu đạt

- Tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục) sử dụng phương thức biểu đạt: Nghị luận

4 Thể loại

- Tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục) thuộc thể loại: Tiểu thuyết

5 Giá trị nội dung

Để chứng minh muốn ngao du cần phải đi bộ, bài Đi bộ ngao du lập luận chặt chẽ, có

sức thuyết phục, lại rất sinh động do các lí lẽ và thực tiễn cuộc sống tác giả từng trải qua luôn bổ sung cho nhau Bài này còn thể hiện rõ Ru-xô là một con người giản dị, quý trọng tự do và yêu thiên nhiên

6 Giá trị nghệ thuật

Văn bản có cách lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục, lí lẽ và dẫn chứng sinh động

IV Dàn ý tác phẩm Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về giáo dục)

II Thân bài

1 Đi bộ ngao du rất thoải mái, được tự do thưởng ngoạn

- Những trở ngại gặp phải và những cách khắc phục tương ứng:

Trang 40

+ Thời tiết xấu⇒ Đi ngựa

+ Chán ⇒ tìm những thứ để giải trí

+ Mệt ⇒ Vận động hai cánh tay

- Đi bộ ngao du tạo nên trạng thái tinh thần thoải mái, không bắt buộc, không phụ thuộc + Muốn đi , muốn dừng nhiều tuỳ ý

+ Không phụ thuộc vào con người , phương tiện

+ Không phụ thuộc vào đường xá lối đi , chỉ phụ thuộc vào bản thân mình

+ Thoải mái hưởng thụ tự do trên đường đi

⇒ Đi bộ ngao du là niềm hạnh phúc, được tự do thưởng ngoạn

2 Đi bộ ngao du trau dồi kiến thức, tăng sự hiểu biết về thiên nhiên, cuộc đời

- Đi bộ ngao du như Ta-lét, Pla-tông, Py-ta-go

+ Những nhà triết gia đi bộ ⇒ Xem xét tài nguyên trái đất phô bày phong phú

+ Những người yeu mến nông nghiệp đi bộ ⇒ Muốn biết các sản vật… và cách thức trồng trọt

+ Người có chút ít hứng thú với tự nhiên học ⇒ Xem xét khoảnh đất, hoa lá, hóa thạch

- Sự đối lập giữa phòng sưu tập của vua chúa và của Ê-min

+ Phòng sưu tập của các vua chúa toàn những đồ linh tinh

+ Phong sưu tập của Ê-min phong phú hơn- là cả trái đất, mỗi nơi mỗi vật ở đúng chỗ của nó

⇒ Đi bộ ngao du sẽ trau dồi vốn tri thức, mở mang tầm nhìn Đồng thời tác giả cũng muốn đề cao kiến thức của các nhà khoa học am hiểu kiến thức thực tế

3 Đi bộ ngao du tăng cường sức khỏe, tinh thần cho con người

Ngày đăng: 24/11/2022, 09:49

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w