Bệnh lý dạ dày tá tràng do thuốc chống viêm không steroid Nguyễn Thị Ngọc Lan, Trần Ngọc Ân Bộ môn Nội tổng hợp – Trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu biểu hiện lâm sàng, nội soi dạ dày
Trang 1Bệnh lý dạ dày tá tràng
do thuốc chống viêm không steroid
Nguyễn Thị Ngọc Lan, Trần Ngọc Ân
Bộ môn Nội tổng hợp – Trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu biểu hiện lâm sàng, nội soi dạ dày tá tràmg (DD - TT) ở 178 bệnh nhân (BN) dùng thuốc chống viêm không sleroid (CVKS) so sánh với 84 người chưa từng dùng thuốc CVKS, chúng tôi kết luận như sau: Nhóm dùng thuốc CVKS có tỉ lệ tổn thương nội soi DD-TT nói chung: 86,0% Tổn thương dạ dày: 80,9% (22,5% loét); tá tràng: 29,2% (22.5% loét); (p < 0,0l so với nhóm chứng) Tỉ lệ các triệu chứng lâm sàng gặp từ l l,8 - 42,7% (đau thượng vị, đầy bụng ) Các triệu chứng này có giá trị dự báo tổn thương Các yếu tố ảnh hưởng đến tổn thương DD-TT do thuốc CVKS: tổn thương DD-TT càng nặng nếu BN có các yếu tố sau: Tuổi trên 60, nghiện rượu, nghiện thuốc lá; đang dùng thuốc CVKS, thời gian dùng thuốc CVKS kéo dài, liều thuốc CVKS cao Không có mối tương quan giữa tổn thương DD-TT và các loại bệnh khớp, tỉ lệ nhiễm HP
I Đặt vấn đề
Loét dạ dày tá tràng (DD-TT) ở các đối tượng
dùng thuốc chống viêm không steroid (CVKS)
cao gấp 5- 15 lần nhóm chứng trong dân chúng
[?] Số tử vong vì bệnh DD-TT do thuốc CVKS
năm 1997 ở Mỹ chỉ đứng sau bệnh bạch cầu, và
cao hơn nhiều các bệnh khác Nghiên cứu được
tiến hành nhằm mục tiêu sau:
1 Xác định tỉ lệ và đặc điểm tổn thương
dạ dày tá hàng về lâm sàng và nội soi ở BN
mắc bệnh khớp dùng thuốc CVKS
2 Khảo sát một số yếu tố nguy cơ làm
gia tăng tổn thương dạ dày tá tràng khi
dùng thuốc CVKS
II Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổng số 262 người điều trị nội ngoại trú
tại khoa Xương khớp bệnh viện Bạch Mai
từ tháng 12 - 1997 đến tháng 1 - 2002,
tuổi từ 16 - 80, không phân biệt giới tính
2.1.1 Nhóm BN nghiên cứu
Gồm 178 người mắc một trong số các
bệnh khớp viêm hoặc thoái hoá; đã sử
dụng thuốc CVKS, bất kể loại thuốc, liều
lượng và đường dùng, từ 28 ngày (4 tuần)
trở lên Loại khỏi nghiên cứu các BN dùng colticoid kèm theo; đã dùng thuốc diều trị loét DD-TT, thuốc kháng sinh trong vòng một tháng trước ngày nghiên cứu; có tiền
sử tổn thương DD-TT hoặc các triệu chứng dạ dày tá tràng trước khi dùng thuốc CVKS;
có các tổn thương nội tạng khác (gan thận ); phụ nữ có thai và cho con bú
2.1.2 Nhóm chứng
Gồm 84 người mắc một trong các bệnh khớp như ở nhóm nghiên cứu; chưa từng dùng thuốc CVKS; Tiêu chuẩn loại BN khỏi nhóm chứng như đối với nhóm nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang Bao gồm: phỏng vấn, khám lâm sàng, xét nghiệm sinh hoá X quang, nội soi dạ dày, tìm HP bằng xét nghiệm mô bệnh học và/ hoặc test urease Chẩn đoán bệnh khớp theo tiêu chuẩn quốc tế ACR (American College of Rheumatology) Tiền sử dùng thuốc CVKS
và các yếu tố liên quan theo Rodnguez [9] Nhận định tổn thương dạ dày theo phân loại Sydney chỉnh lý 1994 [6]
2.3 Phương pháp xử lý số liệu:
Phương pháp thống kê y học
Trang 2III Kết quả
3.1 Triệu trứng lâm sàng DD – TT
Bảng 1: Tỉ lệ có biểu hiện lâm sàng DD –TT
CVKS (n=178) Chứng Triệu chứng lâm sàng
Nhận xét:
ở nhóm dùng thuốc CVKS, nhiều triệu trứng lâm snàg có tỉ lệ cao hơn nhóm chứng
(p < 0,05; p < 0,01)
Bảng 2: Tỉ lệ và mức độ tổn thương nội soi DD – TT
CVKS (n=178) Chứng (n=84) Tổn thương
Tổn thương nhẹ 79 44,4 19 22,6
Có tổn thương
Nhận xét:
Có sự khác biệt về tỉ lệ và mức độ tổn thương DD – TT ở nhóm dùng thuốc CVKS so
với nhóm chứng (p < 0,01)
Bảng 3: Tổn thương nội soi dạ dày tá tràng
CVKS (n=178) Chứng (n=84)
Đặc điểm
Tổn thương dạ dày theo phân loại Sydney chỉnh lý 1994
Viêm dạ dày phù nề xung huyết 35 19,7 18 21,4 < 0,05
Trang 3Tổn thương tá tràng
Nhân xét:
Nhóm dùng thuốc CVKS có 22.5% loét
dạ dày, các tổn thương khác ở dạ dày đa
dạng; so với nhóm chứng p < 0,01 (Nhóm
chứng không có loét dạ dày) Về tổn
thương tá tràng cũng có sự khác biệt so
với nhóm chứng (p < 0,01)
3.2 Tình trạng nhiễm HP tại hang vị
Tỷ lệ nhiễm HP ở nhóm dùng thuốc
CVKS: 93 người (52,2%) cao hơn nhóm
chứng (33 người - 39,3%) (p < 0,01)
3.3 Giá trị của các triệu chứng lâm
sàng
Các tính toán thống kê giữa về mối liên
quan giữa triệu chứng lâm sàng và tỉ lệ
tổn thương DD - TT cho thấy các triệu
chứng lâm sàng (đau thượng vị, đầy
bụng…) có giá trị dự báo tổn thương
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tổn
thương DD - TT ở 17S BN dùng thuốc
CVKS
- Tuổi ≥ 60: có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,01) về mức độ tổn thương
DD-TT Tỉ suất chênh OR = 3,15 (độ tin
cậy 95%: l,42 - 7,07)
- Giới: Tỉ lệ tổn thương DD-TT nhẹ và tỉ
lệ loét ở nam giới cao hơn so với nữ (p <
0,05), song không tìm tháy tỉ suất chênh
có có ý nghĩa thống kê
- Bệnh khớp: Không tìm thấy mối tương
quan giữa chẩn đoán bệnh khớp với tỉ lệ
tổn thương hoặc mức độ tổn thương DD -
TT ở các BN dùng thuốc CVKS
- Thời gian dùng thuốc CVKS: càng
dài, tỉ lệ tổn thương và loét DD-TT càng cao
- Về thời điểm dùng thuốc CVKS (so với thời điểm nghiên cứu): Tính xác suất
tổn thương bằng phép phân tích hồi quy
đa biến (Test Logistic Regression) cho thấy tỉ lệ tổn thương liên quan chặt chẽ với thời điểm dùng thuốc CVKS, sau đó là thời gian dùng thuốc CVKS Mức độ tổn thương DD - TT liên quan tới thời gian dùng và liều thuốc CVKS Thời gian dùng thuốc CVKS càng dài, liều dùng càng cao, tỉ lệ loét DD-TT càng cao
- Tỉ lệ nhiễm HP: Không tìm tháy mối
liên quan giữa tỉ lệ nhiễm HP và tỉ lệ tổn thương và mức độ tổn thương DD - TT ở nhóm dùng thuốc CVKS
- Một số thói quen sinh hoạt, chế độ lao động:
+ Nghiện rượu: chỉ suất chênh OR = 10,97 (độ tin cậy 95%: l,44 - 83,84), p <
0,01
+ Nghiện thuốc lá: tỉ suất chênh OR = 7,76 (độ tin cậy 95%: l,0 - 58,54) p <
0,05
- Chưa thấy ảnh hưởng của các thói quen sinh hoạt, chế độ lao động đến mức
độ tổn thương DD - TT (p > 0,05)
IV BàN LUậN 4.1 Đặc điểm tổn thương DD-TT về lâm sàng, nội soi ở BN dùng thuốc CVKS
Giá trị của các triệu chứng lâm sàng tiêu hoá ở các bệnh nhân mắc bệnh khớp
Trang 4dùng thuốc CVKS luôn là đề tài được
nhiều người quan tâm với nhiều kết luận
khác nhau, trong đó có các ý kiến trái
ngược nhau Theo Hansen- 1997 [7] ở
các BN dùng thuốc CVKS kéo dài tỉ lệ
phát hiện trên nội soi lên tới 5 - 20%,
trong khi các biến chứng của loét biểu
hiện lâm sàng thấp hơn nhiều (0,5 - 4%
bệnh nhân/năm) Do thuốc CVKS có cả
tác dụng giảm đau nên nhiều bệnh nhân
không cảm nhận được các tnệu chứng
lâm sàng DD - TT thông thường mà
những người không dùng loại thuốc này
có thể nhận biết được
Có tới 67 trong số 79 bệnh nhân
(94,8%) trong nghiên cứu của Nguyễn
Duy Thắng - 1999 [1] có triệu chứng đau
thượng vị Tỉ lệ này, theo Nguyễn Thị
Bạch Liễu - 2001 [2] là 45,2% và 42,7%
trong nghiên cứu của chúng tôi (76/178
BN) Cảm giác đầy bụng ở nhóm bệnh
nhân nghiên cứu của Nguyễn Duy Thắng-
1999 [1] là 5, l%; nghiên cứu của chúng
tôi là 11,8% (2 l/178): Dường như các
triệu chứng lâm sàng thường rầm rộ hơn ở
các nghiên cứu dùng thuốc CVKS ngắn
ngày Số bệnh nhân dùng thuốc CVKS
trong 2 tuần chiếm 78,5% trong công
trình của Nguyễn Duy Thắng - 1999 [1] và
54,8% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị
Bạch Liễu - 2001 [2] Có thể vì vậy mà tỉ
lệ đau thượng vị trong 2 nghiên cứu này
khá cao
Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ triệu chứng
đau thượng vị cao ở nhóm BN dùng thuốc
CVKS Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
phù hợp với nghiên cứu của Cheatum và
CáC - 1999 [4] Tác giả đã chỉ ra mối
tư-ơng quan thuận giữa tỉ lệ loét DD-TT với
mức dộ nặng của triệu chứng lâm sàng
DD-TT (p = 0,007) Tác giả còn cho rằng
triệu chứng lâm sàng DD-TT đặc biệt có ý
nghĩa thổng kê trong trường hợp loét tá tràng đơn thuần (p < 0,01) [4] Tỉ lệ bệnh nhân không có biểu hiện triệu chứng trong nghiên cứu của tác giả này chỉ chiếm 18% (n= 1826) [4]
Tuy nhiên, sự biểu hiện triệu chứng lâm sàng tiêu hoá cũng được nhận định với các gía trị khác nhau Theo Caruso và Bianchi Porro- 1980 [dẫn theo 4] có tới
136 bệnh nhân đau thượng vị, trong khi các vết trợt xước chỉ có ở 2 l% số này Ngược lại, chỉ có 41% số bệnh nhân có trợt xước dạ dày phàn nàn có đau thượng
vị Như vậy có thể có các triệu chứng lâm sàng TT mà không có tổn thương
DD-TT và ngược lại Có tổn thương DD- DD-TT
mà không có triệu chứng tiêu hoá, có thể
do hiệu quả giảm đau của thuốc CVKS, triệu chứng lâm sàng DD - TT mà không
có tổn thương DD-TT, có thể do yếu tố tâm lý Mặt khác, do cơ chế tự điều chỉnh của dạ dày ở các bệnh nhân dùng thuốc CVKS, được chứng minh qua nghiên cứu của Baskin- 1976 (dẫn theo 4) mà dạ dày
có thể phục hồi tổn thương Nếu nghiên cứu nội soi vào thời điểm này thì sẽ không phát hiện được tổn thương
Về mặt lý thuyết, PG Prostaglandin
điều hoà chức năng vận động dạ dày Thuốc CVKS ức chế tổng hợp PG, nên có thể làm thay đổi thời gian lưu thức ăn tại dạ dày Kulkami và CS - 1999 [8] đã nghiên cứu mối liên quan giữa thời gian rỗng dạ dày với tổn thương DD-TT phát hiện bằng nội soi va tình trạng nhiễm HP Nghiên cứu được tiến hành ở 95 bệnh nhân mắc bệnh khớp viêm (65 người dùng thuốc CVKS kéo dài và 30 người không dùng thuốc CVKS), có so sánh với
30 người khoẻ mạnh tự nguyện làm nhóm chứng Thời gian rong dạ dày được đánh giá bằng phương pháp nhấp nháy đồ
Trang 5(scintigraphic method) Triệu chứng khó
tiêu biểu hiện ở nhóm dùng thuốc CVKS
là 52%, so với 23% ở nhóm không dùng
loại thuốc này Tổn thương nội soi DD-TT
(các vết trợt) ở 2 nhóm tương ứng là 2
l,7% so với 13,3% Thời gian rỗng dạ dày
trung bình lần lượt là 99,5 +_15,6 so với
89,0 +- 17,7 (phút) (p < 0,05) Có 52,0%
số bệnh nhân dùng thuốc CVKS có thời
gian rỗng dạ dày kéo dài, con số này là
20,0% ở nhóm không dùng thuốc CVKS
(p < 0,01) và 0% ở nhóm chứng Phép
phân tích hồi quy da biến cho phép khẳng
định chỉ có thuốc CVKS là yếu tố duy
nhất có giá trị với sự gia tăng thời gian
rỗng dạ dày [7] Nghiên cứu nói trên của
Kulkami và CS - 1999 [8] cho phép lý giải
các cảm giác đầy bụng, khó tiêu, ậm ạch
của người dùng thuốc CVKS Do vậy,
theo ý kiến của chúng tôi, các triệu chứng
lâm sàng DD - TT có giá trị nhất định, nên
lưu ý ở các bệnh nhân dùng thuốc CVKS
kéo dài để kịp thời phát hiện tổn thương
DD - TT, có các biện pháp điều trị tránh
các tai biến đáng tiếc
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng
- Rugstad - 1986 [10] đã chứng minh
rằng có mối liên quan giữa nồng độ thuốc
CVKS huyết thanh và tuổi Điều này là cơ
sở giải thích sự gia tăng tỉ lệ tổn thương
DD-TT ở các BN cao tuổi về mặt lý thuyết
Chúng tôi tìm thấy mối liên quan giữa tỉ lệ
loét DD - TT và tuổi # 60 với tỉ suất chênh
OR = 3,15 (độ tin cậy 95%: l,42 -7,07), p
< 0,01 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
phù hợp với Hansen-1997 [7]: OR = 3,5
(độ tin cậy 95%: l,8 - 7,0) với lứa tuổi 60 -
75; và là 8,8 (độ tin cậy 95%: 4,3- 18,l)
với lứa tuổi trên 75 Có khá nhiều yếu tố
liên quan đến tuổi Đây là các đối tượng
thường phải dùng nhiều loại thuốc Các
BN này cũng thường có tỉ lệ suy thận cao,
do vậy, nồng độ thuốc CVKS huyết thanh cao và kéo dài
- Trong nghiên cứu này, tương tự như kết quả của Cheatum - 1999 [4] và một
số tác giả khác, chúng tôi đã không tìm thấy mối liên quan giữa tổn thương DD-TT
và giới tính Cũng như Rodriguez - 1994 [9], chúng tôi không tìm thấy ảnh hởng của các loại bệnh khớp giai đoạn bệnh với tổn thương DD-TT
- Colin- 1997 [5] đã khẳng định rằng cách thức sử dụng thuốc CVKS là yếu tố
ảnh hưởng quan trọng Liên quan đến yếu
tố này bao gồm liều cao, thời điểm dùng thuốc so với thời điểm nghiên cứu, kết hợp 2 loại thuốc CVKS và loại thuốc CVKS, thời gian dùng thuốc CVKS càng dài, tỉ lệ loét DD-TT càng cao Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, các BN dùng thuốc CVKS liều cao có tỉ lệ tổn thương cao hơn các liều khác (p < 0,01) Nghiên cứu của Lanza và CS- 1993 Idăn theo 7~ cũng chỉ l~ l~ng tỉ lệ loét cao ở nhóm "thấp bé nhẹ cân" (tức là có liều thuốc/ngày/kg thể trọng cao) so với nhóm
có liều thuốc/ngày/kg thấp (p < 0,01)
Điều này gợi ý rằng các đối tượng già yếu, phụ nữ gầy có xu hướng bị loét DD -
TT khi dùng thuốc CVKS [7] Cheatum -
1999 [4] cũng nhận thấy tỉ lệ loét DD - TT tăng theo thời gian dùng thuốc CVKS (p < 0,05) Trong số 439 BN có loét, tỉ lệ loét
DD - TT ở BN dùng thuốc CVKS dưới l năm chỉ là 13,8% (41 người), trong khi số loét ở nhóm dùng thuốc CVKS từ 1 năm
đến 15 năm là 25,9% (398 trường hợp) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhận định trên
V KếT LUậN
Trang 61 Đặc điểm tổn thương DD - TT về
lâm sàng, nội soi ở 178 người dùng
thuốc CVKS
- Tỉ lệ các triệu chứng lâm sàng gặp từ l
l,8 - 42,7% (đau thượng vị, đầy bụng ) Các
triệu chứng này có giá trị dự báo tổn thương
- Tỉ lệ tổn thương dạ dày tá tràng nói
chung: 86,0% Tổn thương dạ dày: 80,9%
(22,5% loét); đa dạng - tá hàng: 29,2%
(22,5% loét); (p < 0,0 l so với nhóm chứng)
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổn
thương dạ dày - tá tràng:
Tổn thương dạ dày- tá tràng càng nặng
nếu BN có các yếu tố sau: Tuổi trên 60,
nghiện rượu, nghiện thuóc lá; đang dùng
thuốc CVKS, thời gian dùng thuốc CVKS
kéo dài, liều thuốc CVKS cao Không có
mối tương quan giữa tổn thương DD - TT
và các loại bệnh khớp, tỉ lệ nhiễm HP
TàI Liệu THAM KHảO
1 Nguyễn Duy Thắng, Tạ Long,
Nguyễn Quang Chung, Dương Minh
Thắng (1999) "Tổn thương niêm mạc dạ
dày lá tràng sau dùng thuốc kháng viêm
không steroid (NSAIDs)'', Nội khoa, (3),
tr 39 - 43
2 Nguyễn Thị Bạch Liễu (2001),
"Nghiên cứu đặc điểm tổn thương niêm mạc
dạ dày tá tràng sau dùng một số thuốc
chống viêm giảm đau non - steroid", Luận
văn thạc sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội
3 Thái Thị Phương Liên, Thành Thị
Thu Hà, Nguyễn Đăng Sản (2000), "Thuốc
chống viêm không Steroid, aspirin và nguy
cơ xuất huyết tiêu hóa ở người lớn tuổi", Nội
khoa - chuyên đề tiêu hóa, (1), tr 3 - 7
4 Cheatum D.E., Arvanitakis C.,
Gumpel M., Stead H., Geis G.S (1999)
"An endoscopic study of gastroduodenal
lesiơns induced by nonsteroidal anti-inflammatory dnlgs",' Clin Ther-, Jun;2 l(6) pp 992 - 1003
5 Colin R (1997), Les facteuls de
nsque de complications digestives des anti- inammatoires non stéroidiens AINS
et lube digestif, Médica-Press Intemational, pp 89 -104
6 Dixon M.F., Path F.R.C., Genta R.M., Yardley J.H., Correa P and the
Participants in the lnternational Workshop
on the Histopathology oll Gastritis Honslon (1994) "Classification and gnlding of gastritis", The updated Sydney System Am J Sulg Pathol Vol.20, (10),
pp l161- l181
7 Hansen J.M., Hallas J., Lauritsen J.M., Bytzer P (1997) "NSAID and ulcer
complications An analysis of risk factols" Ugeskr Laeger, Jun 9; 159(24), pp 3787 - 9 l
8 Kulkarni S.G., Parikh S.S., Shankhpal P.D., Desai S.A., Borges N.E., Desai S.B., Vora I.M., Kalro R.H ( 1999) "Gastric emptying of solids in
long-teml NSAID users: correlation with endoscopic findings and Helicobacter pylon status" Am J Gastroenterlo, Feb;
94 (2), pp 382 - 6
9 Rodriguez G L.A , Hershel Jick (1994) "Risk of upper gastrointestinal
bleeding and perforation associated with individual nơn-steroidal anti-innammatory drugs" Lancel;343 pp 769 - 72 l
10 Rugstad H.E., Giercksky K.E., Husby G., Holme I (1994), "Effect of
cimetidine on gastrointestinal symptoms
in patients taking nonsteroidal anti-mnammatory dnlgs A large double-blind placebo controlled studyl, Scand J Rheumatol; 23(4), pp 177 - 82
Trang 7SUMMARY
Gatro-ducodenaf injiries caused lay nonstreroidal
anti-inrflammatorydrugs
Clnical and endoscopic manifestations of gastro-duodenal in.iunes in 178 patients pated by nonsteroidal anti-inflammatory drugs (NSAID) which welc compared with 84 patients without treatment of NSAID, we concluded that: Abnomlal rate in gastro-duodenal
Endoscopy ls 86.0 % in the group treated by NSAID Gastric injured rate is 80.9 %, including 22.5% of gastric ulcer (p < 0,0 l) Duodenal injured rate is 29.2 % including 22.5% of duodenal ulcer (p < 0,0 l) Oinical features: epigastric pain late is 42.7%; abdominal distention is l1.8% - These symploms are helpful in predicting gastrointestinal injunes These lesions alc molt severe if the patient have following factors: above 60 years old; alcoholisl smosking usmg the NSAIDls for long time using hight dose of the NSAIDs There is not the relation between endoscopic anifestations, type of rheumahc disease and HP infections