1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số yếu tố tác động tới nguy cơ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tỉnh Thanh Hoá Đọc thêm Nghiên cứu một số yếu tố tác động tới nguy cơ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tỉnh Thanh Hoá pptx

6 1,2K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 251,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số yếu tố tác động tới nguy cơ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tỉnh Thanh Hoá Dương Đình Thiện Đại học Y Hà Nội Một số yếu tố nguy cơ mắc tiêu chảy ở trẻ em dưới 5

Trang 1

Nghiên cứu một số yếu tố tác động tới nguy cơ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tỉnh Thanh Hoá

Dương Đình Thiện

Đại học Y Hà Nội

Một số yếu tố nguy cơ mắc tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi ở tỉnh Thanh Hoá, xếp theo thứ tự nguy cơ giảm dần:

- Thói quen uống nước lã

- Nhà tiêu không hợp vệ sinh

- Phân trẻ con bừa bãi ngoài nhà tiêu không được xử lý

- Sử dụng nước mưa, nước giếng, nước máng lần, sông, hồ không đảm bảo vệ sinh

I Đặt vấn đề

Chương trình Quốc gia phòng chống bệnh

tiêu chảy (CDD) ở Việt Nam bắt đầu triển khai

từ năm 1982 Sau hơn 10 năm triển khai, thực

hiện tích cực với trên 80% cán bộ quản lý và

cán bộ chuyên trách của chương trình từ tỉnh

đến huyện được đào tạo thành thạo về kỹ năng

giám sát và điều trị tiêu chảy cấp [2], [3], [1],

đến năm 1995 đã có 95% số trẻ em dưới 5 tuổi

được chương trình bảo vệ, với nội dung bù

nước và điện giải bằng đường uống, nuôi con

bằng sữa mẹ, vệ sinh môi trường góp phần làm

giảm tỷ lệ tử vong, rút ngắn thời gian bị bệnh,

giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) Vấn đề sử

dụng kháng sinh hợp lý trong việc điều trị bệnh

tả, các hội chứng lỵ cũng đã góp phần làm

giảm tỷ lệ tử vong do tiêu chảy tại các tuyến cơ

sở.[1]

Chương trình phòng chống các bệnh tiêu

chảy đã được nghiên cứu nhiều, cả ở trong

nước và nhiều nước trên thế giới về bệnh

nguyên, bệnh sinh, dịch tế học, các biện pháp

phòng bệnh không đặc hiệu, và nghiên cứu sản

xuất những vacxin đặc hiệu, dinh dưỡng điều

trị, thuốc điều trị và kết quả khích lệ nhất là

đã làm giảm được tỷ lệ tử vong do tiêu chảy rất

rõ rệt Song sự lây nhiễm của tiêu chảy cấp

(TCC) lại rất phổ biến và rất dễ dàng tạo nên

hàng loạt nguy cơ mắc rất rộng rãi, rất khác nhau, nên hiện nay mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc TCC còn gặp nhiều khó khăn, chưa có một khung mẫu chung đơn giản cho mọi lúc, mọi nơi trong việc phòng bệnh, mà đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể riêng cho từng khu vực, từng thời điểm để có thể có những biện pháp riêng, cụ thể mới có thể góp phần làm giảm nguy cơe mắc, mặc dầu việc phấn đấu làm giảm tỷ lệ mắc là một việc làm khó khăn lâu dài, có liên quan chặt chẽ với cả tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của chung của một cộng đồng [7]

Về các yếu tố tác động tới nguy cơ mắc tiêu chảy, các nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới cũng như những nghiên cứu ở trong nước đã xác định rằng có rất nhiều, trong đó có thể tập trung vào các yếu tố của môi trường tự nhiên và xã hội, các tập quán vệ sinh cụ thể, các yếu tố thuộc về bà mẹ, người chăm sóc trẻ và các yếu

tố thuộc về bản thân đứa trẻ [2],[5]

Mô tả và lượng giá một số yếu tố nguy cơ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tỉnh Thanh Hoá

Trang 2

II Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Địa điểm nghiên cứu: tỉnh Thanh Hoá

Nghiên cứu được tiến hành cả 3 vùng sinh

thái của tỉnh: vùng đồng bằng - ven biển, vùng

trung du, vùng núi

2 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em dưới 5 tuổi

- Các bà mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc

trẻ

- Các điều kiện triển khai chương trình

CDD, giám sát vệ sinh nước và an toàn thực

phẩm, chương trình cung cấp nước và vệ sinh

môi trường

3 Phương pháp điều tra

Cỡ mẫu điều tra tính theo công thức:

2

Q

2

2

/

1

.

d

P Z

n = ưα

cho vùng sinh thái của Thanh Hoá

Với α = 0,05

P = 0,30

d = 0,02

được n = 1725 hộ gia đình

Cuộc điều tra được tiến hành bằng mẫu chùm ngẫu nhiên, theo hộ gia đình, cỡ mẫu phải đạt là (1.725 x 2) = 3.450 hộ gia đình để

có được số trẻ dưới 5 tuổi của mỗi sinh thái khác nhau

- Chọn mẫu: theo 3 sinh thái đặc trưng của tỉnh Thanh Hoá, đồng bằng ven biển, trung du, vùng núi Mỗi khu vực tiến hành mtmẫu 30 chùm, mỗi chùm điều tra 115 hộ, theo mẫu phiếu điều tra tiêu chảy của khoa Y tế cộng

đồng - Đại học Y Hà Nội, với các quy chuẩn hiện dùng Các cán bộ điều tra, giám sát được tập huấn đầy đủ về nội dung và phương pháp khai thác,vthu thập thông tin theo mẫu phiếu

4 Xử lý kết quả nghiên cứu:

Theo các phương pháp thống kê thông thường

5 Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ

4/1995 đến 12/1996 III Kết quả

1 Tình hình chung về mắc và tử vong, do tiêu chảy, bảng 1

Chỉ điểm nghiên cứu Đ bằng - Ven biển Trung du Vùng núi Cộng

Số hộ điều tra

Số trẻ điều tra

Số mắc tiêu chảy

Số tử vong do T.C

3.630 4.438

523

6

3.450 4.308

403

7

3.505 4.676

375

9

10.585 13.422 1.301

22

Tỷ lệ mắc T.C %

Số lượt mắc/ trẻ/ năm

Tỷ lệ tử vong do T.C %

Tỷ lệ tử vong do T.C

Tỷ lệ tử vong chung

11,78 3,06 0,22 16,66

9,35 2,43 0,23 14,28

8,02 2,08 0,42 22,22

9,69 2,50 0,29 18,18

Nhận xét:

- Tỷ lệ mắc tiêu chảy trẻ em dưới 5 tuổi của Thanh Hoá là 9,69%

- Tỷ lệ tử vong do tiêu chảy là 29%

- Số lần mắc đối với một trẻ trong 1 năm là 2,5

Trang 3

2 Các yếu tố vệ sinh môi trường liên quan đến tiêu chảy (bảng 2)

Chỉ điểm nghiên cứu Đồng bằng

ven biển Trung du Vùng núi Chung Nhà ở Tổng số điều tra

Nhà ở loại B

Có trẻ mắc

CI 95% OR

3630 1.105

217 1,46 - 2,15

3.450 1.310

197 1,34 - 2,06

3.505 2.425

278 1,02 - 1,69

10.558 4.840

692 1,34 Nhà

tiêu

Tổng số điều tra

Nhà tiêu loại B

Có trẻ mắc

CI 95% OR

6.601 1.902

399 2,57 - 4,00

3.427 2.014

300 1.94 - 3,16

3.448 2.904

332 1,29 - 2,74

10.476 6.820 1.031 2,05

Xử lý

nghiên

cứu

T.S điều tra

Không xử lý

Có trẻ mắc

CI 95% OR

3.630 1.822

399 3,06 - 4,17

3.427 1.961

285 1,57 - 2,49

3.505 2.579

302 1,14 - 1,99

10.562 6.380

986 2,05 Nước

giếng

(m lần)

T.S điều tra

Giếng loại B

Có trẻ mắc

CI 95% OR

3.516 1.608

362 2,82 - 4,3

3.314 1.658

249 1,47 - 2,30

2.349 1.570

201 1,69 - 3,40

9.179 4.836

812 1,89 Nước

mưa/

giếng

loại B

T.S điều tra

Nước mưa

Có trẻ mắc

CI 95% OR

2.759

851

170 2,34 - 3,82

2.471

815

102 1,13 - 1,97

1.076

297

52 2,22 -5,41

6.306 1.963

324 1,29 Nước

uống

T.S điều tra

Uống nước lã

Có trẻ mắc

CI 95% OR

3.630

143

354 7,49 - 11,4

3.450 1.019

184 1,79 - 2,77

3.505

929

198 2,93 - 4,60

10.585 2.361

736 4,53 Nhận xét:

Đối với cả 6 chỉ điểm nghiên cứu, các khía cạnh âm tính đều là những yếu tố nguy cơ của bệnh tiêu chảy, với OR đi từ 1,29 đến 4,53 so với các khía cạnh dương tính của chúng

Trang 4

3 Các yếu tố liên quan của bà mẹ (hoặc người chăm sóc) trẻ

Chỉ điểm nghiên cứu Đồng bằng

ven biển Trung du Vùng núi Chung Nghề

nghiệp

mẹ

TS điều tra

Làm ruộng

Có trẻ mắc TC

CI 95% OR

3.630 3.161

476 1,15 - 2,21

3.450 3.009

369 1,14 - 2,46

3.505 3.241

347 0,95 - 1,55

10.565 9.411 1.192 1,34 Học

vấn mẹ

TS điều tra

Dưới lớp 7

Có trẻ mắc TC

CI 95% OR

3.630

395

74 1,17 - 2,14

3.450

545

86 1,24 - 2,28

3.445 1.472

165 0,83 - 1,47

10.525 2.112

325 1,33 Tuyên

truyền

T.C

TS điều tra

Chưa được TT

Có trẻ mắc TC

CI 95% OR

3.630

654

145 1,57 - 2,44

3.450

551

89 1,22 - 2,06

3.505 1.276

130 0,73 - 1,16

10.585 2.481

364 1,27

Nhận xét:

Nghề nghiệp mẹ, học vấn mẹ, mẹ được

tuyên truyền về tiêu chảy đều có tỷ suất chênh

không lớn giữa khía cạnh âm tính với khía cạnh

dương tính ở 2 vùng đồng bằng - ven biển và

trung du, song lại hoàn toàn không có chênh

lệch gì ở khu vực miền núi của tỉnh

IV Bàn luận

1 Tình hình mắc và tử vong do tiêu chảy

Tỷ lệ mắc tiêu chảy chung cho toàn tỉnh là

9,69% số trẻ dưới 5 tuổi Tuy chỉ trong một

cuộc điều tra ngang, với cỡ mẫu lớn: 13.422

trẻ, nhưng tỷ lệ này có thể phản ánh một tình

hình khái quát Phải chăng cho đến hiện nay,

nếu chúng ta coi tình trạng ô nhiễm môi trường

bên ngoài với đầy đủ ý nghĩa của nó là những

yếu tố nguy cơ chủ yếu của tiêu chảy, thì quả

thật là chúng ta đã chưa có những biện pháp

hữu hiệu nào làm giảm thiểu tác động của

những yếu tố này một cách bền vững, cho nên

bệnh tiêu chảy vẫn lưu hành, với tỷ lệ mắc dao

động không lớn, tuỳ thuộc vào mùa dịch, và

đặc biệt là tuỳ thuộc vào các khu vực khác

nhau với tình trạng vệ sinh môi trường khác

nhau ở đây tỷ lệ mắc tiêu chảy ở vùng đồng

bằng - ven biển là 11,78%, vùng trung du 9,35%, vùng núi là 8,02% số trẻ Tỷ lệ mắc chung toàn tỉnh không khác biệt gì lắm so với một số vài nước đang phát triển như Nigieria (8,1%), Saudi Arabia (7,9%) [7]

Nghiên cứu một số lượt mắc trong một năm/1 trẻ ở Thanh Hoá là 2,5, cao hơn kết quả

điều tra quốc gia về tiêu chảy: 2,2 lượt/ trẻ/ năm, nhưng thấp hơn nhiều so với các nước nơi

đang phát triển 3,6 lượt/trẻ/ năm như ở Bangradesh [4,6], Camarum [7,5] Riêng ở Thanh Hoá, con số này cao nhất ở vùng đồng bằng - ven biển (3,06) giảm đi ở vùng trung du (2,43) và thấp nhất ở vùng miền núi (2,08) song song với tỷ lệ mắc ở các vùng đó

Về tỷ lệ chết: Chung cho toàn tỉnh, tỷ lệ chết do tiêu chảy là 0,29% trẻ, thấp hơn con số này của toàn quốc 0,7% trẻ, thấp hơn rất nhiều

so với các con số tương ứng ở các nước tây Thái Bình Dương 2,2%, châu Phi 11,5 trẻ Rõ ràng chương trình CDD đã được triển khai rất

có hiệu quả trong mục tiêu làm giảm tỷ lệ chết

do tiêu chảy của chương trình tại tỉnh Thanh Hoá

Trang 5

2 Các yếu tố môi trường liên quan đến

tiêu chảy

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã điều tra

về một số yếu tố như nhà ở, nhà tiêu, vấn đề xử

lý phân, nước sinh hoạt (nước giếng, nước mưa)

vấn đề uống nước và một số yếu tố khác nữa,

trong đó mới chỉ nghiên cứu được đánh giá

theo biến nhị phân: xấu hoặc tốt, và xử lý kết

quả đơn giản bằng tỷ suất chênh để nhìn cho rõ

ràng dễ hiểu

Kết quả cho thấy rằng cả 6 chỉ điểm đều có

kết hợp thống kê với bệnh tiêu chảy, nghĩa là

khía cạnh âm tính của chúng đều góp phần làm

tăng khả năng mắc tiêu chảy ở trẻ Tuy nhiên,

các yếu tố nhà ở, dùng nước giếng hay nước

máng và nước mưa có trị số ước lượng điểm

của OR thấp Riêng ở vùng đồng bằng- ven

biển, vấn đề sử dụng nước giếng loại bảo và

nước mưa tạo nên có nguy cơ khá cao: nước

giếng có OR = 2,82 đến 4,3 và nước mưa có

OR = 2,34 đến 3,82

Các chỉ điểm còn lại: nhà tiêu loại B, không

xử lý phân, và uống nước lã đều là những yếu

tố nguy cơ có kết hợp chặt chẽ với bệnh tiêu

chảy ở trẻ nhỏ ở cả 3 khu vực, đặc biệt là ở

vùng đồng bằng - ven biển: nhà tiêu (OR =

2,57 đến 4,0) xử lý phân (OR = 3,06 đến 4,71)

uống nước lã (7,49 đến 11,4)

ở đây có thể căn cứ vào tỷ suất chênh để đề

xuất ra chiến lược làm giảm tỷ lệ mắc, vì

nghiên cứu này đã được thực hiện trên một cỡ

mẫu khá lớn, ở mỗi vùng điều tra được trên

3000 hộ gia đình, với tổng số là 10.558 trong

toàn tỉnh, thì ở vùng đồng bằng ven biển cần

tập trung giáo dục, xử lý cải tạo nhà tiêu, xử lý

phân, nước giếng, nước mưa và đặc biệt là vấn

đề uống nước lã ở vùng trung dương tập trung

vào nhà tiêu; ở vùng núi tập trung vào nước

uống và nước sinh hoạt

V Kết luận

Cuộc điều tra được tiến hành tại 10.585 hộ

gia đình với 13.422 trẻ dưới 5 tuổi, đã thấy

rằng:

1 Tỷ lệ mắc tiêu chảy: 9,69%

Số lượt mắc/ trẻ/ năm: 2,5

Tỷ lệ tử vong do tiêu cháy so với tử vong chung: 18,18%

2 Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy tại các hộ gia đình đối với trẻ dưới 5 tuổi tại Thanh Hoá:

- Thói quen uống nước lã: đặc biệt nghiêm trọng đối với trẻ ở vùng đồng bằng - ven biển, tiếp theo là vùng núi

- Nhà tiêu không hợp vệ sinh (loại B) là yếu

tố nguy cơ của cả 3 vùng

- Xử lý phân có tầm quan trọng với vùng

đồng bằng - ven biển, thứ đến là vùng trung du

- Các yếu tố khác như nước giếng loại nước máng lần không hợp vệ sinh, nhà ở loại B đều

có kết hợp với bệnh tiêu chảy, nhưng với tỷ suất chênh thấp (1 < OR < 2)

3 Các yếu tố liên quan thuộc về bà mẹ và bản thân đứa trẻ

Nghiên cứu có chú ý đến nghề nghiệp, học vấn của bà mẹ, bà mẹ có được tuyên truyền giáo dục hiểu biết về tiêu chảy và một vài yếu

tố khác, thì thấy rằng các yếu tố này có khả năng có kết hợp, nhưng đều không có ý nghĩa thống kê, nói khác đi, nghề nghiệp, trình độ học vấn của mẹ và cả vấn đề được nghe hay không về tiêu chảy của trẻ con qua đài, báo

đều không có ảnh hưởng gì quan trọng đến tiêu chảy bên cạnh các yếu tố nguy cơ của môi trường

Chúng tôi cũng đã nghiên cứu về một số yếu tố liên quan thuộc về bản thân đứa trẻ, như cân nặng lúc sinh, vấn đề bú sữa mẹ và ăn sau, vấn đề trên trong chương trình trên mở rộng thì

đều có những kết quả không có ý nghĩa thông

kế liên quan đến bệnh tiêu chảy

Trang 6

Tài liệu tham khảo

1 BYT Tiểu ban CDD (1996) Báo cáo tiến

độ các hoạt động chương trình phòng chống

các bệnh tiêu chảy, Hà Nội, tr.4,7,8 - 16

2 WHO - CDD (1993) Acute diarrhoeal

diseases as a problem anh approches for their

prevention, page 9 - 10

3 Chương trình CDD (1995) Kỹ năng giám

sát các mục tiêu, Hà Nội

4 Chương trình CDD (1995) Điều trị bệnh

tiêu chảy, Hà Nội, tr.5 - 18

5 Jonh Jopkin University (1997) Risbe factor for the transmission of diarhoea in children bull number 16, page 87

6 WHO - (1992) Risk factors for diaarrhoeal incidence in early childhood

7 WHO -(1992) Childhood diarrhoea in rural Nigeria: Studies on prevention morbidity and socio - environmental factors bull no 16, tr.199

Summaray Some risk factors ralatea to acute Diarrhoea

in under 5 year old in Thanh Hoa province

Findings have show that risk factors for diarrhoea in 10.585 households with children under five

in Thanh Hoa province are:

- Habit of drinking unboiled water

- Latrines do not meet required hygiene standard

- Children's feace are not treatet propouly

Using rain water, or water from well, lake, which is not hygienic enough

Ngày đăng: 20/03/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình khái quát. Phải chăng cho đến hiện nay, - Nghiên cứu một số yếu tố tác động tới nguy cơ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tỉnh Thanh Hoá Đọc thêm Nghiên cứu một số yếu tố tác động tới nguy cơ mắc tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tỉnh Thanh Hoá pptx
Hình kh ái quát. Phải chăng cho đến hiện nay, (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w