Những thông tin này được phổ biến trong các báo cáo y tế công cộng, nhiều nước đã phát triển một hệ thống báo cáo chặt chẽ không chỉ về tỷ lệ chết và tỷ lệ mắc bệnh mà còn bao gồm tình h
Trang 1TCNCYH 22 (2) - 2003
Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của nhân dân huyện Ba vì - kết quả theo dõi tại cơ sở thực địa dịch tễ học năm 1999
Nguyễn Thị Kim Chúc
Khoa Y tế công cộng - Đại học Y Hà Nội
Thông tin chung và thông tin về tình hình sử dụng dịch vụ y tế trong vòng 4 tuần trước ngày phỏng vấn của 11089 hộ gia đình được thu thập từ một cuộc điều tra theo dõi từ tháng 9 đến tháng
12 năm 1999 tại Ba Vì Hà Tây
Tỷ lệ ốm trong vòng 4 tuần là 47.7% Tỷ lệ người dân tự điều trị khi bị ốm từ 62-73% được phân
bố không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm kinh tế, văn hoá và nghề nghiệp Các cơ sở y tế tư nhân được sử dụng nhiều hơn, trong khi các trạm y tế xã được sử dụng với tỷ lệ thấp Tỷ lệ đến khám chữa bệnh ở bệnh viện cao hơn ở nhóm có trình độ văn hoá cao và ở nhóm cán bộ nhà nước
và công nhân Không có sự khác biệt giữa các nhóm kinh tế về mô hình sử dung dịch vụ y tế Mô hình sử dụng dịch vụ y tế của nhân dân huyện Ba Vì không có khác biệt lớn so với các vùng khác ở Việt Nam Tuy nhiên rất cần thiết có những nghiên cứu sâu hơn về sử dụng dịch vụ y tế đối với từng loại bệnh cụ thể và theo mức độ nặng nhẹ của bệnh Các nghiên cứu cụ thể về việc tự
điều trị, việc sử dụng bảo hiểm y tế và hoạt động của y tế tư nhân cũng là rất cần thiết cho việc triển khai các chính sách và lập kế hoạch y tế tại huyện Ba Vì
I Đặt vấn đề
Theo dõi tình hình sức khoẻ và sử dụng dịch
vụ y tế là một hoạt động rất quan trọng trong
việc cung cấp các các số liệu cần thiết cho lập
kế hoạch và phát triển chính sách y tế [1,3,4]
ở những nước phát triển, các số liệu y tế
được thu thập khá đầy đủ một cách hệ thống từ
sổ sách và báo thường kỳ cũng như là từ các
cuộc điều tra cộng đồng Những thông tin này
được phổ biến trong các báo cáo y tế công
cộng, nhiều nước đã phát triển một hệ thống
báo cáo chặt chẽ không chỉ về tỷ lệ chết và tỷ
lệ mắc bệnh mà còn bao gồm tình hình ốm và
sử dụng dịch vụ y tế cũng như các yếu tố liên
quan [2,3]
Cũng như các nước đang phát triển
khác,Việt Nam thiếu nhiều thông tin y tế thiết
yếu cho lập kế hoạch và phát triển chính sách
Các số liệu thống kê y tế rất hạn chế, đặc biệt
là các số liệu ở cộng đồng [6,7]
Cơ sở thực địa dịch tễ học Ba Vì (Fila Bavi)
được thành lập năm 1998 với mục đích cung
cấp các số liệu giá trị cho lập kế hoạch và chính
sách y tế Cùng với nhiều nghiên cứu đã và
đang được thực hiện tại Ba vì, nghiên cứu về
tình hình sử dụng dịch vụ y tế là rất cần thiết để
vẽ lên một bức tranh toàn cảnh về tình hình sức khoẻ của nhân dân một vùng nông thôn Việt nam
Mục tiêu Nghiên cứu này nhằm mô tả và phân tích tình hình sử dụng dịch vụ y tế của nhân dân huyện Ba Vì trong mối liên quan với các yếu tố như giới, trình độ văn hoá, nghề nghiệp và tình
trạng kinh tế
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu này là
nghiên cứu cắt ngang, được thực hiện tại huyện
Ba Vì, tỉnh Hà Tây, Việt Nam từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1999
Cỡ mẫu: 11089 hộ gia đình gồm 48919 cá nhân Cỡ mẫu này chiếm khoảng 20% toàn bộ dân số huyện Ba Vì
2 Chọn mẫu
Các hộ gia đình được chọn vào nghiên cứu
sử dụng phương pháp chọn mẫu chùm theo kỹ thuật PPS và bốc thăm ngẫu nhiên Đơn vị chọn mẫu là các làng, một số làng nhỏ được ghép lại thành một đơn vị chọn mẫu và ngược lại, một
số làng lớn được tách ra thành hai đơn vị chọn
Trang 2TCNCYH 22 (2) - 2003
mẫu 67 chùm được chọn thuộc 29 xã trong
tổng số 32 xã gồm 352 đơn vị mẫu
3 Thu thập thông tin
Thông tin được thu thập bởi 32 điều tra viên
có trình độ văn hoá từ cấp III trở lên, được
tuyển chọn và đào tạo cẩn thận trong vòng hai
tuần Để theo dõi và tăng cường chất lượng của
số liệu, 5% số cuộc phỏng vấn được nhắc lại
Các thông tin về sử dụng dịch vụ y tế
cũng như là các thông tin cơ bản được thu
thập bằng bộ câu hỏi phỏng vấn hộ gia
đình Bộ câu hỏi này đã được thử nghiệm
bằng điều tra thử
4 Phân tích số liệu
Số liệu được xử lý phần mền thống kê SPSS
9.0 và STATA 7.0 Các trường hợp không trả
lời đều bị loại khỏi mẫu trong quá trình phân
tích Khi mô tả tình hình ốm và sử dụng dịch
vụ y tế theo trình độ văn hoá và nghề nghiệp,
chỉ những trường hợp lớn hơn 15 tuổi mới được
đưa vào phân tích
5 Các biến số sử dụng trong nghiên cứu
• Sử dụng dịch vụ y tế: người ốm có thể
tự điều trị; đến khám chữa bệnh ở thầy lang;
đến cơ sở y tế tư nhân; đến trạm y tế; bệnh viện
huyện; bệnh viện tỉnh hoặc bệnh viện trung
ương
• Trình độ văn hoá: Chia làm ba nhóm
gồm Mù chữ là những người không biết đọc và
không biết viết Phổ thông gồm những người
có trình độ từ cấp 3 trở xuống và Đại học/cao
đẳng/trung học
• Tình trạng kinh tế hộ gia đình: Tình
trạng kinh tế được chia thành 3 nhóm dựa trên phân loại của Bộ Lao động Thương binh và Xã hôị được áp dụng ở Ba Vì từ năm 1998 Phân loại này chủ yếu dựa trên thu nhập quy đổi thành số ki lô gam thóc trung bình trên một đầu
người trên một tháng Rất nghèo- dưới 15 ki lô
gam thóc trên một đầu người trên một tháng;
Không nghèo- trên 20 ki lô gam; Nghèo- là
nhóm ở giữa nhóm rất nghèo và không nghèo
• Nghề nghiệp được xác định là công
việc mang lại nguồn thu nhập chính và chiếm nhiều thời gian Nghề nghiệp được chia thành 3 nhóm: nông dân, cán bộ công nhân viên và
nghề khác Nông dân là những người chủ yếu
làm việc trên đồng Những người là cán bộ nhà
nước và công nhân được tính vào nhóm cán bộ
công nhân viên Các nghề khác như nội trợ, thợ
thủ công, buôn bán nhỏ, thất nghiệp được xếp
vào nhóm nghề khác
III Kết quả
Trong vòng 4 tuần trước ngày phỏng vấn đã
có 23315 người ốm Như vậy trong một mẫu nghiên cứu gồm 48919 người, tỷ lệ ốm hiện mắc là 47.7% Hình 1 cho thấy tỷ lệ hiện mắc sốt, ho, đau đầu là lớn nhất (khoảng 20%), tiếp theo là đau xương khớp (5.8%) và các rối loạn
về tiêu hoá (3.7%); tai nạn, chấn thương chiếm 1.7% Chỉ có 0.6% nói rằng đã có các triệu chứng như cao huyết áp, đau thắt ngực, tim đập nhanh,v.v.v
Hình 1:Tỷ lệ hiện mắc các triệu chứng
0.6%
0.9%
1.7%
1.7%
3.7%
5.8%
19.2%
21.4%
21.6%
24.5%
Đau đầu
Ho Sốt
Đau xương khớp
Đau bụng
Khó thở
Tai nạn
Rối loạn tiêu hoá
Rối loạn tim mạch
Khác
Trang 3TCNCYH 22 (2) - 2003
Hình 2 Mô hình sử dụng dịch vụ và xử trí khi ốm
6.1 25.3
2.4 68.2
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Hình 2 cho thấy tỷ lệ người dân tự điều trị là rất lớn (68,2%) Y tế tư nhân được sử dụng nhiều gấp đôi so với các dịch vụ y tế công cộng
Bảng 1: Mô hình xử trí khi ốm theo giới, nhóm tuổi, văn hoá, nghề nghiệp và tình trạng kinh tế
trị
Đến thầy lang
Đến y
tế tư
Trạm y
tế xã
Trạm y
tế xã
BV huyện/ Phòng khám đa khoa
BV huyện/ Phòng khám đa khoa
BV tỉnh, trung ương
BV tỉnh, trung ương Giới
Nam (n= 8032)
Nữ (n= 10781)
68.1 69.7
1.3 2.2
24.9 23.9
6.0 6.2
4.8 3.8
1.6 1.6 Văn hoá
Mù chữ (n=930)
Cấp III trở xuống
(n=10360)
> cấp III (n= 888)
68.2
68.4 67.3
3.8
2.2 2.9
24.3
23.4 18.0
6.7
5.5 4.3
3.8
4.2 10.4
0.3
1.9 5.2 Nghề nghiệp
Nông dân (n=8253)
Công nhân viên
(n=1105)
Khác (n= 2239)
69.4 61.4 67.9
2.1 2.9 3.4
23.1 19.1 25.6
5.7 4.0 6.1
3.1 17.8 4.6
1.8 4.3 2.1
Kinh tế
Rất nghèo (n=3844)
Nghèo (n=9777)
Không nghèo
(n= 4081)
70.1 70.3 69.8
1.3 1.8 2.2
23.1 24.6 24.0
6.7 5.9 5.0
3.9 3.6 5.8
0.7 1.5 2.4
Bảng 1 chỉ ra rằng hành vi tìm kiếm dịch vụ
giữa hai giới nam và nữ là không có sự khác
nhau Tự điều trị là phổ biến nhất ở tất cả các
nhóm văn hoá, nghề nghiệp và tình trạng kinh
tế Nhưng những người có trình độ học vấn cao
hơn đã sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh công của tuyến huyện nhiều hơn Người có trình độ
từ trung cấp trở lên sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh công của tuyến huyện nhiều hơn gấp ba lần so với những người mù chữ và gấp hai lần
Trang 4TCNCYH 22 (2) - 2003
so với những người có trình độ văn hoá từ cấp
ba trở xuống Ngược lại, nhóm có trình độ văn
hoá cao nhất lại khám chữa bệnh ở trạm y tế xã
ít nhất Các cán bộ công nhân viên chức khám
chữa bệnh ở bệnh viện nhiều hơn là nông dân
và các nghề khác
Tình trạng kinh tế hộ gia đình có vẻ như
không có ảnh hưởng gì đến sử dụng các dịch vụ
khám chữa bệnh
Phân tích hồi quy logistic
Để khống chế các yếu tố nhiễu và sự ảnh
hưởng tương tác giữa các yếu tố văn hoá kinh
tế xã hội với nhau trong việc so sánh tình hình
sử dụng từng loại dịch vụ y tế của người dân, chúng tôi đã tiến hành phân tích hồi quy logistic về sử dụng từng loại dịch vụ y tế theo ở các nhóm văn hoá, nghề nghiệp và kinh tế Kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa các nhóm này trong việc tự điều trị, sử dụng dịch
vụ của thầy lang, sử dụng trạm y tế xã, sử dụng dịch vụ y tế tư nhân cũng như sử dụng bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương (Bảng này không được trình bày)
Bảng 2: Mô hình hồi quy logistic với tỷ suất chênh ước lượng về sử dụng bệnh viện huyện và
phòng khám đa khoa ở mức 95% khoảng tin cậy cho từng nhóm kinh tế văn hoá xã hội
OR CI OR CI
Văn hoá
Mù chữ 0.7 0.3- 1.8 1.4 0.9-2.4
Từ cấp III trở xuống 1.1 0.8-1.5 1.6 1.1-2.2
Nghề nghiệp
Cán bộ công nhân viên 1.0 1.0
Nông dân 0.2 0.17-0.3 0.1 0.09- 0.2
Nhóm kinh tế
Rất nghèo 0.8 0.6-1.0 0.8 0.7-1.0
Pseudo R2= 0.052, Prob>chi2=0.0000
(nam), Pseudo R2=0.054, Prob>chi2=0.0000
(nữ)
Trong khi đó, mô hình hồi quy logistic cho
thấy việc sử dụng dịch vụ y tế công ở tuyến
huyện khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các
nhóm nghề nghiệp Nhóm nam cán bộ và nam
công nhân đã khám chữa bệnh ở bệnh viện
huyện nhiều gấp 3-5 lần nam nông dân và nam các nghề nghiệp khác một cách có ý nghĩa thống kê Còn nữ cán bộ và nữ công nhân sử dụng bệnh viện huyện theo thứ tự nhiều gấp 5
và 10 lần so vơi nông dân nữ và nữ các nghề nghiệp khác một cách có ý nghĩa thống kê (bảng 2)
Trang 5TCNCYH 22 (2) - 2003
IV Bàn luận
1 Sử dụng dịch vụ y tế
Cũng như một số nghiên cứu khác ở Việt
Nam, chúng tôi nhận thấy rằng việc tự điều trị
là rất phổ biến, khu vực y tế tư nhân được sử
dụng với tỷ lệ cao hơn các cơ sở y tế nhà nước
và các trạm y tế xã đã không thể hiện được vai
trò như mong đợi [5,7-9] Một nghiên cứu tại
Việt Nam cho thấy 93% khách hàng đến mua
thuốc tại các hiệu thuốc mà không có chỉ định
của thầy thuốc [5,7] Có nhiều lý do có thể giải
thích cho sự phổ biến của việc tự điều trị, sử
dụng rộng rãi khu vực y tế tư nhân cũng như sử
dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế
xã thấp Đó là sự tự do hoá lĩnh vực y tế tư
nhân, cho phép các cơ sở khám chữa bệnh tư
nhân hoạt động, các hiệu thuốc tư nhân và các
cơ sở khám chữa bệnh tư phát triển nhanh
chóng từ sau năm 1989 Rất nhiều loại thuốc
được bán rộng rãi trên thị trường mà không cần
đơn của thầy thuốc, trong khi đó thuốc cung
cấp cho các cơ sở y tế công cộng lại giảm
xuống đáng kể do nguồn ngân sách cho y tế bị
hạn chế Hơn nữa, chất lượng, thái độ phục vụ
và thuốc sẵn có của các trạm y tế được nhìn
nhận là kém các cơ sở y tế tư nhân [6,7]
Về sự liên quan giữa sử dụng dịch vụ và các
yếu tố kinh tế xã hội, kết quả phân tích hồi quy
logistic của chúng tôi đã chỉ ra rằng nghề
nghiệp là một yếu tố liên quan một cách có ý
nghĩa thống kê đến sử dụng dịch vụ khám chưã
bệnh tại bệnh viện huyện Bảo hiểm y tế có thể
là một yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh tuyến huyện vì ở thời điểm
năm 1999, hầu hết các cán bộ công nhân viên
đều có thẻ bảo hiểm y tế, trong khi đó các
nhóm nghề nghiệp khác thì hầu như không có
Hơn nữa dịch vụ do bảo hiểm y tế chỉ bắt đầu
từ tuyến huyện [7] Một vấn đề trong bảo hiểm
y tế được nhiều tác giả trong nước cũng như
nước ngoài nhắc đến đó là “sự vi phạm có tính
đạo đức ” Vấn đề này xuất hiện khi người dân
có bảo hiểm y tế và họ sử dụng dịch vụ bảo
hiểm khi chưa thực sự cần thiết chỉ bởi vì họ không bị mất tiền Một giả thiết nữa là cán bộ công nhân viên là những người có sẵn tiền mặt hơn nông dân, vì vậy họ có thể có tiền trả phí khám chữa bệnh ở bệnh viện mà nông dân
nhiều khi không thể trả ngay được
2 Điểm mạnh và những tồn tại của nghiên cứu
Điểm mạnh của nghiên cứu này là có một
cỡ mẫu khá lớn với nhiều hộ gia đình được chọn vào nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu chùm ngẫu nhiên Thêm vào đó hệ thống thu thập số liệu được tổ chức và hoạt động một cách hệ thống, các điều tra viên được tuyển chọn và đào tạo kỹ, cộng với hệ thống kiểm tra
và giám sát điều tra một cách chặt chẽ
Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi chưa tiếp cận được đầy đủ khái niệm của sức khoẻ trong đó các triệu chứng ốm về tinh thần
và xã hội chưa được đề cập đến Mức độ nặng, nhẹ của ốm là một nội dung khác cũng chưa
được đưa vào nghiên cứu này
Nghiên cứu này được tiến hành vào mùa
đông cho nên mô hình ốm đau chỉ mô tả cho một mùa, có thể mô hình ốm ở các mùa khác không giống như mùa đông Thực tế, mùa với những đặc điểm riêng về khí hậu có thể có những ảnh hưởng quan trọng đến mô hình bệnh tật nói chung và trong từng nhóm dân cư nói riêng và vì vậy cũng có thể ảnh hưởng đến mô hình sử dụng dịch vụ y tế
V Kết luận
Tỷ lệ ốm trong vòng 4 tuần là 47.7% Tỷ lệ người dân tự điều trị khi bị ốm từ 62-73% được phân bố không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm kinh tế, văn hoá và nghề nghiệp Các cơ
sở y tế tư nhân được sử dụng nhiều hơn, trong khi các trạm y tế xã được sử dụng với tỷ lệ thấp Tỷ lệ đến khám chữa bệnh ở bệnh viện cao hơn ở nhóm có trình độ văn hoá cao và ở nhóm cán bộ nhà nước và công nhân Không
có sự khác biệt giữa các nhóm kinh tế về mô hình sử dung dịch vụ y tế
Trang 6TCNCYH 22 (2) - 2003
Tµi liÖu tham kh¶o
Allebeck P Public Health reporting: for
what and in what form? European Journal of
Public Health, 1998; 8: 272-273
Allebeck P Public Health reporting in
some European countries Sweden’s Public
Health Report The national board of Health
and Welfare, 1997
Basch P F Textbook of International
Health NewYork, Oxford Oxford University
press, 1990: 262-287
Beaglehole R., Bonita R Public Health at
the crossroads Cambridge Graduate press,
1997; 30-40
Chuc NT,Tomson G: 'Doi Moi' and private
pharmacies: A case study on dispensing and
financial issues in Hanoi, Vietnam Eur J Clin Pharmacol 1999;55:325-332
General Statistical Office Vietnam Living Standard Survey, 1998 Hanoi: Statistical Publishing House; 1999
Ministry of Health Vietnam growing healthy, 2002
Ministry of Health Health Economic Reform oriented equity and effectiveness
Hanoi: MoH, 2000
Witter S 'Doi Moi' and health: The effect of economic reform on the health system in Vietnam Int J Health Planning and Management, 1996;11:159-17
Abstract Use of health care services in Bavi district, Hatay province- finding from an epidemiological
field laboratory The aims of the study were to assess the use of health services in a rural district in Vietnam, and
to analyse this in relation to sex, educational level, occupation and economic status
A population based survey of 11089 households was conducted in 1999 Through household interviews, data on health, use of health services during 4 weeks prior to the interview as well as background factors, were collected
The prevalence of self-reported illness was 47.7% Self-treatment was the most common irrespective sex, educational level, occupation, and economic status Use of district hospitals was significantly higher in groups with higher education and among employees Private health facilities were used to a large extent, while community health stations played a less important role
The pattern of health services utilisation in Bavi is similar to other regions of Vietnam The use
of health services for each specified illness should be done on further studies In future, studies on self-treament, health insurance and private health facilities needed to be continued