Cải tiến quy trình kỹ thuật rửa dạ dày cho bệnh nhân ngộ độc cấp Ngô Đức Ngọc 1, Nguyễn Thị Dụ1,2 Phạm Duệ 1 1 Khoa Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai 2 Bộ môn Hồi sức cấp cứu - Đại học Y
Trang 1Cải tiến quy trình kỹ thuật rửa dạ dày cho
bệnh nhân ngộ độc cấp
Ngô Đức Ngọc 1, Nguyễn Thị Dụ1,2
Phạm Duệ 1
1 Khoa Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai
2 Bộ môn Hồi sức cấp cứu - Đại học Y Hà Nội
73 bệnh nhân được tiến hành rửa dạ dày theo qui trình kỹ thuật cải tiến với bộ rửa kín Các bệnh nhân đều được theo dõi dấu hiệu lâm sàng (mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2, rên ẩm ) và cận lâm sàng (công thức máu, điện giải đồ, điện tim, chụp phim Xq phổi, độc chất dịch dạ dày) trước và sau rửa dạ dày So sánh với kết quả thống kê năm 1998-2000 chúng tôi đã giảm biến chứng từ 6,21% xuống 2,74% Không có các biến chứng nặng, chỉ có hai trường hợp giảm kali máu Từ kết quả này cho thấy: Qui trình kỹ thuật rửa dạ dày cải tiến với bộ rửa kín an toàn, giảm được đáng kể các biến chứng, kỹ thuật
đơn giản, có thể phổ cập tuyến cơ sở
I Đặt vấn đề
Rửa dạ dày (RDD) là một biện pháp cơ học
nhằm loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể nhanh, đơn
giản, hiệu quả Tuy nhiên rửa dạ dày có thể gây ra
nhiều biến chứng nguy hiểm cho bệnh nhân thậm
chí tử vong như: sặc dịch dạ dày vào phổi gây phù
phổi cấp, ARDS, viêm phổi, hòa loãng máu gây
phù não, rối loạn điện giải, tan máu, ngộ độc
nước,
Theo Nguyễn Thị Dụ và Giang Thục Anh
[1], tỉ lệ biến chứng của RDD còn khá cao
Trong năm 1999 và đầu năm 2000 có 332 ca rửa
dạ dày, xảy ra 20 trường hợp biến chứng
(6,21%) Hiện nay, rửa dạ dày chưa thống nhất
ở các tuyến cơ sở, dụng cụ rất đa dạng, số lượng
dịch rửa lớn dễ gây tai biến Thực tế đặt ra vấn
đề cần thiết là cải tiến qui trình, thống nhất
dụng cụ nhằm hạn chế tối đa các biến chứng có
thể xảy ra, đảm bảo an toàn tối đa cho bệnh
nhân rửa dạ dày Vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này nhằm mục đích: xây dựng và
đánh giá tính an toàn của quy trình kỹ thuật rửa
dạ dày cải tiến với bộ rửa dạ dày kín trong điều
trị bệnh nhân ngộ độc cấp đường uống
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Các loại ngộ độc thuốc và hoá chất đường uống
Đến sớm trước 4 giờ
2 Loại trừ ra khỏi nghiên cứu
Ngộ độc các chất ăn mòn, xăng dầu
Bệnh nhân có những bất thường về họng miệng Bệnh nhân có biến dạng lồng ngực hoặc có bệnh phổi trước đó
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Chuẩn bị dụng cụ
Bộ rửa dạ dày kín Dịch rửa dạ dày Các dụng cụ khác
3.2 Nhân viên
Cần 1 người tiến hành
3.3 Bệnh nhân:
Đánh giá ý thức bệnh nhân Tư thế bệnh nhân: nghiêng trái, đầu thấp 15
độ
Trang 23.4 Cách thức tiến hành:
Đặt canun guedel, đặt ống thông dạ dày Số
lượng dịch vào mỗi lần: 250 ml lưu lại trong 1 phút
Xoa bụng vùng thượng vị xuôi và ngược chiều kim
đồng hồ, xác định lượng dịch ra Nếu lượng dịch ra
không quá 200 ml (80%), kiểm tra và điều chỉnh lại
vị trí ống thông Tổng lượng dịch đưa vào là 5 lít
đối với ngộ độc cấp thuốc ngủ và 10 lít đối với ngộ
độc cấp thuốc trừ sâu
3.5 Lấy xét nghiệm và đánh giá
Công thức máu, Điện giải đồ trước và sau
khi RDD 60 phút
Đánh giá các dấu hiệu lâm sàng: mạch, nhiệt
độ, huyết áp, nhịp thở, độ bão hoà oxi máu đầu
ngón tay (SpO2)
Chụp phim XQ, làm điện tâm đồ (ĐTĐ) trước và sau
RDD Độc chất dạ dày 3 lần, sau khi đặt ống
thông, sau rửa 3 lít và sau rửa lần cuối
III Kết quả
1 Tình hình chung
Từ tháng 3/2000 đến tháng 4/2001, tại khoa Chống độc bệnh viện Bạch Mai, 73 bệnh nhân, gồm 27 nam và 46 nữ đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu Các bệnh nhân có tuổi từ 10 đến 58 (trung bình 27,74 ± 1,23) trong đó có 66 bệnh nhân dưới
45 tuổi và 7 bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên Không nghề: 27,4% nghề nghiệp không ổn định: 32,9%
Thời gian nằm viện trung bình là: 23,24 ± 3,8 giờ Nhỏ nhất: 1 giờ Lớn nhất: 168 giờ
2 Nguyên nhân
Tự tử Uống nhầm Không rõ
3 Các thay đổi lâm sàng và xét nghiệm trước và sau rửa dạ dày
3.1 Các dấu hiệu lâm sàng trước khi rửa dạ dày và sau khi rửa dạ dày:
Mạch (lần/phút)
HATĐ
(mmHg)
HATT (mmHg)
Nhịp thở (lần/phút) SpO2 (%) Glasgow Trước rửa
dạ dày
82,21 ±
13,78
106,88 ± 22,07 65,83 ±14,41 16,89 ± 2,45
98,93 ± 2,53
13,93 ± 2,22 Sau rửa
dạ dày
81,38 ±
13,05
103,22 ± 24,05 63,42 ±14,61 17,17 ± 1,75
99,014 ± 2,28
14,18 ± 2,15
3.2 Chỉ số hoá sinh máu và chỉ số huyết học trước và sau khi rửa dạ dày
Na (mmo/l)
K (mmol/l)
Cl (mmol/l)
Hc (Têra/l)
Hb (gam/l)
Ht (lit/lit) Trước
RDD
140,34 ±
4,43
3,71
±0,52
104,38 ± 3,33 4,39 ±0,84
126,93 ± 26,47 0,377
Sau RDD 139,93 ±
4,89
3,64
±0,43
103,31 ± 3,49 4,27 ±0,83
124,97 ± 26,50 0,372
Trang 34 Dịch rửa dạ dày vào-ra:
Tổng lượng dịch rửa dạ dày ra trung bình =
94,5% tổng lượng dịch vào trung bình
5 Biến chứng:
Có 2 trường hợp biến chứng giảm kali máu
Từ 4,4 xuống 3,0 và từ 5,1 xuống 3,4 Nhưng
không trường hợp nào có rối loạn về natri máu
Như vậy xét chung thì tỉ lệ biến chứng rối loạn
điện giải là 2,74%
32 bệnh nhân được chụp XQ phổi trước và
sau rửa đều không thấy có hiện tượng sặc phổi
xảy ra 41 bệnh nhân chỉ chụp XQ sau rửa dạ
dày cũng không thấy có hiện tượng sặc phổi xảy
ra
6 Đánh giá sự thay đổi nồng độ độc
chất trong dịch dạ dày
Định lượng
sơ bộ
Trước RDD
Sau rửa 3 lít
Sau rửa 5 lít
IV Nhận xét và bàn luận
Đa số bệnh nhân ngộ độc được rửa dạ dày là
do tự tử (86,3%), vì mâu thuẫn gia đình, thất
tình Tỉ lệ nữ trong số bệnh nhân chiếm khá
cao (63%) Độ tuổi của các bệnh nhân trong
nghiên cứu cũng rất trẻ, trung bình 27,74 ± 1,23
trong đó 84% trong độ tuổi từ 15 đến 34 Bệnh
nhân không có nghề nghiệp chiếm tỉ lệ khá lớn
(27,4%) Như vậy có thể nói những yếu tố nguy
cơ hay gặp trong ngộ độc do tự tử là tuổi trẻ,
phái nữ và không có nghề nghiệp ở nhóm bệnh
nhân này thường không có những bệnh mạn
tính Đa số có tiền sử khoẻ mạnh Thời gian
nằm viện trung bình của 73 bệnh nhân là 23,24
± 3,80 giờ Tức là trong vòng một ngày Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có bệnh nhân nào tử vong, chỉ có 3 trong số 73 bệnh nhân trên phải đặt nội khí quản, thông khí nhân tạo và đều ra viện an toàn Bệnh cảnh của ngộ
độc thường ít có trường hợp nặng và đáp ứng tốt với điều trị
Việc đưa lượng dịch mỗi lần rửa chính xác là
250 ml làm dạ dày bệnh nhân đỡ căng Tư thế nằm là yếu tố quan trọng để tránh sặc phổi Với
bộ rửa dạ dày cải tiến, ta dễ dàng xác định được lượng dịch vào và ra Đường dịch ra đường dịch vào cố định rất thuận tiện cho người thực hành Qua theo dõi lâm sàng 73 trường hợp bằng các chỉ số mạch, huyết áp, nhịp thở, độ bão hoà oxi đầu ngón tay (SpO2) hầu như không thay đổi trước và sau rửa dạ dày Sự thay đổi về mạch và huyết áp trước và sau khi rửa dạ dày không có ý nghĩa thống kê (với p >0,05) Như vậy rửa dạ dày theo phương pháp cải tiến không ảnh hưởng tới huyết động
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả bệnh nhân đều không xảy ra hiện tượng sặc phổi Biểu hiện bằng không có rên ẩm ở phổi, không suy hô hấp (trừ những bệnh nhân đặt nội khí quản từ đầu
do uống thuốc ngủ), chỉ số SpO2 không giảm Nhịp thở có tăng hơn sau khi rửa dạ dày nhưng vẫn nằm trong giới hạn bình thường, không phải là biểu hiện của suy hô hấp Rõ nhất là trên phim chụp XQ phổi không thấy trường hợp nào xảy ra sặc phổi
Phương pháp rửa dạ dày cải tiến qui định chặt chẽ tư thế bệnh nhân nằm nghiêng trái, đầu thấp là tư thế an toàn vừa để tránh dịch chảy ngược từ hầu họng vào khí phế quản vừa để dẫn lưu dịch dạ dày
ra dễ dàng hơn Hơn nữa việc kiểm soát dịch ra và dịch vào tốt cũng là yếu tố quan trọng để tránh gây quá căng dạ dày là một nguyên nhân gây nôn mửa, trào ngược, sặc phổi
Trang 4Sau rửa dạ dày máu có xu hướng pha loãng
hơn, các chỉ số natri, kali và clo có giảm nhưng
giảm rất ít, các chỉ số trước và sau rửa vẫn nằm
trong giới hạn bình thường Mức độ giảm này là
không có ý nghĩa thống kê (p đều lớn hơn 0,05)
chứng tỏ sự giảm các chất điện giải trong máu
là không đáng kể ĐTĐ không hề thay đổi trước
và sau khi rửa là biện pháp thăm dò sớm minh
chứng không có hiện tượng giảm kali máu Điều
này rất phù hợp với các đánh giá và theo dõi
trên lâm sàng
Việc hạn chế lượng dịch rửa đã làm giảm
đáng kể biến chứng rối loạn nước điện giải cho
bệnh nhân so với thời điểm vẫn thực hiện theo
phương pháp cũ Tuy lượng dịch rửa ít đi nhưng
không có nghĩa là không rửa được sạch dạ dày
Chúng tôi thấy điều quan trọng là phải xoa bụng
bệnh nhân kỹ và dẫn lưu dịch dạ dày cho tốt,
với đa số các độc chất hoà tan trong nước, rửa
dạ dày từ 3 đến 5 lít dịch rửa là đủ sạch
Bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng, chúng
tôi có được khái niệm sơ bộ về nồng độ độc
chất trong dịch dạ dày Nồng độ độc chất trong
dịch dạ dày ở những bệnh nhân nghiên cứu đã
giảm đi rõ rệt Trong 32 bệnh nhân được định
lượng độc chất trong dịch dạ dày tại 3 thời
điểm, lúc đầu có 15 bệnh nhân dương tính 3 (+)
5 bệnh nhân dương tính 2 (+) và 2 bệnh nhân
dương tính 1 (+) Sau rửa 3 lít dịch đã có 9 bệnh
nhân dương tính một (+) và sau khi rửa 5 lít 10
bệnh nhân không thấy độc chất trong dịch rửa
dạ dày 10 bệnh nhân dương tính 1 (+) và chỉ
còn 2 bệnh nhân là dương tính 2 (+) Rửa từ 3
đến 5 lít nước là dạ dày đã khá sạch
Với qui trình cũ, lượng dịch ra không bao
giờ được kiểm soát do vậy không thể biết đích
xác là bao nhiêu Phương pháp mới cho phép
xác định chính xác số lượng dịch ra qua từng
chu kỳ rửa dạ dày Đây cũng là một đặc điểm
cải tiến nổi bật Khi kiểm soát được dịch ra sẽ
tránh được hiện tượng ứ trệ bên trong dạ dày,
tránh được hiện tượng quá căng dễ gây trào ngược, sặc phổi Hơn nữa kiểm soát tốt lượng
dịch ra cũng đồng nghĩa với việc dẫn lưu nội dung dạ dày ra được tốt hơn và biện pháp rửa dạ dày có hiệu quả hơn
V Kết luận Qui trình kỹ thuật rửa dạ dày cải tiến trên với bộ rửa dạ dày mới tỏ ra rất an toàn trên thực tế, hiệu quả, thuận tiện cho người thực hành trên lâm sàng, dụng cụ
sử dụng đơn giản, gọn nhẹ, ít tốn kém Do vậy nên
được phổ biến rộng rãi cho các tuyến cơ sở
Số lượng dịch rửa tổng cộng chỉ nên dùng 3 đến 5 lít đối với thuốc ngủ, 10 lít đối với thuốc trừ sâu (phospho hữu cơ) Mỗi lần đưa dịch vào dạ dày không quá 250 ml
Tài liệu tham khảo
1 Giang Thục Anh (2000), Biến chứng của rửa dạ dày trong ngộ độc cấp: Nguyên nhân và biện pháp đề phòng, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ
Y khoa trường Đại học Y Hà Nội
2 Linden H C (1998), General considerations in the Evaluation and Treatment
of Poisoning Intensive care medicine Fourth Edition Volume II, pp 1478-1485
3 Matthew J E; Donald G B (1988), Gut decontamination, Medical toxicology diagnosis and treatment of human poisoning, chapter3, 53-63
4 Robert H Dreisbach (1983) Emergency Management of Poisoning, Chapter 2 Handbook of poisoning, Eleventh Edition, pp 34-35
5 Smilkstein J M (1999), Techniques Used
to Prevent Gastrointestinal Absorption of Toxic Compounds, Toxicology Emergencies Chapter
4 Sixth Edition, pp36-45
Trang 5Abstract
Improved gastric lavage with close system
Method: 73 patients were performed gastric lavage by an improved technique with new
equipment All of the patients were monitored clinical signs (pulse rate, blood pressure, respiratory rate, SpO2, lung sound ) and laboratory investigated (blood count, electrolyte, ECG, chest X-ray, toxic screening ) before and after doing gastric lavage The results were compared to a retrospective study in 1998-2000 we found complications are reduced significally from 6.21% to 2.74% In addition, there was not any severity complication; we only met two cases hypokalemia
after doing gastric lavage Conclusion: The improved technique with new equipment of gastric
lavage would be safe for the patients, reduce significally complication, and simply apply