1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở những bệnh nhân bị bệnh dạ dày - ruột doc

8 664 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 201,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm rõ rối loạn trầm cảm trong chuyên khoa tiêu hoá dạ dày-ruột, nghiên cứu nhằm mục tiêu: + Phát hiện các triệu chứng lâm sàng của rối loạn trầm cảm ở những người bị bệnh dạ dày-ruột

Trang 1

Nhận xét đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở

những bệnh nhân bị bệnh dạ dày - ruột

Trần Hữu Bình

Bộ môn Tâm thần Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu 90 bệnh nhân có bệnh lý dạ dày- ruột: 37 nam, 53 nữ, tuổi từ 20-60 Trong đó, 45 bệnh nhân có tổn thương thực thể dạ dày- ruột và 45 bệnh nhân rối loạn chức năng không có tổn thương thực thể Bệnh gặp nhiều ở lứa tuổi đang còn sức lao động nhiều cho xã hội Bệnh tiến triển liên tục khuynh hướng trở nên mạn tính Nhóm bệnh nhân rối loạn chức năng có biểu hiện trầm cảm nhẹ phối hợp với lo

âu, ám ảnh, nghi bệnh, loạn cảm giác bản thể Nhóm bệnh nhân có tổn thương thực thể chủ yếu là trầm cảm vừa và nặng Trong căn nguyên của bệnh yếu tố tâm lý và cơ thể được biểu lộ là vai trò cơ bản và tiến triển tiếp theo hình thành chu kỳ phản ứng tâm- thể trên bệnh nhân có nhân cách loại này hay loại khác

I Đặt vấn đề

Từ những năm 80 trở lại đây, trầm cảm đã

trở thành vấn đề trung tâm nghiên cứu của

các nhà tâm thần học Sự lan rộng của trầm

cảm đã vượt ra ngoài ranh giới của lĩnh vực

tâm thần học, xâm nhập vào nhiều lĩnh vực

bệnh học lâm sàng khác nhau, đã chứng tỏ

tính đa dạng của nó Theo P Kielholz có tới

15- 20% bệnh nhân trầm cảm gặp trong các

bệnh viện thực hành đa khoa Nghiên cứu các

hình thái biểu hiện của trầm cảm trong những

bệnh cơ thể, Loper Ibor, 1989, Gay.C, 1995

[1],[2] nhận thấy 50% trầm cảm kết hợp với

đau Theo Marilov V.V, Korkina.M.V, 1995 [5]

30-50% bệnh nhân bị bệnh cơ thể có rối loạn

trầm cảm ở mức độ này hay mức độ khác

Rối loạn trầm cảm (RLTC) thường gặp

trong nội khoa, biểu hiện dưới hai hình thái:

Thứ nhất, đó là RLTC rõ xuất hiện sau một

bệnh lý cơ thể có tổn thương thực thể gọi là

trầm cảm triệu chứng Loại này chiếm tỉ lệ

20-30% các RLTC trong nội khoa nói chung [4]

Thứ hai, là RLTC mờ nhạt, biểu hiện bằng các

triệu chứng cơ thể nhiều loại che phủ vẻ bề

ngoài mang tính chất trá hình gọi là trầm cảm

không điển hình Loại này gặp từ 50-70% các

RLTC trong lâm sàng nội khoa, đặc biệt là

trong chuyên khoa tiêu hoá [5],[7] Có một số

bệnh nhân đau vùng thượng vị kéo dài, đã

điều trị nội khoa nhiều năm không có kết quả,

thậm chí kể cả có sự can thiệp ngoại khoa cắt 2/3 dạ dày Nhưng sau khi được các thầy thuốc tâm thần phát hiện và điều trị các trường hợp đó như là RLTC thì thấy có kết quả Điều này gợi ý cho chúng tôi tìm hiểu, nhận xét sơ bộ về đặc điểm hình thành và tiến triển của RLTC ở những bệnh nhân dạ dày-ruột Để làm rõ rối loạn trầm cảm trong chuyên khoa tiêu hoá dạ dày-ruột, nghiên cứu nhằm mục tiêu:

+ Phát hiện các triệu chứng lâm sàng của rối loạn trầm cảm ở những người bị bệnh dạ dày-ruột thực thể và chức năng

+ Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở những người bị bệnh dạ dày-ruột thực thể và chức năng

II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu 90 bệnh nhân (b/n) bị bệnh dạ dày-ruột từ phòng khám đa khoa và khoa tiêu hoá bệnh viện Bạch Mai năm 2001-2002 (bảng 1) Những bệnh nhân này được các bác

sĩ chuyên khoa Tiêu hoá tiến hành soi dạ dày-tá tràng và đại tràng tại phòng nội soi chuyên khoa tiêu hoá Bệnh viện Bạch Mai Trong đó

45 b/n được xác định có tổn thương thực thể viêm loét dạ dày- đại tràng và 45 b/n không có tổn thương thực thể, chỉ rối loạn chức năng

Trang 2

- Bệnh nhân 2 nhóm thực thể và chức

năng thoả mãn các tiêu chuẩn chẩn đoán rối

loạn trầm cảm dựa theo bảng phân loại bệnh

quốc tế 10, 1992 phần các rối loạn trầm cảm

và các mức độ RLTC (F30.0-F30.8)

- Loại ra khỏi nghiên cứu những bệnh

nhân không đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn

đoán bệnh lý dạ dày-ruột thực thể và chức

năng do bác sĩ chuyên khoa tiêu hoá xác

định; và không thoả mãn các tiêu chuẩn chẩn

đoán một giai đoạn trầm cảm, và mức độ rối

loạn trầm cảm do bác sĩ chuyên khoa tâm

thần xác định

2 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả,

tiến cứu có theo dõi dọc

+ Về lâm sàng: Tiếp cận khảo sát trên tất

cả các bệnh nhân có bệnh lý dạ dày-ruột thực

thể và chức năng đã được các bác sĩ chuyên khoa tiêu hoá xác định chẩn đoán Sử dụng phiếu những câu hỏi lâm sàng để phát hiện các biểu hiện của rối loạn trầm cảm từ bệnh nhân và người thân (vợ, chồng, cha, mẹ, anh em,…) của bệnh nhân

+ Về nghiên cứu trắc nghiệm tâm lý: Sử dụng thang đánh giá trầm cảm của BECK, một công cụ hỗ trợ cho lâm sàng trong việc phát hiện và đánh giá mức độ rối loạn trầm cảm

- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê

toán học dùng trong y học

III Kết quả

1 Các nhân tố ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm trên bệnh nhân dạ dày-ruột

Bảng 1: Tỉ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ ở hai nhóm

Nhóm bệnh

Giới

Dạ dày Đại tràng TS

%

Dạ dày Đại tràng TS

%

P

21,1%

12 6 18

20%

28,8%

17 10 27

30%

>0,05

21 24 45 29 16 45 Tổng số

<0,01

1.1 Nhận xét về giới

Kết quả nghiên cứu từ bảng 1 cho thấy tỉ lệ

mắc bệnh ở nữ nhiều hơn nam trên cả hai

nhóm, phù hợp với nghiên cứu của Harrison

và Naveau.S, 1992 [3], tỉ lệ bị bệnh nữ/ nam

là 2/1 Tài liệu của chúng tôi còn cho thấy sự

khác nhau về cơ cấu bệnh trong mỗi nhóm

Trong nhóm chức năng (CN), bệnh đại tràng nhiều hơn dạ dày, trong khi đó ở nhóm thực thể (TT) bệnh viêm loét dạ dày nhiều hơn đại tràng RLTC trên hai nhóm bệnh nhân khác nhau có ý nghĩa thống kê với P<0,01

1.2 Nhận xét về tuổi

Bảng 2 Tuổi bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu

Trang 3

Sự phân bố tuổi bắt đầu bị bệnh phần lớn tập trung ở lứa tuổi còn trẻ Bệnh đã làm suy giảm

nhiều đến khả năng lao động chung của xã hội

1.3 Nhận xét về thời gian bị bệnh

Bảng 3 Thời gian bị bệnh của hai nhóm

Nhóm bệnh Thời gian bị bệnh

Thời gian bị bệnh tính từ lúc khởi phát bệnh đến thời điểm nghiên cứu, gặp nhiều từ 3-4 năm ở

cả hai nhóm Bệnh tiến triển liên tục khuynh hướng trở nên mạn tính, chứng tỏ đã có một thời

gian dài bệnh không được phát hiện

2 Nhận xét về sang chấn tâm lý và đặc điểm nhân cách

Bảng 4 Sang chấn tâm lý và đặc điểm nhân cách trên 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Dạng suy nhược Dạng phân ly Dạng động kinh

Đặc điểm tính cách

+ Vợ chồng bất hoà

+ Con hư

+ Kinh tế thấp

+ Đổ vỡ tình yêu

+ Công việc không hợp lý

+ Không có sang chấn

12

4

8

4

5

2

5

2

3

2

3

0

5

2

4

1

2

1

3

2

3

1

1

-

3

1

2

1

2

-

2

1

2

-

1

-

30 (33,3%)

12 (13,3%)

22 (24,4%)

9 (10%)

14 (15,5%)

3 (3,3%)

Tổng số

50 (55,5%) 25 (27,7%) 15 (16,6%)

90

Phần lớn các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở những người bị bệnh lý dạ dày-ruột

thực thể và chức năng đó là những stress cảm xúc kéo dài thuộc về gia đình (xung đột vợ chồng,

con cái hư hỏng, tình trạng kinh tế khó khăn triền miên, …), hoặc ngoài xã hội (mất việc làm,

công việc không hợp lý, …), chúng tác động lên những người có đặc điểm tính cách đặc biệt

khác nhau để hình thành các hình thái lâm sàng của bệnh lý trầm cảm

3 Nhận xét về lâm sàng RLTC trên 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trang 4

Bảng 5 Triệu chứng lâm sàng ghi nhận được trên 2 nhóm b/n nghiên cứu

CN TT Nhóm bệnh

Triệu chứng lâm sàng Dạ dày Đ.tràng Dạ dày Đ.tràng

TS

Giảm khí sắc

Tăng mệt mỏi

Chậm chạp vận động

Lo âu sợ hãi

Bồn chồn khó chịu

Rối loạn giấc ngủ

Ăn mất ngon

Nhìn tương lai bi quan

Kém tự tin vào bản thân

Sút cân

ý tưởng nghi bệnh

ý tưởng ám ảnh

Cảm giác đau bụng

Đau dạ dày

Chướng bụng

Đầy hơi

ợ hơi

ợ chua

Táo bón

Đi lỏng

- Táo lỏng luân phiên

21 24

14 16

19 22

15 20

12 18

21 24

19 22

2 6

3 4

5 6

16 19

12 13

24

21 -

18 20

16 19

18 20

15 5

6 2

16 18

5 7

29 16

28 15

25 15

23 12

21 13

29 16

22 14

19 13

10 12

20 13

- -

- -

- 16

29 -

9 5

10 7

19 6

20 5

2 8

27 8

5 14

90

73

81

70

64

90

77

40

29

44

35

25

40

50

52

52

63

45

16

69

31

Hình ảnh lâm sàng của 2 nhóm bệnh chức năng và thực thể ghi nhận được qua bảng 5 Phần lớn

các b/n đều có các triệu chứng rối loạn tâm thần và cơ thể Trong nhóm chức năng cường độ và mức độ của các triệu chứng trầm cảm mờ nhạt, còn các triệu chứng cơ thể như đau bụng, đau dạ dày, chướng bụng, đầy hơi, ợ hơi, rối loạn đại tiện gặp thường xuyên và có tính chất tái diễn nhiều lần trong năm

Điều dáng chú ý là những bệnh nhân nhóm chức năng ít gầy sút hơn so với nhóm thực thể

Bảng 6 Mức độ trầm cảm và hình thái của nó trên 2 nhóm b/n nghiên cứu

Nhóm b/n Mức độ & hình thái

CN TT

Trầm cảm - Nhẹ

- Vừa

39 (43,3%)

6 (6,6%)

3 (3,3%)

32 (35,5%)

Trang 5

nhóm bệnh nhân thực thể chủ yếu là trầm cảm

vừa và nặng hơn là mức độ nhẹ ở một số bệnh

nhân có biểu hiện sự phối hợp trầm cảm với lo

âu, ám ảnh, nghi bệnh, loạn cảm giác bản thể

IV bàn luận

1 Đặc điểm chung của bệnh nhân

nghiên cứu

Từ những bệnh nhân có bệnh lý dạ dày-

ruột thực thể và chức năng, mục tiêu của

công trình là phát hiện được các trạng thái rối

loạn trầm cảm: trầm cảm thực thể và trầm

cảm từ rối loạn tiêu hoá chức năng Đặc điểm

chung của bệnh nhân ở hai trạng thái trầm

cảm được chỉ ra trên các khía cạnh sau đây:

+ Đặc điểm phân bố tuổi bệnh nhân tại

thời điểm nghiên cứu

Tuổi bệnh nhân được phát hiện có rối loạn

trầm cảm tại thời điểm nghiên cứu rải trong

khoảng từ 20-70 tuổi ở cả hai nhóm Sự phân

bố tuổi ở hai nhóm tại thời điểm nghiên cứu

thường gặp nhiều nhất là lứa tuổi từ 31-40

chiếm tỉ lệ 48,8% ở nhóm chức năng, 53,3% ở

nhóm thực thể, phù hợp với nghiên cứu của

Korkina.MV,1995 [5] Nghiên cứu sự phân bố

các độ tuổi tại thời điểm nghiên cứu đã chỉ ra

rằng, bệnh nhân có bệnh lý dạ dày- ruột thường

nhập viện sớm ở lứa tuổi trẻ từ 20-40, đặc biệt là

nhóm chức năng Đây là độ tuổi có khả năng

cống hiến sức lao động nhiều nhất cho gia đình

và xã hội Tuy nhiên, rối loạn trầm cảm ở bệnh

nhân có bệnh lý dạ dày- ruột thực thể và chức

năng có thể gặp ở tất cả mọi lứa tuổi

+ Đặc điểm về thời gian bị bệnh

Thời gian bị bệnh được tính từ lúc khởi

phát bệnh đến thời điểm nghiên cứu gặp bác

sĩ chuyên khoa tâm thần Trong nghiên cứu

của chúng tôi, thời gian bị bệnh rải trong

khoảng 6 tháng đến 15 năm, phần lớn tập

trung trong khoảng từ 3-4 năm Nghiên cứu

đã chỉ ra, có một số lượng đáng kể rối loạn

trầm cảm trên bệnh nhân có bệnh lý dạ dày-

ruột thực thể và chức năng không được phát

hiện sớm Bệnh tiến triển có khuynh hướng trở

nên mạn tính Điều này cũng được lý giải bởi

trình độ nhận biết bệnh tật của bệnh nhân và

khả năng phát hiện các rối loạn trầm cảm

không điển hình còn hạn chế đối với các thầy

thuốc nội khoa chung

2 Đặc điểm lâm sàng chung

Đặc điểm lâm sàng của hai hình thái trầm cảm phản ảnh đặc điểm của cảm xúc trong rối loạn tiêu hoá thực thể và rối loạn tiêu hoá chức năng Đó cũng là đặc điểm về mối quan

hệ tương hỗ giữa tâm thần- nội tạng và vai trò mắt xích của thực thể trong sự hình thành tiếp theo của rối loạn trầm cảm Một số tác giả khẳng định sự liên quan chặt chẽ của cảm xúc trầm cảm với các rối loạn tiêu hoá thực thể và chức năng kéo dài [2],[5],[7] Người bệnh buồn chán, không vui, giảm cảm giác khoan khoái, giảm mọi hứng thú để làm các công việc hàng ngày Các triệu chứng tâm thần đã có sớm từ đầu ở người bệnh có bệnh

lý dạ dày- ruột thực thể và chức năng Điều này cho thấy quan hệ cảm xúc- nội tạng đã hình thành một phức chứng tâm thần- cơ thể

rõ ràng ngay từ đầu Có thể nói liên quan chặt chẽ đến các trạng thái cảm xúc trầm cảm là các rối loạn tiêu hoá dạ dày- ruột, trong đó nổi bật nhất các triệu chứng đau bụng là triệu chứng có tần suất cao nhất ở cả hai nhóm

Đau bụng với nhiều cảm giác đau khác nhau thường xuyên có, chiếm vị trí trung tâm trong bệnh cảnh lâm sàng Hoặc rối loạn cảm giác chức năng bụng đa dạng phong phú, rối loạn

đại tiện với các kiểu khác nhau (táo bón, đi lỏng, táo lỏng luân phiên) Như vậy, rối loạn cảm giác chức năng bụng cùng với các cảm giác đau bụng và các kiểu rối loạn đại tiện tái diễn là những triệu chứng đặc trưng nổi bật trong cơ cấu bệnh lý rối loạn tiêu hoá dạ dày- ruột thực thể và chức năng Các rối loạn này liên quan đến cảm xúc trầm cảm, và kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu của các tác giả (Tôplianski V.D, 1986, Waynekaton

MD, 1991)[4],[7]

+ Các triệu chứng trầm cảm kín đáo liên

quan đến tiêu hoá

Rối loạn trầm cảm mang những nét kín

đáo, mờ nhạt ở bệnh nhân rối loạn tiêu hoá dạ dày- ruột thực thể và chức năng Người bệnh giảm thích thú, khí sắc giảm nhẹ, hơi bị

ức chế với cảm giác bất ổn về thể lực, giảm hoạt động và nét mặt cử chỉ kém linh hoạt Họ trở nên thụ động khi trò chuyện, lo lắng và bị

động khi tiếp xúc, dần dần người bệnh cảm giác không sáng suốt, đầu óc tuồng như trở nên u ám, nặng nề, thu hẹp sự quan tâm với

Trang 6

chung quanh Người bệnh không nhận biết

được sự giảm khí sắc của mình, họ giải thích

đó là hơi khó chịu về thể chất, họ chỉ than

phiền là hơi bị ức chế hoặc không thể vui

mừng được như trước Trong tiền sử của bệnh

nhân nghiên cứu hầu hết ở họ có rối loạn trầm

cảm không được phát hiện, được biểu hiện

bằng các triệu chứng cơ thể- thực vật- nội

tạng, đã thu hút sự chú ý của người bệnh

đến khám các chuyên khoa khác nhau Do

vậy, điều quan trọng là phải phân tích tỉ mỉ

các triệu chứng kín đáo của trầm cảm mới có

thể làm sáng tỏ vai trò của cảm xúc trong các

trường hợp rối loạn tiêu hoá dạ dày- ruột thực

thể và chức năng Những kết quả nghiên cứu

của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu của

Avơruxki.G.IA, Topoliansli.VD, Loper Ibor

[2],[6],[7]

+ Phân loại mức độ trầm cảm và các hình

thái RLTC

Rối loạn trầm cảm ở hai nhóm có những

mức độ khác nhau ở nhóm thực thể rối loạn

trầm cảm mức độ vừa chiếm cao nhất, sau đó

là mức độ nặng ở nhóm chức năng rối loạn

trầm cảm chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa

Trong nhóm trầm cảm cơ thể các triệu chứng

cảm xúc bị ức chế thể hiện bằng các triệu

chứng cơ thể, thực vật nội tạng đa dạng,

phong phú, dai dẳng Dưới các triệu chứng đó

là rối loạn trầm cảm nhẹ, mờ nhạt, phát hiện

được nhờ các công cụ chuyên sâu cùng với kỹ

năng khám xét lâm sàng chuyên khoa Ngoài

ra, còn phát hiện được các hình thái rối loạn

trầm cảm khác nhau liên quan đến rối loạn

tiêu hoá dạ dày- ruột thực thể và chức năng:

trầm cảm- nghi bệnh, trầm cảm- lo âu, trầm

cảm- suy nhược, trầm cảm- ám ảnh, trầm

cảm- loạn cảm giác bản thể Các hình thái

trầm cảm được hình thành từ mối liên quan

của các cảm giác bệnh lý trong cấu trúc của

trầm cảm

trình ức chế nội Bệnh nhân phải ức chế lâu dài

sự bộc lộ những tình cảm của mình trong những

điều kiện sinh hoạt thuộc về đời sống gia đình

và cơ quan (bảng 4) Sự bất hoà với người thân kéo dài, kinh tế thấp, đời sống khó khăn triền miên, con hư, sự đổ vỡ trong tình yêu, thay đổi việc làm, công việc không hợp lý Trong tiền sử của bệnh nhân phần lớn những xung đột vụn vặt kéo dài lại khó chịu đựng hơn nhiều, đóng vai trò không kém phần quan trọng Trong nghiên cứu còn nhận thấy, bệnh dạ dày-ruột dễ phát triển ở những người có loại hình thần kinh không thăng bằng, biểu hiện những nét tính

cách yếu: tính cách dạng suy nhược (thường

xuyên cảm thấy mệt mỏi, dễ bị kích thích, kém thích ứng ngoại cảnh, hay lo lắng, ít quả quyết)

gặp 55,5%; tính cách dạng phân ly (dễ mủi

lòng, biểu lộ cảm xúc quá mức, tính ám thị cao, tính phô trương, khêu gợi sự chú ý của người

khác) gặp 27,7%; tính cách dạng động kinh

(tính không ổn định với những nét dễ xung

động, dễ nổi cơn giận dữ, thiếu tự chủ, chi li, cầu

kỳ hình thức) gặp 16,6% Như vậy, rõ ràng ở 2 nhóm bệnh nhân yếu tố khởi đầu và phát triển tiếp theo của bệnh chức năng và thực thể là căn nguyên tâm lý Sang chấn tâm lý và đặc điểm nhân cách tác động qua lại theo cơ chế tâm- sinh học và làm biến đổi sinh bệnh học cơ quan tiêu hoá mà chịu ảnh hưởng là dạ dày- ruột Các

sự kiện đời sống được coi là những tác nhân gây stress có tác dụng mạnh liên quan đến sự xuất hiện, duy trì và tái phát rối loạn trầm cảm Trầm cảm được coi là một phản ứng bắt rễ từ trong những mất mát của đời sống cá nhân, gia đình

và xã hội Những mối tương quan giữa các yếu

tố môi trường và trầm cảm được tìm hiểu qua các sự kiện đời sống của người bệnh Trầm cảm xuất hiện sau một tình trạng cảm xúc tiêu cực

đối với các sự kiện gây stress Có nhiều yếu tố gây stress của các sự kiện đời sống gây ra phản ứng cảm xúc lâu dài làm biến đổi khí sắc người bệnh một cách đáng kể Sự quá tải các sự kiện

Trang 7

thể Đây là tuổi có khả năng cống hiến sức lao động nhiều nhất cho xã hội Bệnh tiến triển có tính chất liên tục và trở thành mãn tính:

1-2năm: 26,6%(CN), 24,4%(TT); 3-4 năm:

46,6%(CN), 44,4%(TT); >5 năm: 20%(CN),

22,2%(TT)

- Bệnh xảy ra trên những người có tính cách

yếu: tính cách dạng suy nhược (55,5%); tính

cách dạng phân ly (27,7%); tính cách dạng

động kinh (16,6); các nét tính cách dễ bị tổn

thương gặp nhiều ở nhóm rối loạn chức năng

hơn nhóm tổn thương thực thể

- Rối loạn trầm cảm ở nhóm bệnh nhân

chức năng mang tính chất không điển hình,

mức độ nhẹ, có phối hợp với lo âu (38,8%),

loạn cảm giác bản thể (22,2%), nghi bệnh

(21,1%), ám ảnh (20%) Trong khi đó ở nhóm

tổn thương thực thể rối loạn trầm cảm biểu hiện

mức độ vừa và nặng

- Phản ứng tâm lý trước những xung đột đã trở

thành căn nguyên, thậm chí là đặc trưng nhất làm

xấu đi sự tiến triển của bệnh cơ bản Căn nguyên

bệnh, trong đó yếu tố tâm lý và cơ thể được biểu

lộ vai trò cơ bản và tiến triển tiếp theo, hình thành

chu kỳ phản ứng tâm thần- cơ thể trên bệnh nhân

có nhân cách loại này hay loại khác

Tài liệu tham khảo

1 Gay C (1995), “Dépression et maladies

chroniques”, Les maladies

depressives-Flamarion Medecine.Sciens PP.148-151

2 Lopez Ibor, ParJ.J (1989),”Dépression

masquée et équivalent dépressif”, Etats

dépressifs Editions Hans Huber, Berne, Stuttgart, Vienne, PP 38-43

3 Harrison, Naveau (1992), "Dépressions

et maladies somatiques", La dépression études Masson Paris Milan Barcelone Bonn,

pp 175-195

4 Waynekaton MD., Andrew A.,Nievienberg MD (1991), "Recognition of depression", Editorial services by NCM Publishers, Inc Washing- ton, 1, pp 5-27

5 Korkina M.V., Marilov V.V (1995),

"Variants of psychosomatic personality development in diseases of the gastrointestinal tract", Zh-Nevro- patol-Psikhiatr-im-S-S-Korsakova, 95 (6), pp 43-47

6 Avơruski G.IA, Prôkhôroova I.C, Raikii V.A (1987), “Vai trò của các yếu tố thể chất trong lâm sàng và điều trị trầm cảm che đậy”, Tạp chí bệnh học thần kinh và tâm thần, tập 4, tr.573-578

7 Tôpôlianski V.D, Strukốpkaia M.V (1986), Rối loạn tâm thần - thể chất, NXB YH, Matxcơva

Summary

Remark on clinical feature of depressive disorder in patient

with gastro-enteric-disease

Studying 90 patients suffered from gastro-enteric-disease with depressive disorder, 37 male, 45 female.The age is from 20 to 60 years Among them 45 patients have organic symptoms Some conclusion are as follow:

+ The occurence and development of disease are affected by bio-psychological mechanisim Psychological stress and personality play main roles

+ In patients with functional disorder, the depression is mild, atypical and it usually combine with anxiety obsession, hypochondry, cenestopathie In patients with organic symptoms, depression is severe and aceompanied by somatic symptoms

+ Disease develop chronically with a lot of handicap on health and economy for their family and the community

Ngày đăng: 20/03/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Thời gian bị bệnh của hai nhóm - Nhận xét đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở những bệnh nhân bị bệnh dạ dày - ruột doc
Bảng 3. Thời gian bị bệnh của hai nhóm (Trang 3)
Bảng 5. Triệu chứng lâm sàng ghi nhận đ−ợc trên 2 nhóm b/n nghiên cứu - Nhận xét đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở những bệnh nhân bị bệnh dạ dày - ruột doc
Bảng 5. Triệu chứng lâm sàng ghi nhận đ−ợc trên 2 nhóm b/n nghiên cứu (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w