1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phẫu thuật nội soi ứng dụng trong điều trị một số bệnh docx

9 488 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phẫu thuật nội soi ứng dụng trong điều trị một số bệnh
Tác giả Hà Văn Quyết
Người hướng dẫn PGS. TS. Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại - Trường Đại học Y Hà Nội, Phó giám đốc Bệnh viện Việt Đức
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 344,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phẫu thuật nội soi ứng dụng trong điều trị một số bệnh Hà Văn Quyết* Trường Đại học Y Hà Nội Tháng 3/1987, Philipp Mouret lần đầu tiên thực hiện phẫu thuật nội soi cắt túi mật.. Từ đó

Trang 1

Phẫu thuật nội soi ứng dụng trong điều trị

một số bệnh

Hà Văn Quyết*

Trường Đại học Y Hà Nội

Tháng 3/1987, Philipp Mouret lần đầu tiên thực hiện phẫu thuật nội soi cắt túi mật Từ đó dần dần hình thành phẫu thuật nội soi bụng, phẫu thuật nội soi phụ khoa, phẫu thuật nội soi tiết niệu… Từ 1993 đến nay, bệnh viện Việt Đức đã tiến hành phẫu thuật nội soi cho các trường hợp: cắt túi mật, viêm ruột thừa, cắt u tuyến thượng thận, phẫu thuật Heller… qua đó cho thấy các ưu điểm của phẫu thuật nội soi như: thời gian phẫu thuật ngắn, không đau, ít mất máu, hồi phục sau mổ nhanh, thời gian nằm viện ngắn, tỷ lệ tai biến và biến chứng thấp, tính thẩm mỹ cao… Tuy nhiên phẫu thuật nội soi (PTNS) vẫn còn có những nhược điểm cần được khắc phục như các tai biến, biến chứng do bơm hơi, khả năng xác định mức độ xâm lấn của ung thư, một số chi phí phương tiện còn cao Dù vậy, PTNS vẫn ngày càng phát triển và mở rộng chỉ định, có thể chiếm 50 - 80% các phẫu thuật

I Đặt vấn đề

Những năm gần đây trên thế giới và Việt Nam

đã phát triển mạnh mẽ một loại hình phẫu thuật

mới, đó là Phẫu thuật nội soi bụng với danh từ

tiếng Anh là: Laparoscopic Surgery và tiếng Pháp

là Chirurgie ceolioscopic Tuy rằng nội soi đã được

sử dụng 1 thế kỷ nay để chẩn đoán nhưng phải đến

1987 khi Philippe Mouret (Lyon - Pháp) thực hiện

ca phẫu thuật cắt túi mật đầu tiên dưới màn hình

thì phẫu thuật nội soi mới dần dần được công nhận

và thực sự phát triển và ứng dụng rộng rãi trong

các lĩnh vực như:

- Nội soi phẫu thuật bụng

- Nội soi phẫu thuật lồng ngực

- Nội soi phẫu thuật Tiết niệu

- Nội soi phẫu thuật xương khớp

- Nội soi phẫu thuật thần kinh

Từ đó cũng đã phân nhỏ dần các kỹ thuật theo

từng loại chuyên khoa sâu như phẫu thuật nội soi

tim mạch, phẫu thuật nội soi gan mật, tiêu hoá,thần

kinh, phụ khoa

Phẫu thuật nội soi cũng được coi như là một

hiện tượng bùng nổ trong ngành phẫu thuật hay

cao hơn là một cuộc cách mạng của phẫu thuật nội

soi (Revolution of laparoscopic surgery) [1] Nhiều

nhà phẫu thuật cho rằng đây là loại phẫu thuật can

thiệp tối thiểu (Minimally invasive Surgery) [3] ngày càng được phổ biến rộng rãi và trở thành một ngành không thể thiếu được trong phẫu thuật nói chung

Để góp phần minh chứng và cập nhật những kỹ thuật đã được ứng dụng tại Bệnh viện Việt - Đức, với những kết quả các nghiên cứu thu được của phẫu thuật nội soi, chúng tôi xin trình bày đề tài:

“Phẫu thuật nội soi ứng dụng trong điều trị một

số bệnh” với mục tiêu nghiên cứu:

- Trình bày một số loại phẫu thuật nội soi: chỉ

định và kỹ thuật

- Các kết quả của PTNS: khả năng ứng dụng và phát triển

II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng:

Các nghiên cứu được tiến hành PTNS bao gồm các phẫu thuật thường gặp, phổ biến được ứng dụng điều trị cho các bệnh nhân gồm:

* Nội soi phẫu thuật bụng:

- Cắt túi mật

- U tuyến thượng thận

* Nội soi phẫu thuật cấp cứu: viêm ruột thừa

* Nội soi lồng ngực: co thắt tâm vị, thoát vị

Trang 2

hoành

* Nội soi phụ khoa: cắt tử cung

2 Phương pháp nghiên cứu:

- Mô tả kỹ thuật, trình bày hình ảnh và băng

hình các nghiên cứu của hồi cứu và tiến cứu về một

số phẫu thuật nội soi

- Đánh giá:

• Kết quả sớm muộn:

• Thời gian phẫu thuật

• Tai biến và biến chứng

• Thời gian nằm viện

• Tỷ lệ tử vong

• Tính thẩm mỹ, hồi phục sau mổ

III Kết quả

1 Nội soi phẫu thuật bụng:

Đây là một lĩnh vực được ứng dụng nội soi

phẫu thuật nhiều nhất, phát triển mạnh mẽ nhất và

góp phần thay đổi nhanh chóng diện mạo của

ngành phẫu thuật Tiêu hoá và phụ khoa Trong các loại phẫu thuật thông dụng được sử dụng NSPT đó là: cắt túi mật, u tuyến thượng thận, tạo hình tâm vị trong co thắt

1.1 Cắt túi mật

Cắt túi mật nội soi được thực hiện ngày 23/ 9 /

1992 tại Bệnh viện Chợ Rẫy và 1993 Bệnh viện Việt - Đức cho đến nay Với hơn 1000 BN đã được nghiên cứu và đánh giá kết quả như sau:

+ Chỉ định: Các bệnh lý túi mật: sỏi túi mật, polip túi mật, viêm túi mật

+ Kỹ thuật:

- Chuẩn bị bệnh nhân: BN được xác định đầy

đủ các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như siêu âm, XN chức năng gan BN có thể vào viện trước 1 ngày, ăn nhẹ

- Các kỹ thuật thường dùng:

Thường dùng 3 trocart vùng rốn, vùng dưới ức, mạng sườn Cũng có thể dùng 4 trocart khi cần thiết ở dưới sườn phải (Hình 1)

Hình 1

Sau khi bơm hơi, thăm dò ổ bụng, xác định tình trạng thương tổn túi mật và các tạng khác

- Tiến hành cắt túi mật:

• Dùng kìm không răng nhẹ nhàng gỡ mạc nối và cặp đáy túi mật nâng lên dễ xác định ống túi mật

và cuống gan, ống mật chủ

Trang 3

• Dùng kìm móc (hook) mở lá trước ống túi mật và mở tam giác Callot bộc lộ ống túi mật vừa đốt vừa bóc Phẫu tích ống túi mật, cặp clip 2 cái phía trong và 1 phía ngoài, cắt ống mật chủ Bộc lộ rõ động mạch, cặp clip và cắt (Hình 2)

Hình 2

- Bóc và cầm máu giường túi mật, lấy túi mật

qua túi rút qua lỗ trocart

- Tai biến và biến chứng: chảy máu do đứt động

mạch túi mật, rách nhu mô gan, rò mật do rách ống

mật chủ

+ Kết quả:

- Thời gian mổ trong vòng 45 phút

- Hậu phẫu trong vòng 3 ngày

- Biến chứng sau mổ ít:

• 0,08 - 0,9% chảy máu

• 0,2 - 1,5% rò mật

- Không có vết mổ dài, sẹo, mổ nhỏ, ít nhiễm

trùng, không dùng kháng sinh

Chính những kết quả trên ở Hoa Kỳ hàng năm có

tới 500.000 cắt túi mật nội soi được tiến hành [3] ở

Việt Nam cũng tiến hành cắt túi mật nội soi thường

xuyên tại các bệnh viện trung ương và tuyến tỉnh

1.2 Cắt u tuyến thượng thận

- U tuyến thượng thận là một bệnh lý nội tiết

gây rối loạn chức năng tuyến thượng thận Chiếm phần lớn trường hợp là u nằm ở vỏ dưới dạng nang, hoặc u đặc gọi là Pheochromocytoma gây tăng huyết áp U nằm ở tuỷ gây nên Hội chứng Conn hay hội chứng Curshing gây béo phì

- Nghiên cứu kết quả 100 BN được phẫu thuật tại bệnh viện Việt - Đức cho thấy:

+ Chỉ định: U nang, Pheochromocytoma

U tuỷ trong hội chứng Curshing và Conn PTNS

là thích hợp nhất với kích thước < 10cm

+ Kỹ thuật: Phẫu thuật nội soi qua ổ bụng hay sau phúc mạc

+ Tiến hành:

- Bóc tách hạ lách hoặc góc đại tràng trái khi phẫu thuật cắt u

- Nâng gan lên cao trong phẫu thuật cắt u bên phải

Trang 4

- Cắt u sau khi cặp và cắt mạch máu

+ Kết quả:

- Thời gian mổ 77 phút, máu mất 70 ml

- Không có đường mổ lớn

- Hồi phục nhanh các chỉ số chức năng tim mạch

- Thời gian xuất viện 3 - 5 ngày

- Không có biến chứng, tử vong

Marescaux J, Mutter D [7] với 39 BN cho thấy

thời gian mổ là 145 phút, nằm viện 5 ngày

Chapuis và cộng sự cũng cho kết quả tương tự [2]

1.3 Phẫu thuật tạo hình tâm vị:

Phẫu thuật nội soi tạo hình tâm vị được thực

hiện 29 BN tại Bệnh viện Việt - Đức Đây là một

kỹ thuật nội soi phẫu thuật với trình độ chuyên

khoa sâu Kết quả nghiên cứu như sau:

+ Chỉ định:

- Co thắt tâm vị phẫu thuật Heller

- Viêm trào ngược dạ dày thực quản phẫu thuật Nissen

- Thoát vị lỗ hoành

+ Kỹ thuật:

- 5 trocart đặt ở các vị trí vùng bụng, đẩy gan lên

- Phẫu tích trên các mạc treo thành trái phải, tìm 2 cột trụ sau bóc tách lá trước thực quản (Hình 3)

- Khâu hẹp 2 cột trụ trước sau

- Tạo van hình phình vị dạ dày (Nissen) (Hình 4)

- Hoặc mở cân cơ tâm vị (Heller)

Hình 3

Trang 5

Hình 4

Kết quả:

- Thời gian tiến hành 1h30

- Không phải mở rộng vết mổ

- Hồi phục nhanh, hết nghẹn và trào ngược

- Nuốt dễ, nằm viện 5 ngày

Rajan A, Cadiere GB [8] với 434 BN cũng đã

cho kết quả tương tự

2 Phẫu thuật lồng ngực:

2.1 Thoát vị hoành:

Do chấn thương hay bệnh lý, các tạng trong ổ

bụng chườn lên lồng ngực Gây suy hô hấp hoặc

gây hoại tử các tạng

+ Chỉ định:

- Thoát vị hoành bẩm sinh

- Thoát vị hoành do chấn thương

+ Kỹ thuật:

- Đặt 5 trocart

- Kiểm tra và kéo các tạng xuống ổ bụng

- Gỡ dính mép lỗ thoát vị để các tạng dễ dàng

nằm lại vị trí

- Rửa sạch, hút hết khi phổi nở

- Khâu kín vòm hoành

+ Kết quả:

- Phẫu thuật không mổ bụng và mổ ngực

- Hồi phục nhanh 3 ngày

- Không có biến chứng dính ruột sau mổ

3.3 Phẫu thuật cấp cứu viêm ruột thừa:

Nghiên cứu 325 BN được phẫu thuật VRT cấp gồm: 156 phẫu thuật nội soi, 169 mổ mở tại khoa Phẫu thuật cấp cứu bụng và Phẫu thuật nhi bệnh viện Việt Đức của Trần Bình Giang đã có kết quả sau:

+ Chỉ định:

- Viêm ruột thừa

- Viêm ruột thừa đến muộn

- Viêm ruột thừa biến chứng áp xe, viêm phúc mạc khu trú

+ Kỹ thuật:

- 3 trocart

- Cặp cắt ruột thừa bằng dao lưỡng cực, hoặc cặp clíp cầm máu, hoặc dùng chỉ, cắt không vùi gốc ruột thừa (Hình 5 và 6)

Trang 6

Hình 5 và 6

+ Kết quả:

- Thời gian mổ 30 - 45 phút

- Hồi phục nhu động ruột sớm 24 giờ

- Không có biến chứng nhiễm trùng vết mổ

- Thời gian nằm viện 2 - 3 ngày

Các kết quả trên phù hợp với nhiều báo cáo trong nước và nước ngoài như Kum C K [6] … cho thấy phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa có nhiều

ưu điểm hơn mổ mở

Trang 7

4 Cắt tử cung:

Phẫu thuật nội soi phụ khoa được ứng dụng

trong các trường hợp như: u nang buồng trứng, u

xơ tử cung tại bệnh viện Việt Đức đã tiến hành

phẫu thuật cho gần 100 BN với kết quả sau:

+ Chỉ định:

- U xơ tử cung kích thước > 3cm

- Nằm ở nhu mô và dưới niêm mạc

- Có biến chứng, phát triển nhanh

+ Kỹ thuật:

- 3 trocart không mở bụng

- Cặp cắt 2 vòi trứng

- Cặp 2 động mạch bằng clip

- Cắt tử cung bán phần hay toàn bộ, khâu vùi

mỏm cắt hay khâu âm đạo

+ Kết quả:

- Thời gian phẫu thuật trung bình 2 giờ

- ít tai biến, biến chứng

- Nằm viện 3 - 5 ngày

- Không dùng kháng sinh

IV Bàn luận

1 Sự phát triển của nội soi phẫu thuật

Điểm lại quá trình phát triển của NSPT chúng

ta thấy rõ có 3 giai đoạn:

- Giai đoạn ứng dụng và thực nghiệm ban đầu:

Từ khi hình thành nội soi chẩn đoán ở các chuyên

khoa ngoại, sản cho đến ca phẫu thuật điều trị

dưới màn hình đầu tiên của Phillip Mouret (Pháp)

là một quãng thời gian dài gần 1 thế kỷ

- Giai đoạn ứng dụng rộng rãi: từ 1977 đến nay

phẫu thuật nội soi không chỉ để điều trị một số

bệnh thông thường như cắt túi mật, cắt ruột thừa

mà đã trở thành một phẫu thuật thông dụng trong

các cơ sở phẫu thuật, PTNS đã được tiến hành ở

hầu hết các chuyên khoa bao gồm tiêu hoá, tiết

niệu, tim mạch - lồng ngực, xương khớp và thần

kinh

- Giai đoạn phát triển công nghệ trong phẫu

thuật: Nhiều thí nghiệm và ứng dụng công nghệ

một số nước phát triển như Hoa Kỳ, Pháp, Tây

Âu Đó là các loại Robot phẫu thuật nội soi, NSPT bào thai, NSPT qua hệ thống tim mạch PTNS của Việt Nam đang ở giai đoạn 2 Nhưng dẫu sao chúng ta đã tiếp cận sớm hơn so với nhiều nước và đã dần dần phát triển ngành phẫu thuật nội soi

2 ứng dụng của nội soi phẫu thuật:

Phẫu thuật nội soi thực sự phát triển trong vòng

15 - 20 năm nay Những ứng dụng trong phẫu thuật đã và đang hoàn thiện và trở thành công nghệ phẫu thuật Cho đến thời điểm này, nhiều chuyên gia và các nhà phẫu thuật đã có những nhận xét về NSPT như sau:

2.1 Khả năng thực hiện:

Năm 1997 Steve Euban và Ph Shanrer [4] đã

đưa ra các nhận định về tất cả các nghiên cứu ứng dụng NSPT trên thế giới như sau:

- Các phẫu thuật được thừa nhận: bao gồm các loại phẫu thuật tiến hành PTNS một cách hoàn chỉnh, có nhiều ưu việt và có kết quả tốt như: cắt túi mật, cắt ruột thừa, phẫu thuật Heller, phẫu thuật Nissen, thoát vị bẹn, cắt đại tràng, …

- Các kỹ thuật có thể chấp nhận trong tương lai: cắt đại tràng do ung thư, cắt tuyến thượng thận, cắt nối ruột, cắt thực quản, cắt dạ dày, cắt trực tràng, các phẫu thuật cấp cứu…

- Các kỹ thuật chưa được chấp nhận: phẫu thuật Whipple, cắt gan lớn, nối bắc cầu tĩnh mạch chủ chậu

Tuy nhiên cho đến nay cách phân loại phẫu thuật này đã thay đổi Những phẫu thuật của tương lai bây giờ đã trở nên thông dụng Các phẫu thuật cắt gan, cắt tuỵ, cắt nối mạch đã thực hiện ở nhiều trung tâm phẫu thuật với những ưu điểm Như vậy những nhận định trên chỉ thừa nhận cho đến hôm nay ở Việt Nam

2.2 Ưu, nhược điểm và biến chứng

Nhìn chung nhiều tác giả thừa nhận NSPT có những đặc điểm như sau:

+ ưu điểm:

Trang 8

- Thời gian mổ ngắn: Như trong PTNS cắt túi

mật mà nhiều tác giả gọi là một “Big bang” của

phẫu thuật đều cho rằng thời gian mổ cắt túi mật

toàn bộ chỉ 45 phút (nhanh nhất là 12 phút và lâu

nhất là 180 phút) Duboi F, Berthelot G, Levard H

[3] cũng như các nghiên cứu ngoài nước và trong

nước thời gian trung bình chỉ 45 phút, cắt ruột thừa

trung bình 30 phút

- Đau sau mổ ít: Do không có đường mổ và chỉ

với các lỗ nhỏ qua trocart nên đau tại chỗ là chủ

yếu Đau ít không cần dùng giảm đau trong khi đó

đường mổ kinh điển thường mở rộng, kéo dài và

gây đau vài ngày, phải dùng thuốc giảm đau

- Một số phẫu thuật xử lý thương tổn ở sâu,

khó bóc tách nếu không mở rộng vết mổ như Hội

chứng Cusshing, Phẫu thuật chống trào ngược…

tiến hành phẫu thuật nội soi sẽ có nhiều thuận lợi

hơn [5,7,8]

- Không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp: do

không có vết mổ nên các hoạt động về hô hấp

không bị hạn chế Nhất là những người già và béo

Một số bệnh lý như u tuyến thượng thận, hội chứng

Cursing nếu mổ mở thì đường mổ rất rộng, ảnh

hưởng rất nhiều đến hồi phục sau mổ

- Lưu thông tiêu hoá sớm sau mổ: thông thường

24 giờ lưu thông ruột đã trở lại bình thường Có sự

lưu thông sớm nên bệnh nhân có thể ăn sớm và

chóng hồi phục Trong phẫu thuật VRT nếu phải

mổ mở, bệnh nhân phải chờ đến 48 - 72 giờ có

trung tiện mới được ăn, nếu mổ nội soi chỉ trong

vòng 24 giờ là có thể ăn được

- Không có biến chứng của vết mổ: do chỉ bằng

các lỗ nhỏ nên các biến chứng như chảy máu,

nhiễm trùng hay di chứng thoát vị thành bụng, sa

lồi thành bụng không có Điều này rất có lợi cho

người bệnh là không phải dùng kháng sinh, hạn

chế chi phí

- Tính thẩm mỹ cao: rõ ràng nội soi phẫu thuật

giải quyết được thẩm mỹ cho người bệnh, nhất là

phụ nữ như mổ bướu cổ, mổ nâng ngực, tránh được

các đường mổ bụng …

- Ngày nằm viện ngắn: thời gian nằm viện trung

bình của các cuộc mổ cắt túi mật là 3 ngày, viêm

ruột thừa 2 ngày, chi phí thuốc men, phục vụ giảm hơn mổ mở [6,9]

Với những ưu điểm trên, một số phẫu thuật nội soi đã trở thành yêu cầu hay có thể là nhu cầu điều trị của người bệnh Một loại hình bệnh khoa phẫu thuật đã hình thành như “Bệnh viện trong ngày” hay gọi là Day’s Hospital hoặc là Hôpital de Jour ở các nước Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Singapo …

+ Nhược điểm: tuy nhiên NSPT có một số

nhược điểm như:

- Phải gây mê toàn thân: để bơm hơi phải bắt buộc gây mê, dùng giãn cơ mới thực hiện được

Điều này hạn chế cho những bệnh nhân có bệnh tim mạch, chức năng hô hấp hạn chế sẽ không có chỉ định tiến hành PTNS

- Tai biến khi bơm khí carbonic: một số trường hợp do áp lực khí cao, bơm hơi kéo dài có thể có biến chứng do khí carbonic vào mô, vào mạch máu Chính vì vậy đã có những cải tiến của PTNS

là không dùng bơm hơi nữa mà dùng phương tiện nâng thành bụng bằng dụng cụ Hashimoto để có thể hạn chế tai biến và biến chứng này

- Hạn chế khi cầm máu trong trường hợp chảy máu nhiều, nhất là những phẫu thuật cắt gan, cắt lách nếu kèm theo rối loạn đông máu Đây cũng là một trong những tai biến và biến chứng khá thường gặp trong phẫu thuật nội soi Do vậy khi tiến hành PTNS, nếu tình trạng chảy máu trong mổ mà không chế ngự được, luôn luôn phải có dụng cụ

mổ mở sẵn sàng tiến hành ngay

- Không xác định sự xâm lấn ung thư một cách chính xác: như trong phẫu thuật ung thư đại tràng, trực tràng … Sự xâm lấn của khối u vào các hạch, các tạng là rất khó xác định Nhất là những trường hợp khối u đã xâm lấn xung quanh hoặc di căn xa

- Kinh phí cao trong một số phẫu thuật kéo dài, phẫu thuật nặng, nhiều kỹ thuật cần có các dụng cụ

được sử dụng trong các loại phẫu thuật nội soi như Endo - GIA thẳng và vòng… Đây là một hạn chế cho chúng ta muốn nâng cao phẫu thuật nội soi Các loại phẫu thuật càng cao, càng phức tạp lại cần rất nhiều dụng cụ mà trong nước không thể có

được và nếu mua ở các hãng thì chi phí sẽ rất cao

Trang 9

2.Chapuis Y, Maignien B, Abbouch B (1995)

Surrenalectomie sous coelioscopie experience de 25 intervention Press Med, 24.845 - 848

3 Triển vọng của PTNS

- Nội soi phẫu thuật ngày càng phát triển và mở

rộng sang mọi chuyên khoa như phẫu thuật nội soi

thần kinh, tim mạch và PTNS bào thai điều trị một

số bệnh bẩm sinh

3 Dubois F, Berthelot G, Levard H (1991)

Laparoscopic cholecystectomy: Historic perspective and personal experience Surg Laparosc.Endosc.1: 52 - 70

- Xu hướng cải tiến dụng cụ phẫu thuật càng

ngày nhỏ dần (Needle Surgery) để tăng thêm tính

thẩm mỹ 4 Đỗ Kim Sơn (1998) Những ứng dụng của

phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Việt - Đức.: Kết quả và triển vọng Ngoại khoa,33.6 - phần 2: 1 - 6

- Thay đổi một số kỹ thuật PTNS kinh điển

bằng Robot mà lần đầu tiên theo ý tưởng của Dr

Fred Moll ở Mountain View, California, USA điều

khiển phẫu thuật qua máy tính và tháng 3 - 1997

Robot phẫu thuật lần đầu tiên được Himpens J và

Cadiere GB thực hiện 2 trường hợp ở Bỉ và Pháp

5 Hà Văn Quyết, Fiction O, Meyer CH (1998) La fundoplication de Nissen en

laparoscopie pour treatement des Hernies Hiatales

et Refelux Gatro - oesophagien Tóm tắt báo cáo khoa học Ngoại khoa Việt - Pháp Đại học Y Hà Nội,89

V Kết luận

- Phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm so với các

phẫu thuật kinh điển và chỉ định cho các các bệnh lý

như túi mật, viêm ruột thừa, co thắt tâm vị, u tuyến

thượng thận, ra mồ hôi tay … Kỹ thuật tiến hành

thuận lợi, ít tai biến nhưng đòi hỏi sử dụng thành thạo

các dụng cụ và tiến hành thường xuyên

6 Kum C K and al (1993) Randomized

controlled trial comparing laparoscopic and open appendectomy Br J Surg.80,1598 - 1600

7 Marescaux J, Mutter D (2002) Surgery of

the adrenal gland European course on Laparoscopicsurgery 157 - 165

- Kết quả của PTNS được xác định qua các

nghiên cứu, tổng kết và đánh giá một số phẫu thuật

là an toàn, ít biến chứng, hồi phục nhanh, thời gian

điều trị ngắn, tính thẩm mỹ cao…

8 Rajan A, Cadiere GB (1995) Traitement

du Reflux Gastro - oesophagen pathologique Journal de coelio - chirurgir.14,June,23 - 28

9 Tôn Thất Bách, Trần Bình Giang (2003)

Phẫu thuật nội soi ổ bụng Nhà xuất bản Y học

340 - 348

Do vậy khả năng ứng dụng của PTNS càng

ngày càng mở rộng và phát triển cùng với sự vươn

lên nhanh chóng của khoa học và công nghệ

Tài liệu tham khảo

1 Cadiere GB, Himpens J, Bruyn J (1995)

Fundoplicature selon Nissen par coelioscopie

Ann chir 1995 (1);24 - 29

Summary

Laparoscopic surgery in treatment of Diseases

In Mar 1987, the first laparoscopic cholecystectomie has been perfomed by Philipp Mouret, since then abdominal laparoscopic surgery, gynaecology laparoscopic surgery, urology laparoscopic surgery and thoraroscopie take form gradually From 1993, in Viêt Đuc hospital, laparoscopic approach was applied for cholecystectomies, appendicectomies, adrenalectomies, Heller procedures… with many advatages: short operating time, minimizing post operative pain, little bleeding, quick recuperating, short hospital stay, low accidental rate, high aesthetics quality… However, laparoscpic surgery still have some disavantages to overcome: accidents of pneumoperitoneum, capacity to difine tumours invading level, expensive instruments…

Ngày đăng: 20/03/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình các nghiên cứu của hồi cứu và tiến cứu về một - Phẫu thuật nội soi ứng dụng trong điều trị một số bệnh docx
Hình c ác nghiên cứu của hồi cứu và tiến cứu về một (Trang 2)
Hình 5 và 6 - Phẫu thuật nội soi ứng dụng trong điều trị một số bệnh docx
Hình 5 và 6 (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w