Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạtđược, trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản vẫn tồn tại một số hạnchế cần khắc phục nhằm phát triển hơn nữa để tương xứng với tiềm năng
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ N02
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Từ những năm đầu của thập kỷ 90 trở lại đây, việc mở rộng hội nhập và hợptác kinh tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa nềnkinh tế thế giới Những lợi ích kinh tế của việc hội nhập kinh tế quốc tế đã manglại cho mỗi thành viên tham gia những lợi ích kinh tế mà không một quốc gia nào
có thể phủ nhận Việt Nam cũng không ngoại lệ Để đẩy mạnh quá trình côngnghiệp hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện chínhsách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa và các quan hệ kinh tế quốc
tế, lấy mục tiêu vì hòa bình và phát triển làm tiêu chuẩn và phương châm cho mọihoạt động đối ngoại Thêm vào đó, trong bối cảnh phân công lao động quốc tếđang diễn ra mạnh mẽ, việc hợp tác kinh tế quốc tế đã và đang trở thành cách tốtnhất để các quốc gia phát huy được tối đa lợi thế của mình, có con đường phát triểnmột cách chuyên nghiệp và đầy hiệu quả Không nằm ngoài xu thế trên, cả ViệtNam và Nhật Bản đều đã tìm thấy ở nhau những điều kiện thuận lợi cũng như lợiích kinh tế của bản thân mỗi nươc khi xây dựng, phát triển và củng cố mối quan hệhợp tác song phương giữa hai nước Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạtđược, trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản vẫn tồn tại một số hạnchế cần khắc phục nhằm phát triển hơn nữa để tương xứng với tiềm năng của hainước, đưa mối quan hệ này lên một tầm cao mới
Trang 3I Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản.
Tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản ngày càng phát triển trên nềntảng quan hệ hữu nghị giữa hai nước phát triển tốt đẹp, bền vững
Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ ba và là thị trường xuất khẩu lớn thứhai của Việt Nam Năm 2011, kim ngạch thương mại song phương đạt trên 21 tỷUSD, trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt gần 11 tỷUSD, tăng 39% so với năm trước đó Kim ngạch thương mại song phương 7 thángđầu năm 2012 đạt trên 14 tỷ USD, trong đó tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoásang thị trường Nhật Bản đạt xấp xỉ 7,6 tỷ USD, tăng 39,31% so với cùng kỳ năm
2011 và nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản đạt trên 6 tỷ USD cơ cấu hàng hóa xuấtnhập khẩu:
Trong 7 tháng đầu năm 2012, dầu thô là mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớnnhất sang Nhật Bản, với trị giá hơn 1,6 tỷ USD, chiếm 21,6% tổng kim ngạch xuấtkhẩu; đứng thứ hai là hàng dệt may, với trị giá 1,05 tỷ USD, chiếm 13,9%
Số liệu xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Nhật Bản 7 tháng năm 2012
Trang 4Gỗ và sp gỗ USD 56.313.925 366.568.662Thuỷ tinh
dây cáp
điện
19.952.695 108.918.564
Than đá Tấn 53043 8.487.190 610625 102.099.363Tuí xách,
Trang 5Sp gốm sứ USD 4.831.118 38.082.786
Sp từ cao su USD 4.736.381 33.518.971Hàng rau
Trang 6II Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Nhật Bản vẫn là 1 trong 3 đối tác chính nhập khẩu hàng thuỷ sản Trongnăm 2011 xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật Bản đạt 1,02 tỷ USD, tăng 13,6% sovới năm 2010 Nhật bản là đối tác chính của Việt Nam trong nhập khẩu hàng dệtmay Cụ thể Nhật Bản nhập 249 triệu USD, tăng 44,7%…thép xuất sang Nhật Bảnđạt 122 triệu USD, tăng 24,7% Lượng cà phê Nhật Bản nhập là 50,7 nghìntấn(2011), Việt Nam nhập khẩu sắt thép trong năm 2011 chủ yếu có xuất xứ từNhật Bản với 1,93 triệu tấn, tăng 10,6% so với năm 2010
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá hàng hoá xuấtnhập khẩu của Việt Nam trong tháng 7/2012 đạt 19,8 tỷ USD, tăng 2% so vớitháng trước; trong đó, xuất khẩu đạt 10,19 tỷ USD, tăng 3% và nhập khẩu là 9,61
tỷ USD, tăng 0,8%
Tính đến hết tháng 7/2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của cảnước đạt 127,01 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: xuấtkhẩu đạt 63,55 tỷ USD, tăng 20,2% và nhập khẩu là 63,46 tỷ USD, tăng 8,1% Kếtquả này đã đưa cán cân thương mại của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2012chuyển sang trạng thái thặng dư 88 triệu USD
Trang 7Một số nhóm hàng xuất khẩu chính sang Nhật Bản năm 2012
Hàng dệt may: xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 1,06 tỷ USD, tăng 23,4%
(tương ứng tăng hơn 200 triệu USD)
Giày dép các loại: xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 184 triệu USD, tăng 24%.
Trang 8Phương tiện vận tải & phụ tùng: Nhật Bản là đối tác lớn nhất nhập khẩu
nhóm hàng này của Việt Nam trong 7 tháng qua với 977 triệu USD
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: xuất khẩu sang Nhật Bản: 700
triệu USD, tăng 48,4%; sang Hoa Kỳ: 569 triệu USD, tăng 91,4%
Hàng thủy sản: xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 595 triệu USD, tăng 27,1%.
Với mức tăng 35,43% so với cùng kỳ 2011, Nhật Bản trở thành thị trườngtiêu thụ thủy sản tăng trưởng cao nhất trong năm 5 tháng đầu 2012; tỷ trọng giá trịxuất thủy sản cũng tăng từ mức 14,4% lên 17,5%
Theo số liệu vừa công bố của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, 5 tháng đầunăm, giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 2,3 tỷ USD, tăng 11,6% so vớicùng kỳ năm 2011 Trong đó, giá trị xuất khẩu sang các khối/nước thị trường lớntăng trưởng khá mạnh, ngoại trừ sự sụt giảm của thị trường Châu Âu
Nguồn: Tổng Cục Hải Quan Việt Nam/ Vasep Đvt: Triệu USD
Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 của Việt Nam 5tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản sang Nhật đã có bước phát triển khá mạnh khităng trưởng chung đạt mức cao nhất 35,4%, tỷ trọng giá trị xuất khẩu 5 tháng đãtăng lên 17,5% so với mức 14,4% của 5 tháng đầu năm 2011 Trong đó tôm là mặthàng được xuất sang Nhật lớn nhất
Trang 9Nguồn: Tổng Cục Hải Quan Việt Nam/ Vasep Đvt: Triệu USD
Mặc dù xuất khẩu thủy sản sang EU 5 tháng đầu năm sụt giảm so với cùng
kỳ, nhưng xét trong 5 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu sang thị trườngnày đã tăng trở lại trong tháng 5 Ngoài ra, 2 mặt hàng chủ lực là tôm và cá tra,ngoại trừ giá trị xuất khẩu cá tra giảm, tôm vẫn tăng
Dầu thô: Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản:
1,79 triệu tấn, tăng 122,8%
Trang 10Một số nhóm hàng nhập khẩu chính
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng
này chủ yếu từ Nhật Bản: 1,97 tỷ USD, tăng 28,5%
Nguyên vật liệu cho ngành dệt may da giày: nhập khẩu từ Nhật Bản: 463
triệu USD, tăng 20%; … so với cùng kỳ năm 2011
Trang 11Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: từ Nhật Bản: 890 triệu
Trang 12Sắt thép các loại: 1,17 triệu tấn, tăng 5,6%.
Lượng nhập khẩu sắt thép từ 3 thị trường chính Trung Quốc, Nhật Bản và
Nga 7 tháng giai đoạn 2008-2011.
Trang 13III Nhận xét về tình hình thương mại của Việt Nam-Nhật Bản.
1.Kết quả và thuận lợi:
Trong những năm qua tình hình thương mại của 2 nước khá phát triển,Việt Nam và Nhật Bản có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển quan hệ thươngmại và đầu tư Từ đó thúc đẩy sự phát triển trên những lĩnh vực khác như chính trị,văn hóa…
Với nền chính trị ổn định, thị trường tiềm năng và lợi thế về nguồn laođộng, Việt Nam là một trong những điểm đến hàng đầu của các doanh nghiệp NhậtBản những năm qua Bên cạnh đó ngày càng có nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đầu tưvào Việt Nam Triển vọng trong tương lai Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trêncác lĩnh vực: điện tử, phần mềm, tài chính - ngân hàng, truyền thông, chế tạo, sảnxuất linh kiện - phụ tùng, khai khoáng, xây dựng, vận tải, nông nghiệp, khí đốt,dược phẩm…6 tháng đầu năm 2012, kim ngạch thương mại 2 chiều Việt Nam -Nhật Bản đạt gần 12 tỷ USD
Việt Nam - Nhật Bản đặt mục tiêu kim ngạch thương mại đạt 30 tỷ USDvào năm 2015
2 Khó khăn và thách thức:
Quan hệ thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam thời gian qua đã gặt háiđược nhiều thành công to lớn,góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của cả 2 nước.Tuy nhiên trong quá trình giao lưu thương mại cũng xuất hiện những vấn đề kháphức tạp:
Quy mô buôn bán còn quá nhỏ giữa 2 nước: kim ngạch buôn bán giữa ViệtNam-Nhật Bản trong tổng kim ngạch ngoại thương của Nhật Bản là khôngđáng kể Có nghĩa là quan hệ song phương của 2 nước phụ thuộc nhiều vào
Trang 14Nhật Bản Nếu như có sự thay đổi trong chính sách của Nhật Bản sẽ tácđộng lớn đến Việt Nam.
Cơ cấu hàng hóa trao đổi còn nhiều bất cập: Việt Nam xuất sang Nhật Bảnchủ yếu là những hàng công nghiệp nhẹ,khoáng sản,hải sản,hàng thủ côngnhưng nhập lại những mặt hàng công nghiệp nặng từ Nhật Bản Rất có thểViệt Nam sẽ còn phải nhập khẩu nhiều mặt hàng,thiết bị…trong ngành côngnghiệp nặng của Nhật Bản còn chúng ta lại không có những mặt hàng sửdụng tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu sang Nhật Bản và cán cân thươngmại thiên về Nhật Bản
Các doanh nghiệp Nhật Bản rất coi trọng chữ “tín” trong quan hệ với bạnhàng và thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong hợp đồng khi đã ký hợpđồng, doanh nghiệp chưa thật sự hiểu biết thấu đáo về văn hóa, tập quánkinh doanh của Nhật Bản;từ đó gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Namtrong việc tiếp cận thị trường Nhật Bản
Nhật Bản rất khắt khe về tiêu chẩn và chất lượng của hàng hóa Cụ thể, córào cản kỹ thuật đối với hàng nông sản, thủy sản Nhật Bản kiểm tra chấtlượng an toàn thực phẩm 100%
Trang 15IV Giải pháp cho quan hệ thương mại Việt Nam Nhật Bản.
Hiện Nhật Bản là nước viện trợ lớn nhất cho Việt Nam, đồng thời là nướcđầu tư lớn thứ 3 vào Việt Nam với tổng số vốn đầu tư theo cam kết lên tới 4,48 tỉUSD, trong đó 3,95 tỉ USD đã được giải ngân
Quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam và Nhật Bản là một trongnhững mối quan hệ lớn, ổn định, lâu dài trong hoạt động kinh doanhđối ngoại của nước ta Hơn nữa nước ta nằm trong khu vực châu Á và
là thành viên của khối các nước ASEAN nên chúng ta cùng chịu tácđộng chiến lược kinh tế tài chính của Nhật Bản đối với khu vực châu
Á và của khối ASEAN đối với Nhật Bản
Tăng cường hợp tác kinh tế với Nhật Bản nhằm tranh thủ các lợi íchkinh tế có được, phục vụ cho sự nghiệp kinh tế- xã hội, nhưng đồngthời để giảm tối thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào Nhật Bản cũng như tácđộng xấu đến chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong thời giantới, chúng ta cần xây dựng những chiến lược cụ thể trong quan hệkinh tế và quan hệ đối ngoại với Nhật Bản trên quan điểm: Đánh giáđúng chiến lược kinh tế các nước trong khu vực, các tổ chức quốc tế,thấy rõ những điểm bất đồng giữa ta và họ, củng cố tăng cường cácđiểm chung, không bỏ lỡ thời cơ hợp tác để tránh những bất đồng vềlợi ích giữa các bên
Cải tiến hệ thống chính sách thuế khóa và thuế quan phù hợp với tự
do hóa thương mại thế giới:
o Nhanh chóng thực hiện các chương trình về thuế quan trongchương trình của khối ASEAN để có thể sớm hòa nhập vào thị
Trang 16trường khu vực và có thể tham gia và có thể tham gia vào quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Điều này sẽ tạo cho chúng ta cơhội tham gia vào quá trình hoạt động thương mại với Nhật Bản.Thông qua việc cung cấp các nguyên- nhiên liệu đầu vào chomạng lưới các công ty Nhật Bản, đã và đang được hình thànhtrên khu vực châu Á sẽ tăng thêm về mặt số lượng và hiệu quảkinh tế đối với hàng hóa của ta.
o Song song với chương trình cắt giảm thuế quan , chúng ta cũngnên mạnh dạn áp dụng các mức thuế ưu đãi đối vơi thu nhậpcủa các doanh nghiệp trong nước tạo điều kiện cho doanhnghiệp thu nhập cao hơn Để tăng nhanh khối lượng hàng hóaqua chế biến, cách tốt nhất là chính phủ nên đưa ra các chínhsách tích cực, khuyến khích sự tham gia của các hãng Nhật Bảntrong quá trình sản xuất, chế biến hàng háo xuất khẩu của ViệtNam Đây chính là chìa khóa để Việt Nam nâng cao chất lượng
và thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản vàthị trường các nước khác
Ngoài ra, Việt Nam cũng phải có những biện pháp hiệu quả trong việcchuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu hợp lý để quan hệ thương mạiViệt Nam- Nhật Bản phát triển thực sự với tiềm năng và nhu cầu củahai nước Nhất là về phía Việt Nam, chúng ta phải không ngừng đổimới, hoàn thiện hệ thống hoạt động ngoại thương, không chỉ dừng lạitrong việc nâng cao chất lượng của cơ sở hạ tầng mà ở ngay cả cácchính sách thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, đội ngũ cán bộ côngnhân viên… Hiện tại, để giảm bớt sự trả giá, ngay từ bây giờ cơ cấuxuất khẩu của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng là: làm giảm và tiếntới loại bỏ các nguyên, nhiên liệu thô, gia tăng tỷ trọng xuất khẩu của
Trang 17những mặt hàng đã qua chế biến Cơ cấu nhập khẩu cũng phải chuyểndịch theo hướng ưu tiên nhập khẩu những máy móc công nghệ đápứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nước Có nghĩa làcác công nghệ hiện đại sẽ chiếm tỷ trọng cao trong giá trị nhập khẩucủa Việt Nam, bởi vì Nhật Bản là một nước có tiềm lực khoa họccông nghệ rất phát triển so với các quốc gia khác trên thế giới Cácmặt hàng tiêu dùng, nếu không phải là thiết yếu thì sẽ không nhậpkhẩu hoặc chỉ nhập khẩu với tỷ trọng không đáng kể, ưu tiên dànhmọi nguồn lực cho nhập khẩu máy móc, công nghệ phục vụ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tình trạng yếu kém trong khả năng tài chính của các công ty ViệtNam, nhất là các công ty nhà nước, khiến hoạt động xuất nhập khẩugiữa Việt Nam – Nhật Bản giảm sút Do vậy, chính phủ cũng cần cónhững chính sách và biện pháp tích cực để giải quyết triệt để nhữngkhoản nợ mà các công ty Việt Nam đang mắc phải( chủ yếu là nợ khóđòi) Cho phép các công ty mua lại dưới hình thức trả chậm Chínhphủ Việt Nam cũng cần phải có những biện pháp củng cố, sắp xếp,điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanhnghiệp nhà nước kể cả những doanh nghiệp đã cổ phần hóa Có thểcho giải thể những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong cáclĩnh vực ít phục vụ cho nền kinh tế quốc dân Đẩy nhanh hơn tiếntrình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hơn nữa vaitrò của thị trường chứng khoán trong đời sống kinh tế quốc gia, đồngthời khuyến khích phát triển đa dạng hóa kinh tế tư bản tư nhân rộngrãi trong ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm,
Trang 18đa dạng hóa cả những thành phần kinh tế ngoài 6 thành phần kinh tếchính.
Mặt khác, chính phủ cũng cần có biện pháp nghiên cứu tìm hiểu sâusắc hơn về cách thức làm ăn của người Nhật, để điều chỉnh lại chínhsách của mình cho phù hợp hơn để tăng cường hiểu biết hơn nữa vềthị trường đối tác của mình Hiện nay, Việt Nam đã thành lập cáctrung tâm tư vấn chuyên về Nhật Bản thuộc Bộ thương mại nhằmgiảm bớt những thua thiệt không đáng có của các công ty Việt Namkhi kí hợp đồng gia công, liên doanh… với các công ty Nhật Bản
Một vấn đề không kém phần quan trọng đối với hoạt động thương mại
đó là chúng ta phải tích cực đẩy mạnh việc tìm kiếm, mở rộng thịtrường ra các nước trước hết với các nước trong khu vực ASEAN vàthu hút nhiều quốc gia hợp tác để tránh tình trạng phụ thuộc vào cáccông ty Nhật Bản trong việc cung cấp sản phẩm đầu tư cũng như tiêuthụ các sản phẩm đầu ra Mục đích của việc này, một mặt là để hạnchế và chia nhỏ những rủi ro cho các nhà xuất khẩu Việt Nam khi cácthị trường truyền thống bị biến động Mặt khác nâng cao tính cạnhtranh, vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tránh bị
ép giá do mất đầu ra
Ngoài ra, cũng cần có các biện pháp triển khai từ cả hai phía ViệtNam và Nhật Bản Đó là hai nước cần có trao đổi, bàn bạc cụ thểtrong khuôn khổ song phương để đi đến kí kết hiệp định thương mạigiữa hai nước, trong đó Nhật Bản dành cho Việt Nam quy chế tối huệquốc( MFN) đầy đủ Hiệp định này nếu được kí kết sẽ tạo ra hành
Trang 19lang pháp lý cho quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển hơnnữa.
o Sớm thành lập cục xúc tiến thương mại để làm cầu nối giữa bộThương mại, thương vụ tại các nước với doanh nghiệp ViệtNam và nước ngoài trong việc trao đổi, thu thập thông tin về thịtrường cũng như thông tin về hàng hóa nước ngoài
o Trong tiến trình cải thiện môi trường đầu tư và đẩy mạnh thuhút vốn đầu tư nước ngoài, phía nhà nước Việt Nam cần hết sứcquan tâm tới vốn đầu tư nước ngoài, phía nhà nước Việt Namcần hết sức quan tâm tới vốn đầu tư của Nhật Bản vì các nhàđầu tư Nhật khi chuyển sang sản xuất tại Việt Nam sẽ xuất khẩutrở lại Nhât Bản một phần, hoặc có thể toàn bộ sản phẩm củanhà máy họ, góp phân fnaang cao kim ngạch hàng hóa sản xuấttại Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản Đặc biệt các nhàđầu tư Nhật Bản cũng rất quan tâm đến sự kiện Việt Nam kíhiệp định thương mại song song với Mỹ ngày 13/7/2000 và sựkiện Việt Nam đăng cai tổ chức Seagames lần thứ của ĐôngNam Á Đây là cơ hội cho các cơ sở đầu tư của họ tại Việt Nam
có thể xuất khẩu hàng hóa sang cả thị trường Mỹ và các nướckhác giúp cho việc tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nóichung và tạo ra một cơ hội cho việc tiếp thị quảng cáo giớithiệu sản phẩm mới
Giải quyết khó khăn cho các nhà đầu tư Nhật Bản:
o Bộ đã tiến hành khảo sát và theo dõi 500 doanh nghiệp Nhật Bản vềthực tiễn hoạt động cũng như các vướng mắc khó khăn gặp phải khilàm ăn tại Việt Nam Trong đó, các khía cạnh như việc thực thi các