1 BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 1BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt
Ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong quá trình
hội nhập quốc tế
Môn : Đại cương văn hóa Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Hồng Thúy
TS Đào Ngọc Tuấn
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Minh Ngọc
Lớp : TTQT48C1A
Mã sinh viên : TTQT48C1-1496
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU……… 2
B NỘI DUNG……… 2
I GIẢI NGHĨA THUẬT NGỮ………3
1 Giao tiếp là gì? 3
2 Văn hóa giao tiếp là gì? 4
3 Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam là gì? 4
II Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam……….6
1 Về thái độ trong giao tiếp………7
2 Về quan hệ giao tiếp………8
3 Về đối tượng giao tiếp……… 10
4 Về chủ thể giao tiếp……… 12
5 Về cách thức giao tiếp……… 14
6 Hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú……….14
III So sánh đặc trưng trong giao tiếp của người Việt Nam với các nước Đông Nam Á……… 15
1 Điểm tương đồng……… 16
2 Điểm khác biệt……… 16
IV Ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế……… 17
1 Ưu điểm……….18
2 Hạn chế……… 19
C KẾT LUẬN……….20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 21
Trang 3A MỞ ĐẦU
L Pheurbach đã từng nói : “ Con người cá thể không chứa bản chất con người
ở trong mình Bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp, trong thể thống nhất giữa con người với con người Con người để cho mình chỉ là con người theo nghĩa thông thường còn con người trong giao tiếp với đồng loại, trong sự thống nhất giữa Tôi với Anh mới chính là Thượng đế.”
Ta có thể hiểu câu nói này chính là lời khẳng định tầm quan trọng của giao tiếp trong cuộc sống muôn đời bất kể thời đại Giao tiếp là cầu nối giữa người với người và là biểu hiện tính cá nhân và cộng đồng của con người rõ nét nhất Vì vậy, kĩ năng giao tiếp đã ngày một trở nên thiết thực hơn đối với mỗi
cá nhân, đặc biệt là đối với người trẻ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trở thành công cụ quan trọng trong quá trình kết nối với thế giới xung quanh Nghệ thuật giao tiếp từ xa xưa đã trở thành một trong những bản sắc văn hóa nhân loại Bản sắc ấy lại được duy trì qua bề dày lịch sử, góp phần hình thành nên nền văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia Văn hóa giao tiếp của nước Việt Nam ta mang nhiều đặc điểm rất đỗi phong phú và sinh động - đậm đà bản sắc Châu Á chung, nhưng khi đặt lên bàn cân cụ thể với các nước trong khu vực thì lại có nhiều nét khác biệt Có thể nói, những nét đặc trưng này đã phần nào khái quát được lên đời sống và tính cách chung của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam
Từ nhận thức về tầm quan trọng của giao tiếp trong cuộc sống thường nhật và
sự choáng ngợp trước vô vàn nét đặc sắc trong văn hóa giao tiếp Việt Nam,
em mong muốn bản thân có thể khái quát được những đặc trưng cơ bản trong văn hóa giao tiếp của người Việt Việc tìm hiểu về các đặc trưng này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều về văn hóa dân tộc nói chung, từ đó có thể tìm hiểu các ưu, nhược điểm của chúng trong quá trình giao lưu và hội nhập quốc
tế, cũng như các giải pháp chung cho người trẻ tự tin tiếp bước vào nền văn minh mới trong bối cảnh đa quốc gia
Trang 4có thể có nhiều định nghĩa khác nhau, tiêu biểu như:
- Theo sách “Đại cương về văn hóa Việt Nam” của TS.Phạm Thái Việt (Chủ biên) và TS Đào Ngọc Tuấn, do NXB Văn Hóa Thông Tin ấn hành, giao tiếp được định nghĩa là “hoạt động giao lưu, tiếp xúc, chia
sẻ, trao đổi giữa con người với con người Thông qua giao tiếp, văn hóa của cá nhân và cộng đồng được biểu đạt rõ nét.”
- Theo nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E: “Giao tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin”
- Theo “Từ Điển tiếng Nga văn học hiện đại tập 8”, trang 523 của NXB Matxcơva: “Giao tiếp là sự liên hệ và đối xử lẫn nhau”
- Theo “Từ Điển Tâm lý học” của Vũ Dũng: “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có ba khía cạnh chính: giao lưu, tác động tương
hỗ và tri giác”
Như vậy, mỗi người lại có cho mình một định nghĩa riêng về thuật ngữ giao tiếp theo một khía cạnh nổi bật Nhìn chung, ta có thể hiểu giao tiếp là
Trang 5hành động trao đổi, truyền đạt thông tin, cảm xúc giữa người với người … và
có thể khẳng định giao tiếp chính là phương thức tồn tại của con người
2 Văn hóa giao tiếp là gì?
Văn hóa giao tiếp là cung cách, văn hóa trong quá trình giao tiếp của các
cá nhân với nhau, thể hiện được tính cách và con người của đối tượng trong cuộc hội thoại Ta có thể đánh giá một người có văn hóa, có tri thức hay
không qua đối ngoại trong cuộc sống hàng ngày Bởi lẽ, giao tiếp là hành động mang tính tự nhiên, phản xạ, nhưng giao tiếp có văn hóa thì không phải
về văn hóa và bản sắc dân tộc, xã hội nói chung mới trở nên thống nhất, quy
củ, nề nếp Có thể nói, văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc là góp phần làm nên bản sắc tập quán, phong tục, truyền thống của xã hội, dân tộc
đó Ở Việt Nam, văn hóa giao tiếp mang màu sắc Châu Á nói chung nhưng có những nét khác biệt rất đậm đà tính dân tộc Có thể nói, khó có quốc gia nào trên thế giới có sự cầu kì, phong phú trong giao tiếp như ở Việt Nam Dưới đây, em sẽ đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm làm nên sự phong phú ấy
3 Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam là gì?
Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam là những đặc điểm riêng biệt trong cung cách giao tiếp, cách đối nhân xử thế của người Việt so với các quốc gia khác Đặc trưng này biểu hiện ở nhiều đặc điểm giao tiếp dễ nhận thấy của người Việt Nam
II ĐẶC TRƯNG TRONG VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
1 Về thái độ giao tiếp
Giao tiếp là một cách thức để bộc lộ bản chất bên trong mỗi con người Đầu tiên, xét về khía cạnh thái độ trong giao tiếp, người Việt Nam có đặc
điểm là vừa thích giao tiếp, lại vừa rụt rè Người Việt Nam xưa nay sống phụ
Trang 6thuộc lẫn nhau, luôn quan tâm đến việc duy trì, giữ gìn các mối quan hệ với người khác trong tập thể, cộng đồng Giao tiếp tạo ra các mối quan hệ, bởi lẽ điều này chính là nguyên nhân dẫn đến việc người Việt Nam ta rất coi trọng đến việc giao tiếp cũng như văn hóa ứng xử “Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời” Điều này được thể hiện ở hai góc độ sau:
- Xét từ góc độ của chủ thể giao tiếp, người Việt Nam có tính thích thăm viếng và đồng thời cũng thích có khách đến nhà thăm mình Việc khách đến thăm nhà không chỉ đơn thuần vì lí do công việc như các nước phương Tây mà là hành động biểu hiện sự quan tâm, thăm hỏi, tình nghĩa giữa các người với người, với làng xóm, cộng đồng, nhằm làm mối quan hệ thêm khăng khít Đối với những người đã có mối quan hệ thân thiết từ trước thì việc đến thăm nhau này lại diễn ra càng thường xuyên hơn, bất kể có gặp nhau thường xuyên đến thế nào thì lúc rảnh rỗi họ vẫn dành thời gian đến thăm hỏi, trò chuyện với đối phương và gia đình của đối phương
- Xét từ góc độ đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có tính hiếu khách:
“Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không bằng đói bữa” Khi khách ghé thăm, bất kể lạ hay quen, thân sơ hay đã gần gũi, người Việt Nam luôn tiếp đón chu đáo nhất từ đưa đón đến bữa ăn Trong hầu hết các gia đình bất kể hoàn cảnh, họ có thể chấp nhận những mâm cơm giản dị thường nhật nhưng luôn phải chuẩn bị những của ngon vật
lạ để mời khách Sự nồng hậu, nhiệt tình này thể hiện được rất rõ ràng đặc điểm xởi lởi, thân thiện cũng như tính thích giao tiếp của con người Việt Nam
Tuy nhiên, cùng với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại tồn tại một đặc tính trái ngược đó là sự rụt rè Đây cũng là điều những người bạn ngoại quốc khi giao tiếp cùng hoặc quan sát người Việt Nam khi giao tiếp thường nhắc tới Nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của hai đặc tính đối lập nhau này (vừa thích giao tiếp, vừa rụt rè) là do tính cộng đồng và tính tự trị, hai tính cách cơ bản của người Việt Nam Ta có thể hiểu rằng nếu người Việt Nam đang ở trong một môi trường gần gũi, quen thuộc (cộng đồng, làng xã) thì sẽ rất thoải mái, tự tin trong việc giao tiếp Điều này là vì họ đã quen hành xử
Trang 7theo những quy tắc có sẵn trong cộng đồng đó Ngược lại, nếu họ vượt ra ngoài môi trường thân thuộc nơi tính tự trị phát huy tác dụng, có rất ít người quen biết thì họ sẽ trở nên rụt rè, lúng túng do không xác định được vị thế và thói quen giao tiếp mới, từ đó ngại ngùng, ít nói hơn Hai tính cách này tuy trái ngược nhưng chúng không hề mâu thuẫn với nhau, vả lại càng khẳng định
sự linh hoạt trong ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam
2 Về quan hệ giao tiếp
Nền văn hóa nông nghiệp điển hình đã đem lại ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa giao tiếp của người Việt, đặc biệt là ở phương diện quan hệ giao tiếp Con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội, đối nhân xử thế theo nguyên tắc trọng tình, lấy cái tình cảm, tình nghĩa ra làm quy luật trong giao tiếp Điều này đã được thể hiện từ thời ông cha trong các câu ca dao:
- “Yêu nhau yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng.”
- “Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”
- “Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.”
Về khái quát, người Việt Nam vẫn ưa chuộng nguyên lí cân bằng âm dương, tức là tình cảm - lý trí dung hòa, nhưng so với thói quen ứng xử, giao tiếp trong cộng đồng từ xa xưa, ta dễ dàng nhận ra cái tình vẫn được xem trọng
hơn cái lý Cái tình đã trở thành một đặc điểm trong cách nghĩ, cách ứng xử
của người Việt, tạo nên một nét riêng trong tính cách, thể hiện được bản sắc
văn hóa, trong đó có quan hệ giao tiếp Bởi thế, người Việt thường nói “tình nghĩa” chứ ít nói “nghĩa tình” Trong giao dịch, trong xử lí công việc, hay
đặc biệt là trong giao tiếp với người khác, chữ tình vẫn hay được đặt lên trên chữ lí Hiện tượng này ở quốc gia nào, dân tộc nào cũng có, nhưng ở Việt Nam phổ biến hơn, nặng nề hơn
Cái tình trong quan hệ giao tiếp của người Việt Nam còn thể hiện ở quan niệm :”Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” ai giúp mình một chút đều phải nhớ ơn, ai bảo ban một chút đều tôn làm thầy, khái niệm thầy vì thế
Trang 8mà được mở ra rất rộng: thầy đồ, thầy võ, thầy thuốc, thầy cúng, thầy bói, thầy địa lý, thầy phù thủy, thầy cãi, thầy rắn
Người Việt dễ giận dữ khi vi phạm chữ tình và cũng dễ tha thứ khi nhắc đến cơ sở tình nghĩa Đây là minh chứng cho sự tình cảm, vị tha, khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó và giao tiếp Đặc tính trọng tình cảm đã chỉ ra tính cách chung và nguyên tắc giao tiếp của người Việt, đó chính là tâm
lí hiếu hòa, yêu sự bình đẳng, đề cao cộng đồng Song, đặc tính này chỉ thích hợp khi tham gia một cộng đồng quan hệ xã hội nhỏ, không gây ra những hậu quả nghiêm trọng và dễ giải quyết Còn trong xã hội hiện nay, cách giao tiếp trọng tình hơn lý không còn được phổ biến như trước vì nó không thể hiện được sự khách quan, công bằng, chính trực
3 Về đối tượng giao tiếp
Đối tượng giao tiếp là người tiếp nhận những thông tin, thông điệp của đối phương (chủ thể giao tiếp) trong quá trình giao tiếp Trong quá trình giao tiếp, Người Việt Nam có thói quen tìm hiểu, quan sát, đánh giá đối tượng giao tiếp trên nhiều phương diện như tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng hôn nhân, gia đình, Người Việt Nam thường quen với những
những câu hỏi như “làm nghề gì, lương bao nhiêu tiền, có vợ hay chồng chưa,
có mấy đứa con rồi …” Đây là những thói quen hoàn toàn trái ngược với văn hóa giao tiếp của nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây Ở nhiều quốc gia, việc hỏi han các thông tin cá nhân như tuổi tác, thu nhập… với người chỉ
có mối quan hệ xã giao bị coi là bất lịch sự Điều này có thể khiến đối tượng giao tiếp khó chịu và không thoải mái, thậm chí đánh giá là tọc mạch, vô duyên, xâm phạm vào đời sống riêng tư Đặc tính này đến từ tính cộng đồng làng xã trong đời sống, và việc thường xuyên giao lưu với cộng đồng đã ăn sâu vào nếp sống và lối giao tiếp ứng xử của người Việt Nam từ ngàn đời nay Người Việt Nam cũng tự thấy mình phải có trách nhiệm quan tâm đến đối tượng giao tiếp, đặc biệt là những đối tượng mới gặp, vì vậy cần biết rõ hoàn cảnh, tình trạng của họ Thói quen quan sát đối tượng giao tiếp đã trở thành nét đặc trưng trong văn hóa giao tiếp, giúp người Việt Nam đánh giá, nhận định người đối diện để lựa cách ứng xử sao cho thuận lòng cho hai bên, bày tỏ
sự quan tâm được chân thành hơn Mặt khác, do hệ thống nhân xưng phong
Trang 9phú của nước ta yêu cầu phân biệt rõ ràng, chi li các mối quan hệ xã hội, gia đình nên phải nắm bắt thông tin đối tượng giao tiếp để lựa chọn từ xưng hô thích hợp Không dễ để lựa chọn cách gọi đối tượng giao tiếp ngay từ lần đầu gặp qua ngoại hình, vì vậy người Việt sẽ tìm hiểu thông tin tuổi tác, vai vế, quan hệ, để lựa chọn cách xưng hô phù hợp nhất, tránh gây hiểu lầm hay thất lễ Ví dụ, nếu đối tượng giao tiếp có vẻ ngoài luống tuổi hơn tuổi thật, nếu gọi sai thì sẽ gây phật lòng đối phương Trong trường hợp này, những câu hỏi như “Đã lập gia đình chưa?” sẽ trở nên cần thiết để đoán định tuổi thật đối phương, từ đó đưa ra ngôi xưng hô đúng, khiến quan hệ hai bên thoải mái, vui
vẻ hơn
Việc biết tính cách, biết người để lựa chọn đối tượng giao tiếp thích hợp của người Việt được thể hiện qua các câu thành ngữ, tục ngữ như: “Tùy mặt gửi lời, tùy người gửi của”; “Chọn mặt gửi vàng”; “Ăn chọn nơi, chơi chọn bạn” Còn khi không có cơ hội tìm hiểu, lựa chọn đối tượng giao tiếp thì người Việt dùng chiến lược thích ứng một cách linh hoạt như: “Ở bầu thì tròn,
ở ống thì dài”; “Mềm nắn, rắn buông”; “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”; “Tùy cơ ứng biến”; “Tùy mặt đặt tên”; “Lựa gió xoay chiều”
Có thể nói, cả hai điều này đều thể hiện sự cẩn trọng, không muốn làm mích lòng người khác trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam
Trang 10Song, việc quá coi trọng danh dự đã dẫn đến căn bệnh sĩ diện Phải nói thêm rằng, “sĩ diện” nghĩa đen không mang ý xấu Ghép từ hai từ hán “diện” (bộ mặt) và “sĩ” (người trí thức), “sĩ diện” vốn dĩ là “bộ mặt người có học” (xem: Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân, 1989, tr 580) Một kẻ sĩ trong truyền thống là người được tôn trọng bậc nhất trong xã hội, từ nhân cách, đạo đức, phong thái, cho tới tài năng đều vượt xa người thường Tuy nhiên thời nay, khi giá trị văn hóa bị mất đi nội hàm vốn có, từ “sĩ diện” chỉ còn được dùng dưới nghĩa tiêu cực là ra vẻ không thua kém ai để che giấu sự yếu kém của mình Bệnh sĩ đã được khắc ghi rất nhiều trong ca dao, tục ngữ:
- Đem chuông đi đấm nước người,
Không kêu cũng đấm ba hồi lấy danh
- Một quan tiền công, không bằng một đồng tiền thưởng
Việc coi trọng danh dự bắt nguồn từ cơ chế thứ bậc của làng xã, và từ quan niệm của Nho giáo về mẫu người quân tử Ở các làng quê Việt Nam, thói sĩ diện biểu hiện qua tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và tục chia phần Khi xưa, trong sinh hoạt làng xóm, người Việt phân chia thứ bậc chốn đình trung rất chi li, cụ thể qua tài sản, tuổi tác, chức phẩm, Tài sản, tuổi tác, chức phẩm cao thì được ngồi ở hàng trên, thấp hơn thì ngồi hàng dưới Người Việt thích cái danh và cần cái danh để khẳng định địa vị của mình trong cộng đồng, vì vậy nên mới có tục chia ngôi thứ như vậy Hơn nữa, khi xưa trong làng xã còn có câu “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” Không chỉ đơn giản là có miếng ăn là cái lợi, cái danh, cái sĩ diện còn xếp trên cả cái lợi
đó Người được ra đến giữa làng ngồi chiếu ăn một miếng thịt nom oai vệ, vị thế cao hơn hẳn kẻ đứng bếp với cả mâm cỗ đầy Từ xa xưa, người Việt Nam
đã coi trọng cái tiếng như vậy
Theo các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu văn hóa, cộng đồng nào cũng đều có tính sĩ diện dù ít hay nhiều Vì vốn dĩ sĩ diện là cần thiết để thể hiện phẩm chất, tư cách đàng hoàng, đạo mạo, chân chính Tuy nhiên, vì người Việt có tâm lý tiểu nông người Việt do hàng nghìn năm sống dưới cộng đồng làng xã nông thôn, tính sĩ diện của một bộ phận người lại trở nên cực đoan đến vô duyên, phản cảm Bệnh sĩ bào mòn nội tâm, nhân cách của con người, khiến xã hội ngày một suy thoái, buộc người ta phải sống và hành
Trang 11động khác mình, nhiều khi giả dối với chính mình Thói sĩ diện xuất hiện từ những câu chuyện dân gian và vẫn còn tồn tại ở một số bộ phận cho đến tận ngày nay
Việc coi trọng danh dự, coi trọng sĩ diện dẫn đến cơ chế tin đồn, dần dần tạo nên “dư luận” Người Việt Nam rất sợ dư luận: “Người ta chỉ dám lựa theo dư luận mà sống chứ ai dám dẫm lên dư luận mà đi theo ý mình” “Ở đời này người ta chỉ sẵn sàng chết đói, chết rét, chết bom, chết đạn để che chở, nuôi nấng cho con mình tai qua nạn khỏi, con mình được sung sướng, được vinh hoa chứ không ai chịu tai tiếng, chịu sỉ nhục để con mình được tự do theo ý nó” (theo “Thời xa vắng” - Lê Lựu) Đặc biệt, thời điểm mạng xã hội phát triển như hiện nay, dư luận xã hội ngày càng có sức mạnh định hướng hơn
5 Về cách thức giao tiếp
5.1 Khái niệm / Phân loại
Ta có thể hiểu cách thức giao tiếp là phương thức giao tiếp giữa con người với con người, cách truyền đạt và trao đổi thông tin, suy nghĩ, tâm lý của bản thân với người đối diện thông qua các hình thái ngôn ngữ, cử chỉ, hành động, biểu cảm, tâm lý…
Cách thức giao tiếp có thể chia thành ba loại:
- Giao tiếp truyền thống là giao tiếp giữa các mối quan hệ người với người trong quá trình phát triển xã hội (điển hình là các loại giao tiếp quan hệ họ hàng trong gia đình)
- Giao tiếp chức năng là giao tiếp theo chuyên hoá trong xã hội, ngôn ngữ,…bao gồm những quy tắc, thông lệ chung trong xã hội ta phải tuân thủ khi giao tiếp (chánh án - bị cáo, sếp - nhân viên…)
- Giao tiếp tự do là giao tiếp không có quy tắc và quy định trước như khuôn mẫu, phát triển tự do theo quá trình tiếp xúc của từng mối quan
hệ
Xét về hình thức, tính chất, giao tiếp được chia ra làm bốn loại dựa trên các khía cạnh: