Tổng hợp và nghiên cứu tác dụng của protein tái tổ hợp rHIP trên sự phát triển dòng tế bào sợi phân lập từ mô lợi phì đại Tạ Thành Văn 1 và M.. Để chứng minh cho giả thiết này, chúng tô
Trang 1Tổng hợp và nghiên cứu tác dụng của protein tái tổ hợp (rHIP) trên sự phát triển dòng tế bào sợi phân lập từ mô lợi phì đại
Tạ Thành Văn 1 và M C Farach - Carson 2
1 , Bộ môn Hóa - Hóa sinh, Đại học Y Hà Nội
2 , Phòng Sinh học phân tử và Nội tiết, Khoa Sinh học, Trường Đại học Delaware, Hoa Kỳ
I ĐặT VấN Đề
Heparan sulfate proteoglycans (HSPG) nằm ở trên
bề mặt tế bào hoặc trong khoảng gian bào của tất cả
các mô động vật HSPG và các protein liên kết với
chúng tham gia vào nhiều quá trình sinh học của tế
bào như: sự liên kết tế bào - tế bào, quá trình phân
bào, biệt hóa, sự di chuyển và các quá trình sinh bệnh
lý của tế bào [1, 2, 6] Khoảng gian bào là nơi lưu giữ
và giải phóng các enzyme proteinase, các chất ức chế
và các yếu tố phát triển tế bào Những tác nhân gây
ra sự giải phóng các yếu tố phát triển từ khoảng gian
bào đều dẫn đến việc thúc đẩy sự phát triển của tế
bào Khi xử lý mô với enzyme thủy phân
heparin/heparan sulfate (HP/HS) hoặc với các chất ức
chế tổng hợp HSPG, tế bào phát triển mạnh và trở
nên có độ linh động cao, dễ dàng tách rời khỏi các
mô Đây chính là một trong các cơ chế di căn của
ung thư, trong đó các tế bào phát triển rất mạnh và dễ
di chuyển sang mô khác
Protein gắn đặc hiệu với heparan sulfate (HIP)
được xác định là một protein màng, nhận biết những
vị trí đặc hiệu trên phân tử HP/HS ADN của HIP mã
hóa 159 acid amine có trọng lượng phân tử khoảng
24 kDa HIP được tổng hợp nhiều ở tế bào nội mạc
và tế bào biểu mô trưởng thành [4, 5] Protein này
gắn trực tiếp, đặc hiệu với HP/HS và heparan sulfate
Chuỗi peptid ngắn được tổng hợp mô phỏng theo
vùng gắn đặc hiệu với HP/HS của HIP cũng có khả
năng gắn đặc hiệu và chọn lọc với HP/HS Thêm vào
đó, HIP còn có khả năng ức chế heparanase, thông
qua đó làm tăng cường mối liên kết tế bào - tế bào
Mối liên kết này bị ức chế bởi HP/HS cũng như một
số HSPG [4, 5] Chúng tôi giả thiết rằng bằng cách
cạnh tranh với vùng gắn đặc hiệu trên phân tử
HP/HS, HIP tham gia điều hòa sự phát triển tế bào thông qua việc điều hòa quá trình lưu giữ và giải phóng bFGF từ khoảng gian bào Để chứng minh cho giả thiết này, chúng tôi đã sử dụng dòng tế bào sợi phân lập từ mô lợi bình thường và lợi phì đại của các bệnh nhân ghép tạng điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch cyclosporine A (CsA) làm mô hình nghiên cứu thực nghiệm Sự phì đại của mô lợi liên quan với việc
sử dụng CsA được cho là do sự tăng cường phát triển của các tế bào sợi Đồng thời tại các mô này có sự tăng cường tổng hợp các yếu tố phát triển cùng với các receptor của chúng và HSPG Chính vì vậy, đây
là một mô hình nghiên cứu in vitro lý tưởng để tìm
hiểu cơ chế phì đại của mô lợi ở những bệnh nhân sử dụng CsA cũng như vai trò của HIP Trong nghiên cứu này chúng tôi đã sử dụng công nghệ gen để tổng
hợp HIP của người tái tổ hợp trên hệ vi khuẩn E coli
HIP tái tổ hợp đã được sử dụng trong mô hình thực
nghiệm in vivo để nghiên cứu tác dụng ức chế của
protein này trên dòng tế bào sợi phân lập từ mô lợi bình thường và mô lợi phì đại của bệnh nhân ghép tạng sử dụng CsA
II VậT LIệU Và PHươNG PHáP
1 Vật liệu
Heparin, imidazole, và bovine serum albumin
được mua từ Sigma (St Louis, MO, USA) bFGF
được mua từ Becton Dickinson Labware (Bedford,
MA, USA) Minimal essential medium (MEM), penicillin/streptomycin, Fungizoneđ, fetal bovine serum (FBS), các thành phần bổ sung cho môi trường nuôi cấy tế bào, trypsin và phosphate - buffer saline (PBS) được mua từ Gibco/BRL (Grand Island, NY, USA) Cyclosporine A mua từ Calbiochem (LaJolla, CA, USA)
Trang 22 Phương pháp
2.1 Phân lập tế bào sợi từ mô lợi bình thường
và phì đại
Mô lợi bình thường và lợi phì đại được lấy
trong các cuộc phẫu thuật lợi định kỳ cho các bệnh
nhân ghép tạng sử dụng thuốc ức chế miễn dịch
CsA tại khoa Răng, bệnh viện Trường Đại học
tổng hợp Pennsylvania (Philadelphia, PA, USA)
Mô lợi được cắt nhỏ trong điều kiện vô trùng rồi
nuôi cấy trong phiến nuôi cấy tế bào có 24 giếng
(24 - well plate) với MEM có bổ sung 10% FBS,
penicillin (100 U/ml), streptomycin (100àg/ml), và
1% Fungizoneđ ở 37 oC với thành phần không khí
ẩm có 95% không khí và 5% CO2 Các tế bào sợi
sẽ phủ kín mặt giếng trong khoảng thời gian 14 -
18 ngày Sau đó các tế bào này được chuyển sang
bình nuôi cấy 75 - cm2 sử dụng môi trường nuôi
cấy trên song không có Fungizoneđ Cuối cùng,
các tế bào này được thu hoạch, đưa nhanh về nhiệt
độ - 80 oC và bảo quản trong nitơ lỏng Tất cả các
tế bào sợi sử dụng trong nghiên cứu này đều ở thế
hệ thứ 3 đến thứ 8 Bằng cách sử dụng các kháng
thể đặc hiệu: anti - vimetin, anti - desmin, anti -
fibronectin, anti - factor VIII và anti - cytokeratin
14, chúng tôi đã khẳng định dòng tế bào sợi phân
lập được không bị nhiễm các loại tế bào khác như
tế bào biểu mô, tế bào nội mạc, tế bào cơ trơn
2.2 Tổng hợp và tinh chế HIP tái tổ hợp
Các cặp mồi có vị trí của enzyme cắt giới hạn
EcoRI cho phép nhân đoạn nucleotide của HIP từ
vị trí 25 - 508 Trình tự nucleotide của các cặp mồi
xuôi và ngược theo thứ tự là: 5’ -
CCCGAATTCGACATGGCCAAGTC và 5’ -
CCGAAGTCTCATTTCTTAAGGGG Sản phẩm
PCR chứa đựng toàn bộ các bộ ba mã hóa toàn bộ
chiều dài phân tử của HIP được đưa vào vector có
oligo - histidine với vị trí enzyme cắt giới hạn là
EcoRI Sản phẩm HIP tái tổ hợp có gắn với
oligohistidine ở đầu - N tận HIP tái tổ hợp được
tinh chế theo hai giai đoạn Giai đoạn 1 sử dụng
cột sắc ký ái lực cobalt resin và giai đoạn 2 sử
dụng cột sắc ký ái lực heparin sepharose Tất cả
các giai đoạn tinh chế đều được thực hiện ở 4 oC và
độ tinh khiết được theo dâi bằng điện di trên gel
SDS - polyarylamide và Western blot sử dụng kháng thể kháng HIP Kết quả cho thấy HIP tái tổ hợp được tinh chế với độ tinh khiết trên 95% Các
protein gắn không đặc hiệu ở E coli không mang
HIP - vector cũng được tinh chế và được sử dụng như mẫu đối chứng âm tính
2.3 Điện di trên gel polyacrylamide với sự có mặt của sodium dodecyl sulfate (SDS - PAGE) và Western blot
Các mẫu protein hòa tan được tủa bằng 10% acid trichloroacetic ở 4 oC trong 2 h hoặc để qua
đêm Tủa được thu hồi bằng cách ly tâm 1200 ì g trong 10 phút ở 4 oC sau đó được rửa bằng 10% acid trichloroacetic và 100% acetone rồi để khô ở nhiệt độ phòng Tủa được hòa tan bởi một lượng tương đương dung dịch đệm điện di hòa tan mẫu (sample buffer) và đệm Tris - HCl, 50 mM, pH 7.0
có 4 M ure, 1% SDS, 1% β - mecaptoethanol và 0,01% phenylmethylsulfonyl fluoride Hỗn hợp này được đun sôi trong 5 phút và dùng để chạy
điện di trong điều kiện biến tính với 15% gel polyacrylamide Gel được rửa nhanh bằng đệm Tris base 100 mM và 100 mM glycine, pH 9,2 rồi
được điện di chuyển sang giấy nitrocellulose ở 4oC trong 5 h với hiệu điện thế 40 V sử dụng Transblot apparatus (Bio - Rad) Giấy nitrocellulose được ủ với kháng thể kháng HIP trong đệm PBS có 0,01% sodium azide và 0.05% Tween 20 (PAT) và 1% BSA trong 6h rồi sau đó được rửa 3 lần với PAT và
ủ với kháng thể kháng IgG của thỏ được gắn với horseradish peroxydase (pha loãng 1: 200.000 với PAT) trong 2h Sau khi rửa tiếp 3 lần với PAT, các vết protein trên tấm giấy này được phát hiện bằng dung dịch hóa phát quang (Pier Chemical, Rockford, IL, USA)
2.4 Kỹ thuật đánh giá sự phát triển của tế bào
Để đánh giá ảnh hưởng của HIP lên sự phát triển của tế bào sợi, chúng tôi sử dụng phiến nuôi cấy tế bào có 24 giếng với số lượng tế bào khởi
đầu là 3.500 tế bào/giếng Các giếng này được ủ trong tủ nuôi cấy qua đêm trong môi trường là MEM có 10% FBS để đảm bảo cho tất cả các tế bào bám vào đáy giếng Ngày hôm sau, các giếng
được tráng nhẹ nhàng 2 lần với PBS (Ca2+/Mg2+) rồi thay thế bằng môi trường MEM với 0,2% FBS
Trang 3Các vệt của HIP được phát hiện bằng Western blot với việc sử dụng kháng thể kháng HIP peptide:
1, Trọng lượng phân tử chuẩn; 2, Dịch phá hủy E coli thô; 3, Dịch chảy qua cột cobalt; 4, Phân đoạn gắn với cột cobalt; 5, Dịch rửa cột heparin (0,5 M NaCl); 6, Dịch chảy qua cột heparin; 7 và 8, Các phân đoạn gắn với cột heparin sepharose được đẩy bằng dung dịch đệm với 1,5 M NaCl
(500 àl/giếng) và ủ thêm 24 giờ nữa Sau đó môi
trường trên được thay thế bằng môi trường có chứa
các yếu tố cần nghiên cứu trong đó có HIP Môi
trường của tất cả các điều kiện thí nghiệm trên đều
chứa 0,2% FBS ở các ngày 0, 3, 5, 9 và 13 tế bào
sợi được thu hoạch bằng cách xử lý với
trypsin/EDTA và đếm bằng buồng đếm tế bào
Mỗi điều kiện thí nghiệm được nhắc lại 4 lần Tốc
độ phát triển tế bào được phân tích và so sánh sử
dụng phần mềm ANOVA và Tukey - Kramer
secondary multiple - comparision test
III KếT QUả
1 Tổng hợp và tinh chế HIP tái tổ hợp của người
Bằng cách sử dụng hệ vector có oligohistidine,
tác giả đã tổng hợp thành công HIP tái tổ hợp của
người có mang oligohistidine ở đầu - N tận trên hệ
vi khuẩn E coli Hai đặc tính của protein tái tổ hợp
này đã được lợi dụng để có thể tinh chế nhanh với
số lượng lớn và đạt độ tinh khiết cao: 1) Mang
oligohistidine nên có thể sử dụng sắc ký ái lực
cobalt resin để gắn và dùng imidazole để đẩy; 2)
Có ái lực cao với heparin nên có thể dùng sắc ký ái
lực heparin sepharose để gắn và dùng nồng độ
NaCl cao (1,5 M) để đẩy Bằng cách kết hợp hai
giai đoạn trên, HIP tái tổ hợp đã được tinh chế với
độ tinh khiết cao trên 95% so với dịch chiết ban
đầu từ vi khuẩn E coli (hình 1) Nghiên cứu đánh
giá độ bền vững của protein này trong các điều
kiện bảo quản khác nhau cho thấy HIP có thể được
bảo quản trong PBS có 10% glycerol ở nhiệt độ -
80 oC trong thời gian một tháng mà hoạt tính của
HIP còn được trên 90% so với ngày đầu tiên, ngay
sau khi mới tinh chế (hình 2)
Hình 2 Độ bền vững của HIP ở - 80 o C trong PBS với 10% glycerol
1, Sau 2 tháng; 2, Sau 1 tháng; 3, Ngày 1;
4, Trọng lượng phân tử chuẩn
2 HIP ức chế sự phát triển của tế bào sợi phân lập từ mô lợi phì đại
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy dòng tế bào sợi phân lập từ mô lợi bình thường và mô lợi phì đại của bệnh nhân sử dụng CsA giống nhau về mặt hình thái học [3] Thêm vào đó, hai dòng tế bào này có chung một sự đáp ứng với bFGF, CsA và heparin khi cho các chất này vào môi trường nuôi cấy [3] Trong nghiên cứu trước chúng tôi đã chỉ ra rằng thêm heparin với nồng độ
10 àg/ml vào môi trường nuôi cấy không ảnh hưởng đến sự kích thích tăng sinh tế bào của bFGF
ở nồng độ 10 ng/ml Khi tăng nồng độ bFGF từ 10
đến 50 ng/ml thì số lượng tế bào cũng tăng lên
đáng kể [3]
1 2 3 4 5 6 7 8
1 2 3 4
Hình 1 HIP của người tái tổ hợp trên E coli được
tinh chế với độ tinh khiết cao nhờ sắc ký ái lực
Trang 40
10
20
30
40
50
Hình 3: HIP đối kháng với khả năng kích
thích phân bào của bFGF
Tế bào sợi được nuôi cấy trong MEM ở 3 điều
kiện khác nhau: 1, 0,2% FBS; 2, 0,2% FBS và 50
ng/ml bFGF; 3, 0,2% FBS, 50 ng bFGF và 5 àg/ml
HIP Số lượng tế bào được đếm ở các ngày 0, 3, 9
và 13 kể từ khi thêm các thành phần bổ sung vào
môi trường nuôi cấy Mỗi thí nghiệm được nhắc lại
4 lần, **, p < 0,001; ***, p < 0,0001
Kết quả ở hình 3 cho thấy, trong những ngày
đầu, không có sự khác biệt về số lượng tế bào giữa
hai nhóm có và không có HIP Tuy nhiên vào ngày
thứ 9 và đặc biệt là vào ngày thứ 13 thì HIP thể
hiện hoạt tính ức chế mạnh khả năng kích thích
phân bào của bFGF Tuy nhiên thí nghiệm khác
cho thấy nếu cho HIP vào môi trường nuôi cấy mà
không bổ sung bFGF thì sẽ không có sự thay đổi
về số lượng tế bào giữa hai nhóm thí nghiệm
Thêm vào đó, khi bổ sung IGF - 1, một yếu tố phát
triển tế bào không phụ thuộc HP/HS thì cũng
không làm thay đổi tốc độ phân bào giữa hai nhóm
có HIP và không có HIP [7, 8] ở nồng độ 5 g/ml,
HIP bắt đầu thể hiện hoạt tính ức chế sự phân bào
trong khi với nồng độ 100 và 10 lần nhỏ hơn, HIP không hề phát huy khả năng ức chế này (hình 4) Những kết quả trên cho phép chúng tôi đề xuất cơ chế điều hòa hoạt tính kích thích phân bào của bFGF trong mô lợi phì đại của bệnh nhân sử dụng CsA (hình 5)
***
**
0 5 10 15 20 25
Hình 4: Xác định nồng độ HIP bắt đầu có khả năng đối kháng với sự kích thích phân bào của bFGF
Tế bào sợi được nuôi cấy trong MEM ở 3 điều
kiện khác nhau: 1, 0,2% FBS; 2, có 0,2% FBS và
50 ng/ml bFGF; 3, 0,2% FBS, 50 ng bFGF và 0,05 g/ml; 4, 0,2% FBS, 50 ng bFGF và 0,5 àg/ml HIP
và 5, 0,2% FBS, 50 ng bFGF và 0,5 àg/ml HIP Số
lượng tế bào được đếm ở các ngày 0, 3 và 9 kể từ khi thêm các thành phần bổ sung vào môi trường nuôi cấy Mỗi thí nghiệm được nhắc lại 4 lần, *, p
< 0,05
Protein
Khoảng gian
bào
bFGF (thể hoạt động)
HIP
bFGF (thể bất hoạt)
Phức hợp HIP - HS
Vị trí gắn của bFG trên HS
Trang 5Hình 5 Mô hình cơ chế đối kháng của HIP với tác dụng kích thích phân bào của bFGF
đối với tế bào sợi của mô lợi phì đại
HIP ức chế enzyme thủy phân mô đồng thời
cạnh tranh với vị trí gắn của bFGF trên phân tử HS
để giải phóng bFGF ở dạng bất hoạt và tạo phức
hợp HIP/HS)
IV BàN LUậN
Các yếu tố phát triển tế bào gắn đặc hiệu với
HP/HS trong đó có bFGF tham gia thúc đẩy sự
tăng sinh phì đại của mô lợi ở những bệnh nhân sử
dụng CsA Các yếu tố phát triển này cùng receptor
của chúng và HSPG được tổng hợp nhiều trong quá
trình phát triển phì đại của mô lợi gây ra chảy máu
thường xuyên cho bệnh nhân Các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng việc gia tăng sự phát triển của mô lợi
gây ra chủ yếu là do sự tăng sinh của các tế bào
sợi CsA được phát hiện là thủ phạm gây tăng quá
trình tổng hợp ADN của các tế bào sợi Điều này
đã khiến chúng tôi cho rằng phải chăng cơ chế tác
động của CsA thông qua con đường kích thích sự
phân bào của bFGF
HIP được xác định là một protein màng gắn đặc
hiệu với HP/HS [4] Protein này có khả năng gắn
đặc hiệu và chọn lọc với HP/HS đồng thời có khả
năng ức chế heparanase để qua đó làm tăng cường
mối liên kết tế bào - tế bào Mối liên kết này bị ức
chế bởi HP/HS cũng như một số HSPG Chính vì
vậy, chúng tôi đã giả thiết rằng HIP điều hòa sự
phát triển của tế bào thông qua việc điều hòa quá
trình lưu giữ và giải phóng bFGF từ khoảng gian
bào Thêm heparin vào môi trường nuôi cấy mà
không ảnh hưởng đến sự phát triển của tế bào cho
thấy các tế bào sợi phân lập được có khả năng tổng
hợp dư thừa glycosaminoglycan để có thể thúc đẩy
sự đáp ứng của tế bào đối với bFGF [8] Kết quả
cho thấy ở liều 5 àg/ml hay cao hơn HIP ức chế
mạnh sự tăng sinh của tế bào với sự có mặt của 50
ng/ml bFGF Không có bFGF, HIP không thể hiện
hoạt tính ức chế cho thấy HIP có khả năng làm suy
giảm sự đáp ứng của tế bào đối với bFGF Điều
này cũng đồng nghĩa rằng ở trạng thái nghỉ (0,2%
FBS trong môi trường nuôi cấy) thì tế bào kém
nhậy cảm với các yếu tố phát triển cũng như đáp
ứng yếu với HIP Từ kết quả trên chúng tôi cho
rằng HIP đóng vai trò như là một chất đối kháng với bFGF trong việc kích thích sự phát triển của tế bào sợi Cùng với việc HIP không ảnh hưởng đến tác dụng kích thích phân bào của IGF - 1 cho thấy cơ chế hoạt động trên của HIP phải là cơ chế phụ thuộc HP/HS Kết quả này chứng minh cho giả thuyết của chúng tôi về cơ chế hoạt động của HIP trong mô lợi phì đại của bệnh nhân sử dụng CsA Trong đó CsA kích thích tổng hợp HIP từ tế bào nội mạc hoặc tế bào biểu mô Do vậy HIP sẽ tăng khả năng cạnh tranh với vị trí gắn đặc hiệu của bFGF trên phân tử HS ở khoảng gian bào để giải phóng bFGF ở dạng bất hoạt và tạo phức hợp HIP -
HS Thêm vào đó HIP còn có khả năng ức chế các enzyme mô như các protease và endoglycosidase
là các enzyme làm tăng bFGF ở trạng thái tự do Tất cả điều này đều làm bFGF ở dạng hoạt động tăng cao và thúc đẩy sự nhân lên của tế bào sợi gây nên phì đại mô lợi Kết quả nghiên cứu này mở ra một triển vọng nghiên cứu ứng dụng HIP và các HSPG trong điều trị hiện tượng phì đại lợi, một tác dụng phụ của CsA và các dẫn xuất, tránh cho bệnh nhân khỏi việc phẫu thuật cắt bỏ lợi định kỳ
V KếT LUậN Những kết quả thu được từ công trình nghiên cứu này cho phép chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1 Chúng tôi đã thiết lập thành công quy trình tổng hợp protein tái tổ hợp (HIP) của người trên hệ
vi khuẩn E coli sử dụng vector có oligo - histidine
2 HIP tái tổ hợp đã được tinh chế với độ tinh khiết cao nhờ kết hợp các kỹ thuật sắc ký ái lực sử dụng nhựa coban và heparin
3 HIP tái tổ hợp thể hiện hoạt tính ức chế mạnh lên sự nhân lên của cả hai dòng tế bào sợi phân lập từ mô lợi bình thường và mô lợi phì đại
được lấy từ bệnh nhân ghép tạng sử dụng CsA
4 Kết quả thu được cho phép các tác giả đưa
ra cơ chế tác dụng của HIP: HIP cạnh tranh với bFGF trên vị trí gắn đặc hiệu của yếu tố này trong phân tử heparan sulfate để giải phóng bFGF ở dạng
Trang 6bất hoạt Thông qua đó HIP ức chế sự phát triển
của tế bào
Trang 7TàI LIệU THAM KHảO
1 Tạ Thành Văn (1998); Heparin: Sự tương
tác với các protein Tạp chí Nghiên cứu Y học, 6
(2), 69 - 72
2 Tạ Thành Văn, Saburo Hara (2001); ái
lực của fructose 1,6 - bisphosphate aldolase với
glycosaminoglycans Tạp chí Nghiên cứu y học 16,
35 - 40
3 Tạ Thành Văn (2004); Phân lập và nghiên
cứu sự đáp ứng của dòng tế bào sợi từ mô lợi phì
đại với bFGF và heparin Y học Việt Nam (đang
in)
4 Julian, J., Van - Thanh, T., Carson, D D
et al. (2001); Expression of HIP/RPL29 during the
entrous cycle and early pregnancy in the mouse
Biological Reproduction 64 (4): 1165 - 1175
5 Rohde, L H., Julian, J., Babaknia, A.,
Carson, D D (1996); Cell surface expression of
HIP, a novel heparin/heparan sulfate binding
protein, of human uterine epithelial cells and cell
lines Journal of Biological Chemistry 271, 11824
- 11830
6 Van - Thanh, T., Takano, R., Kamei,
Hara, S et al (1999); Fructose 1,6 - bisphosphate
aldolase is a heparin binding protein Journal of
Biochemistry 125, 554 - 559
7 Van - Thanh, T., Korostoff, J., and
Farach - Carson, M C et al (2000); Heparan
sulfate interacting protein (HIP) negatively regulates growth responses to bFGF by gingival
fibroblasts Molecular Biology of the Cell 11,
244a
8 Van - Thanh, T., Carson, D D., Farach -
Carson, M C et al (2002); Heparan sulfate
interacting protein (HIP/L29) negatively regulates growth responses to basic fibroblast growth factor
in gingival fibroblasts Journal of Dental
Research 81, 247 - 252
Summary
Synthesis and study on effect of recombinant protein (HIP) on gingival fibroblast growth derived from overgrowth gingiva
Heparan sulfate proteoglycan (HSPG) locates on the cell surface and extracellular matrix (ECM) where basic fibroblast growth factor (bFGF) is captured and released in a regulated fashion by tissue proteinases and endoglycosidases bFGF implicated in gingival overgrowth Release, rather than synthesis rates, governs bFGF bioavailability We identified a heparin/heparan sulfate (HP/HS) interacting protein (HIP) that recognizes specific HS sequences We isolated and cultured fibroblasts from normal gingiva and overgrowth gingiva from
patients on cyclosporine (CsA) Recombinant human HIP fused with oligo - histidine tag expressed in E coli,
dramatically decreased bFGF - induced proliferation These results support our hypothesis that HIP modulates bFGF bioavaibility through the regulation of ECM sequestration and release