1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sự phát triển về lý luận mục tiêu con đường đi lên CNXH ở việt nam trong văn kiện đại hội 13 của đảng và ý nghĩa đối với quân đội hiện nay

13 39 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 135,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội XIII của Đảng, trên cơ sở tổng kết 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã cụ thể hóa, bổ sung nhận thức mới về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Vào giữa thế kỷ XIX, với sự xuất hiện của hệ thống Triết học Mác và đến cuối thế

kỷ này, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua các thời kỳ khác nhau với những quan hệ xã hội vật chất nhất định, lần đầu tiên được nghiên cứu từ trong bản chất để sau đó được khái quát thành một khái

niệm cơ bản duy nhất “ Hình thái xã hội”.

Trải qua 5 HTKT-XH, từ công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ… cho đến chủ nghĩa tư bản (CNTB) và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản (CNCS) mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội (CNXH), mỗi một HTKT-XH đều chỉ một cấu trúc xã hội

ở từng giai đoạn lịch sử, dựa trên một phương thức sản xuất nhất định với kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho cơ sở kinh tế của xã hội và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên cơ sở đó Sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần cơ bản nói trên là động lực bên trong thúc đẩy sự vận động của HTKT-XH và

sự tiến bộ lịch sử, làm chuyển biến xã hội từ HTKT-XH thấp lên HTKT-XH cao hơn, thường là thông qua những chuyển biến có tính cách mạng về xã hội

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một vấn đề rộng lớn , luôn được Đảng ta nhận thức, bổ sung phù hợp với từng giai đoạn Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục có những nhận thức mới được bổ sung, cụ thể hóa nhằm làm rõ hơn mục tiêu, phương hướng và các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu “Nhận thức về sự phát triển về mục tiêu, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ” là chủ đề bài

viết này Qua bài viết này phần nào nắm bắt được lý luận về HTKT-XH của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguồn gốc sự thay thế lẫn nhau của các HTKT-XH trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mô hình về HTKT-XH XHCN cũng như nhận

thức của Đảng ta về sự phát triển về mục tiêu, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời đại ngày nay.

Trang 2

Chương 1: Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

1 Nhận thức về CNXH và mô hình HTKT-XH XHCN

Thời đại ngày nay – thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng 10 Nga vĩ đại Đây vừa

là hồi chuông báo hiệu sự sụp đổ của CNTB là không thể tránh khỏi, vừa là bằng chứng lịch sử để khẳng định rằng loài người đang bước vào một HTKT-XH mới – HTKT-XH Cộng sản chủ nghĩa (CSCN)

HTKT-XH CSCN là giai đoạn phát triển cao nhất trong tiến trình lịch sử của nhân loại Sự ra đời và thay thế của HTKT-XH CSCN đối với HTKT-XH TBCN là một tất yếu lịch sử và được chia thành hai giai đoạn với những đặc điểm khác nhau Giai đoạn thấp là CNXH và giai đoạn cao là CNCS Để đạt được mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công CNCS, các quốc gia phải phát triển qua giai đoạn quá độ lên CNXH, đây là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để trên tất

cả các mặt của đời sống xã hội và diễn ra dưới hai hình thức: Quá độ trực tiếp từ CNTB phát triển cao lên CNXH Và quá độ gián tiếp là từ CNTB chưa phát triển hay bỏ qua phát triển TBCN tiến thẳng lên CNXH – đây là con đường lâu dài và nhiều khó khăn, gian khổ

Lợi dụng những sai lầm trong cải cách đổi mới đã làm cho Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, hệ thống XHCN hùng mạnh một thời, là đối trọng với hệ thống TBCN tan rã, phong trào cách mạng thế giới gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, CNTB tận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại, kịp thời điều chỉnh, thích nghi và đang có bước ổn định tương đối, đã chỉ trích mô hình CNXH, phê phán lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về HTKT-XH là không đúng đắn… Cũng không phải vì thế mà chúng ta nghi ngờ về tính khoa học, cách mạng của phương pháp tiếp cận xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng Tuy có bước thụt lùi của CNXH, nhưng CNXH ra đời là một tất yếu lịch sử, một sự vận động phát triển hợp quy luật khách quan, nó được quy định bởi tính lôgic nội tại của nền sản xuất TBCN Hệ thống CNXH không còn nhưng các nước XHCN còn lại do vận dụng đúng đắn nguyên tắc, nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin trong quá trình đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi, CNXH ở những nước này không những không sụp đổ mà còn phát triển ngày càng vững chắc

2 Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong thời đại ngày nay

Từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quá trình xây dựng CNXH và nhận thức của Đảng về thời kỳ quá độ lên CNXH, trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã khẳng định: “Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”

Nước ta chưa trải qua thời kỳ phát triển TBCN, cho nên quá độ trực tiếp lên CNXH là không có khả năng, bởi vậy quá độ gián tiếp lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người trong thời đại ngày nay, vừa đáp ứng

Trang 3

được nguyện vọng của cả dân tộc và phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam, mặc

dù sẽ có nhiều khó khăn, vất vả, con đường tiến lên XHCN sẽ lắm chông gai

Từ nội hàm của luận điểm “Bỏ qua chế độ TBCN” ở đây không thể hiểu là

sự bỏ qua tất cả những yếu tố cấu thành HTKT-XH TBCN, mà là bỏ qua chế độ TBCN với tư cách là một chế độ chính trị, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX TBCN trong CSHT, từ đó bỏ qua việc hình thành KTTT, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh LLSX, lập nên một QHSX thống trị mới, phù hợp với trình độ của LLSX trong CSHT, đó là QHSX XHCN,

nhằm xây dựng nền kinh tế hiện đại, cùng với nó là xây dựng một chế độ chính trị

do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm xoá bỏ áp bức, bất công trong xã hội

Quá độ lên CNXH ở nước ta không phải là một sự du nhập, hay “nhập ngoại” một cách giáo điều, máy móc mà đó chính là sự lựa chọn của chính lịch sử Việt Nam Tuy trong quá trình nhận thức và vận dụng những nguyên lý của CN Mác – Lênin vào xây dựng CNXH, Đảng đã có một số sai lầm, khuyết điểm như trì trệ, chủ quan, nhận thức các quy luật kinh tế trong thời kỳ quá độ còn đơn giản phiến diện, duy trì cơ chế kinh tế tập trung quan liêu kéo dài đã làm cho nền kinh

tế nước ta trì trệ, kém phát triển và tụt hậu so với các nước trong khu vực, nhưng

do nhất quán với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH ngay từ đầu, do đứng vững trên lập trường CN Mác – Lênin, Đảng ta đã thận thức được những sai lầm, khuyết điểm của mình và chủ trương đối mới, xác định đúng đắn con đường đi lên CNXH

Chúng ta đi lên CNXH trong một điều kiện quốc tế mới cực kỳ quan trọng,

đó là cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đang phát triển mạnh mẽ, vừa tạo ra những thách thức không nhỏ đối với các nước chậm phát triển như nước ta, song

nó cũng tạo ra những thời cơ mới thuận lợi cho sự phát triển của đất nước Nếu kế thừa và tận dụng nó một cách hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và điều kiện quốc tế thì cho phép chúng ta “rút ngắn” được quá trình phát triển, tạo điều kiện cho đất nước tham gia hội nhập, giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế để phát triển

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ

yếu Thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn

minh"; giải phóng mạnh mẽ tiềm lực lao động và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng

Xuất phát từ mối quan hệ giữa CSHT với KTTT, tức là giữa kinh tế với chính trị, cho nên phải tiến hành đồng bộ giữa phát triển kinh tế với không ngừng đổi mới hệ thống chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội, nâng cao vai trò

lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Xây

dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát

Trang 4

huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân Bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền

kinh tế của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Ðảng Xây dựng nền dân chủ XHCN,

thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội, nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân

Thành tựu lý luận mà Đảng và nhân dân ta đạt được qua thực tiễn hơn 35 năm đổi mới tập trung nổi bật ở quan điểm về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đảm bảo dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng ĐCS cầm quyền trong sạch, vững mạnh, coi đó là khâu then chốt, đại đoàn kết dân tộc là động lực mạnh mẽ và quyết định thành bại của công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta

Chương 2: Nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo Đại hội XIII của Đảng.

Đại hội XIII của Đảng, trên cơ sở tổng kết 35 năm đổi mới, 30 năm thực

hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã cụ thể hóa, bổ sung nhận thức mới về con đường đi lên chủ

nghĩa xã hội ở Việt Nam

1 Cụ thể hóa mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội

Phải khẳng định rằng, đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta từng nhận thức chỉ cần một vài ba kế hoạch sẽ kết thúc thời kỳ quá độ Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đây không phải là vấn đề đơn giản Những mục tiêu, kế hoạch chúng ta đề

ra về cơ bản không đạt, đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, buộc Đảng ta phải nhận thức lại và đề ra đường lối đổi mới

Cụ thể hóa mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ xác định

trong Cương lĩnh năm 2011 và theo tinh thần quan điểm Đại hội XII, tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, xây dựng nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với lộ trình cho các mục tiêu cụ

thể: đến năm 2025, kỷ niệm 100 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp (GDP bình quân đầu người 4.700 đến 5.000 USD); đến năm 2030,

kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người 7.500 USD); đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao (GDP bình quân đầu người khoảng 18.000 USD)

Như vậy, so với quan điểm trong Cương lĩnh năm 2011 và quan điểm của

Đại hội XII, thì quan điểm của Đại hội XIII cụ thể hóa thành các mục tiêu cụ thể, nhằm hướng tới mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI xây dựng nước ta trở thành nước

Trang 5

phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc xác định mục tiêu của Đại hội XIII là theo cách tiếp cận mới về trình độ phát triển, trình độ công nghiệp và thu nhập bình quân đầu người Đây là tổng hợp cách tiếp cận của Đảng ta trong 35 năm đổi mới và theo cách đánh giá, phân loại các nước theo thông lệ quốc tế, được các tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế và hầu hết các nước trên thế giới sử dụng Vì vậy, những mục tiêu cụ thể được xác định lần này có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước

2 Bổ sung nhận thức về phương hướng xây dựng Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của Đại hội XIII.

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Như đã đề cập, từ Đại hội VIII, Đảng ta xác định bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quan điểm này tiếp tục được các kỳ Đại hội IX, X, XI bổ sung phát triển Đại hội XIII tiếp tục khẳng định và có những bổ sung mới cụ thể hơn Đó là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo Điểm mới lần này là

công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để

phát triển bứt phá trong một số ngành và lĩnh vực Trong đó, chú trọng “Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và thế giới Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển kinh tế số” Đồng thời, ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, nhằm đảm bảo phát triển nhanh và bền vững

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhận thức về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được bắt đầu từ khi đất nước bước vào đổi mới và tiếp tục được bổ sung qua các

kỳ Đại hội, Hội nghị của Đảng Đến nay, cơ bản đã có sự thống nhất chung trong

nhận thức Vì vậy, Đại hội XIII yêu cầu thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là “nền kinh tế thị trường

hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Trang 6

Đại hội XIII cùng với việc tiếp tục một cách nhất quán các phương hướng về phát triển văn hóa, con người, quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong các văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng, thì cũng có một số bổ sung mới Đó là “xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới” Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào tiến trình phát triển của thế giới, thì việc gắn bó chặt chẽ giữa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người với hệ giá trị gia đình Việt Nam là một nhận thức mới, trong

đó đặt hệ giá trị gia đình vào vị thế vốn có của nó, với tư cách là tế bào của xã hội,

là hạt nhân nuôi dưỡng, lưu giữ và phát huy các giá trị quốc gia, giá trị văn hóa, con người Việt Nam Đối với các loại hoạt động sáng tạo văn hóa, nghệ thuật “bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo”, “quan tâm phát triển văn hóa, văn nghệ của các dân tộc thiểu số”… Điều đó nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của con người và xã hội, thể hiện bản chất của chế độ ta là lấy con người làm mục tiêu phát triển

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực vô cùng quan trọng và là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Qua mỗi kỳ Đại hội, phương hướng xây dựng quốc phòng, an ninh tiếp tục được bổ sung những nội dung mới phù hợp với từng giai đoạn Đại hội XIII việc xác định phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có mặt đậm nét hơn và có những điểm mới Đó là

“Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại” Đồng thời, xác định rõ hơn nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, an ninh; triển khai thực hiện các chiến lược về quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Đại hội XIII, tiếp tục khẳng định quan điểm đó, đồng thời làm rõ hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế phải luôn xác định lợi ích quốc gia dân tộc luôn là là mục tiêu tối thượng, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản Hiến chương Liên hợp quốc

và luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi Hội nhập quốc tế phải chủ động, tích cực và “giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Trang 7

Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất

của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” Đây là

sự tổng kết, có tính khái quát cao về dân chủ, khẳng định bản chất của chế độ ta là dân chủ, là mục tiêu, động lực của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đại hội XIII tiếp tục cụ thể hóa và bổ sung một số nội dung mới, đó là: bổ sung nội dung, phương châm thực hiện dân chủ là “dân giám sát, dân thụ hưởng” thành

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” Xác định rõ hơn mối quan hệ và vai trò giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ” Khẳng định “đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tại Đại hội XIII đã xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững” Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định Đẩy nhanh tiến

độ ban hành các luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, đây

là nhiệm vụ then chốt quyết định đến thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta luôn có sự đánh giá một cách toàn diện những ưu điểm, hạn chế, bài học kinh nghiệm và đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng vừa có tính kế thừa vừa có những điểm mới phù hợp với từng giai đoạn Tại Đại hội XIII nhấn mạnh: “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” Điểm mới so với trước đây là bổ sung “xây dựng

hệ thống chính trị” cùng với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và không chỉ

đề cập đến xây dựng Đảng, mà cả chỉnh đốn Đảng Đồng thời, bổ sung những nhận thức mới trong nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức

3 Bổ sung nhận thức về các mối quan hệ lớn cần giải quyết.

Lần đầu tiên các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình đi lên xây

dựng chủ nghĩa xã hội được Đảng ta tổng kết, hệ thống hóa trong Cương lĩnh năm

2011 Đó là 8 mối quan hệ: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan

Trang 8

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Đến Đại hội XII, Đảng ta có sự điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành

“giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhằm làm rõ hơn trong chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại nền kinh tế thị trường; và bổ sung thêm mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường” Đến Hội nghị Trung ương

5, khóa XII, bổ sung, phát triển thành quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những nhận thức, bổ sung mới các mối quan hệ lớn Đó là điều chỉnh, bổ sung mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” thành “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” thành “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” Đặc biệt, bổ sung thêm mối quan hệ “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”

Như vậy, Đảng ta đã có những điều chỉnh, bổ sung mới từng mối quan hệ một cách chặt chẽ, đầy đủ hơn, thành 10 mối quan hệ lớn cần giải quyết Đây là sự phản ánh quy luật khách quan, mang tính biện chứng của những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng, làm cho “lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”

Chương 3: Yêu cầu, giải pháp và trách nhiệm bản thân với mục tiêu đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

1 Yêu cầu, giải pháp gắn với mục tiêu đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1.1 Thống nhất nhận thức cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng.

Để kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, trước hết là phải tạo sự thống nhất trong nhận thức cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là về các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cần thực hiện trong giai đoạn hiện nay

Để thực hiện được yêu cầu này, cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho các chủ thể nhận thức rõ ý nghĩa, trách nhiệm của bản thân trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ Cần chú ý tùy theo đối tượng để có biện pháp thông tin, tuyên truyền phù hợp Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, thường xuyên quán triệt, phổ biến đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng về triển khai thực

Trang 9

hiện quan điểm Đại hội XIII gắn với trách nhiệm, vị trí công tác Đối với quần chúng nhân dân phải có nhiều hình thức thông tin, tuyên truyền phù hợp, đơn giản,

dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, sát với điều kiện, trình độ nhận thức của các tầng lớp nhân dân

1.2 Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển đất nước của Đại hội XIII.

Quan điểm, đường lối của Đảng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được triển khai vào cuộc sống Mức độ hiệu quả trên thực tế là thước đo cho vai trò lãnh đạo của Đảng và sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở thống nhất nhận thức, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, phải xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, gắn với điều kiện, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, địa phương, đơn vị Triển khai đầy đủ, toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội; xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể; bảo đảm quốc phòng,

an ninh; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ Chú trọng thực hiện có hiệu quả 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định Trong đó, phải đề ra được phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, khoa học, có tính khả thi cho từng mục tiêu, chỉ tiêu, nội dung thực hiện

1.3 Khơi dậy và phát huy mạnh mẽ các nguồn lực phát triển đất nước.

Quán triệt tinh thần Đại hội XIII về khơi dậy và phát huy mạnh mẽ các nguồn lực vật chất và tinh thần phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Khơi dậy và phát huy ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, giá trị văn hóa, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại

Phát huy mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường Khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước Theo đó, cần phải hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; làm cho kinh tế - xã hội phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước

1.4 Đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tìm và làm mọi cách để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối phát triển đất nước của Đại hội XIII Vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phải luôn quán triệt tinh thần kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt,

hiệu quả Một mặt, phải tổ chức thực hiện hiệu quả quan điểm, đường lối của Đảng, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Mặt

Trang 10

khác, phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai

trái, thù địch xuyên tạc mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ âm mưu, bản chất, tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch để chủ động phòng ngừa, đấu tranh

1.5 Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới của đất nước.

Đây là yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng, xuyên suốt và nhất quán trong quá trình đổi mới đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Vì vậy, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào cũng phải kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Với cách mạng Việt Nam và với Đảng ta, chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất chặt chẽ không thể tách rời Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Mọi biểu hiện xét lại hoặc giáo điều trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều là những lệch lạc, sai lầm cần phải phòng tránh và phê phán

2 Trách nhiệm bản thân với mục tiêu đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Bảo vệ và xây dựng mục tiêu đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Trong đó Bảo vệ chủ quyền biển đảo là một bộ phận cấu thành của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền luôn gắn bó mật thiết với quá

trình phát triển kinh tế - xã hội biển, đảo Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự

nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân trên biển là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong

đó Hải quân Nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt Là một Sĩ quan – Chính trị viên Hải quân anh hùng để góp phần vào công cuộc vĩ đại này bản thân cần làm tốt một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên giáo dục và tự giáo dục nâng cao nhận thức tư tưởng, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng cho bản thân và cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.

Tập trung nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, trên cơ sở đó xây dựng niềm tin vững chắc và kiên định phấn đấu cho mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội mà đảng và nhân dân ta đã và đang hướng tới

Bản thân đề cao cao tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước Coi trọng tuyên truyền vạch rõ bản chất phản động chống cộng, âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, nham hiểm của kẻ thù; đồng thời thường xuyên làm tốt công tác giáo dục nhiệm vụ, làm cho đơn vị luôn quán triệt sâu sắc những quan điểm

Ngày đăng: 24/11/2022, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w