Đặt vấn đề: Nghiên cứu này nhằm so sánh hiệu lực của xét nghiệm tế bào cổ tử cung quy ước với DNA-image-cytometry DNA-ICM trong việc dự báo khả năng tiến triển của thương tổn tế bào lát
Trang 1Chẩn Đoán Các THƯƠNG Tổn Biểu MÔ Cổ Tử CUNG
Tiến Triển Bằng DNA-IMAGE-CYTOMETRY
Nguyễn Vũ Quốc Huy (1) ;
Alfred Boecking (2)
(1)
Bộ môn & Khoa Phụ Sản, Trường Đại học Y khoa Huế và Bệnh viện Trung ương Huế, 6 Ngô Quyền, Huế, Việt nam
(2)
Institute of Cytopathology, Heinrich-Heine University Duesseldorf, Moorenstrasse 5, 40225 Duesseldorf, Germany
1 Đặt vấn đề: Nghiên cứu này nhằm so sánh hiệu lực của xét nghiệm tế bào cổ tử
cung quy ước với DNA-image-cytometry (DNA-ICM) trong việc dự báo khả năng tiến triển của thương tổn tế bào lát bất điển hình (atypical squamous cells - ASC), thương tổn trong liên bào lát mức độ thấp (low-grade squamous intraepithelial lesion - LSIL) và
tế bào tuyến bất điển hình (atypical glandular cells - AGC)
2 Đối tượng và phương pháp: Có 196 phụ nữ với phiến đồ cổ tử cung được xếp
loại ASC, LSIL hoặc AGC đã được đưa vào một nghiên cứu tiến cứu thuần tập Các tiêu bản được phân loại theo Danh pháp Bethesda 2001 DNA-ICM được tiến hành tuân theo các yêu cầu về kỹ thuật của Hiệp hội bệnh học tế bào phân tích Châu Âu (European Society of Analytical Cellular Pathology - ESACP)
3 Kết quả: Trong số 196 đối tượng, có 108 đối tượng đã được khảo sát mô học hoặc
tế bào học đủ tiêu chuẩn tham chiếu Tỷ lệ lệch bội ADN (DNA-aneuploidy) của các phiến đồ cổ tử cung gia tăng một cách đáng kể từ nhóm CIN 1 (54%) và CIN 2 (64,3%) cho đến CIN 3 hoặc cao hơn (83,3%) trong các mẫu sinh thiết (p < 0,05) Sử dụng ASC/LSIL/AGC như là tiêu chuẩn tế bào học ở đầu vào và CIN2 hoặc cao hơn như là tiêu chuẩn mô học ở đầu ra, giá trị dự báo dương tính (positive predictive value - PPV) của tế bào học quy ước và DNA-ICM tương ứng là 35,2% và 65,9% (p < 0,001) Giá trị
dự báo âm tính (negative predictive value - NPV) của DNA-ICM là 85,0% Nếu dùng CIN3 hoặc cao hơn như là tiêu chuẩn mô học ở đầu ra, tế bào học quy ước có PPV là 22,2% PPV và NPV của DNA-ICM tương ứng là 43,9% và 93,3%
4 Kết luận: Nghiên này chỉ ra rằng DNA-ICM thực hiện trên phiến đồ cổ tử cung
được chẩn đoán ASC, LSIL hoặc AGC đã làm tăng một cách đáng kể độ chính xác chẩn đoán của tế bào học quy ước, đồng thời khẳng định giá trị tiên lượng của DNA-ICM trong việc xác định các tổn thương tiến triển trong nhóm các chẩn đoán ASC, LSIL và AGC
I Đặt Vấn Đề
Loạn sản cổ tử cung là các thương tổn
không đồng nhất, đặc biệt trong khả năng
tiến triển hay thoái triển của nó Khảo sát
mô học hay tế bào học không thể dự báo
được sự tiến triển của tế bào loạn sản
thành ung thư trong từng trường hợp cụ
thể Có khoảng 15 - 30% các phụ nữ với thương tổn trong liên bào mức độ thấp (low-grade squamous intraepithelial lesion - LSIL) trên phiến đồ cổ tử cung sẽ biểu hiện tân sinh trong liên bào cổ tử cung (cervical intraepithelial neoplasia - CIN) mức độ trung bình hoặc nặng khi được
Trang 2sinh thiết 1,6,8 Như vậy trong chương trình
tầm soát ung thư cổ tử cung, một lượng lớn
các thủ thuật trong theo dõi, đặc biệt là
khoét chóp cổ tử cung đã được tiến hành
mà không có bằng chứng của thương tổn
CIN 2, 3 hoặc ung thư xâm lấn
Lệch bội ADN (DNA-aneuploidy) được
đo bằng phương pháp
DNA-image-cytometry (DNA-ICM) là giá trị định lượng
tương đương của lệch bội nhiễm sắc thể
và được chấp nhận trên bình diện quốc tế
như một dấu chỉ điểm của sự chuyển
dạng ác tính tế bào 1,2,3,5,7
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng nó có thể chỉ ra
thương tổn ung thư xâm lấn cũng như các
loạn sản cổ tử cung mà về sau chuyển
thành ung thư xâm lấn Ngoài ra, hiện
nay đang ngày càng có nhiều bằng
chứng sinh học về việc lệch bội có thể
đóng một vai trò như là nguyên nhân
trong bệnh sinh ung thư Nhóm công tác
số 8 tại Hội nghị thế giới Phòng chống
ung thư cổ tử cung đã khuyến cáo sử
dụng DNA-ICM như một phương pháp hỗ
trợ hữu ích để xác định các thương tổn
trong liên bào cổ tử cung đòi hỏi phải
được xử trí trên lâm sàng 3
Theo các tìm kiếm mới nhất của chúng
tôi, tất cả các nghiên cứu về DNA-ICM
trên loạn sản cổ tử cung đều thuộc loại
hồi cứu Do vậy nghiên cứu này được
thực hiện với các mục tiêu:
- Khảo sát đặc điểm đẳng bội và/hoặc
lệch bội ADN của các thương tổn biểu mô
cổ tử cung bao gồm tế bào lát bất điển
hình (atypical squamous cells - ASC),
thương tổn trong liên bào lát mức độ thấp
(low-grade squamous intraepithelial
lesion - LSIL) và tế bào tuyến bất điển
hình (atypical glandular cells - AGC)
bằng phương pháp DNA-ICM
- Khảo sát giá trị của DNA-ICM trong chẩn đoán các thương tổn biểu mô lát cổ
tử cung tiến triển
II Đối Tượng Và PHƯƠNG Pháp NGHIÊN Cứu
1 Bệnh nhân và bệnh phẩm
Có 274 phiến đồ cổ tử cung được phân loại ASC, LSIL hoặc AGC trong khoảng thời gian 12.1997 - 11.2003 tại Viện Tế bào bệnh học, Đại học Duesseldorf, Đức, trong số đó 78 trường hợp không được xét nghiệm DNA-ICM Số 196 phiến đồ được
đưa vào nghiên cứu này bao gồm 35 ASC; 130 LSIL và 31 AGC Có 24 bệnh nhân được xét nghiệm tế bào học/DNA-ICM lần thứ 2 Đối với các trường hợp này chỉ kết quả các biểu đồ ADN của lần đo
đầu mới được đưa vào nghiên cứu Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 39 tuổi (16 - 78 tuổi)
2 Xử lý và đánh giá mẫu nghiệm
Bệnh phẩm được lấy từ cổ tử cung, cố
định bằng cồn và nhuộm Papanicolaou Danh pháp Bethesda 2001 được sử dụng
để phân loại tế bào học 10
Các tiêu bản
được đọc trước khi có Danh pháp Bethesda 2001 được đánh giá lại khi tổng hợp dữ liệu cuối cùng Ngay sau đánh giá hình thái, các tiêu bản được khử nhuộm
và nhuộm lại theo phương pháp Feulgen Trước tiên phiến đồ được ngâm vào xylol
để gỡ bỏ lá kính Nhuộm Feulgen được thực hiện tự động bằng máy nhuộm Varistain 24-4 (Shandon, Pittsburgh, Pennsylvania, USA) như đã được mô tả bởi Chatelain và cộng sự 2
Phản ứng thuỷ phân diễn ra trong một hộp chứa có thể điều khiển nhiệt độ được làm từ vật
Trang 3liệu bền với acid Nhiệt độ của hộp này
được giữ ổn định ở mức 27,0o
C Sau khi tái hydrat hoá trong cồn ethanol với nồng
độ giảm dần và tái cố định trong formol
10% có đệm, thuỷ phân bằng HCl 5N
được tiến hành ở 27,0o
C trong 60 phút, tiếp sau đó là nhuộm Schiff (Merck,
Darmstadt, Germany, No 1.09033.0500)
cũng trong 60 phút ở nhiệt độ phòng, cuối
cùng là rửa trong dung dịch SO2 và tái
hydrat hoá trong cồn ethanol với nồng độ
tăng dần Dung dịch sulfur được chuẩn bị
ngay tức thì bằng cách cho 5g Na hoặc K
metabisulfite và 50ml HCl 1N vào nước
cất cho đến khi đạt được 1000 ml Lá kính
được gắn lên phiến kính bằng keo
Entellan (Merck, Darmstadt, Germany,
No 1.07961.0500) Phiến kính sau khi
nhuộm và phủ lá kính sẽ được giữ trong
bóng tối cho đến khi đo ADN Đo lường
gián tiếp hàm lượng ADN trong nhân tế
bào được tiến hành bằng cách sử dụng
một hệ thống ghi và xử lý hình ảnh, bao
gồm một kính hiển vi Zeiss Axioplan 2 và
một video-camera CCD
Phần mềm xử lý hình ảnh được dùng
là AutoCyte QUIC-DNA-Workstation
(AutoCyte Inc., Burlington, N.C., USA)
Trong mỗi trường hợp ADN nhân tế bào
của 30 tế bào lát trung gian bình thường
sẽ được đo và sử dụng với tư cách trị số
tham chiếu nội tại Hệ số biến thiên của
các giá trị tham chiếu luôn dưới 5% Có ít
nhất 200 nhân tế bào biểu mô bất thường
đã được đo ADN một cách ngẫu nhiên
Tất cả các phương tiện, quy trình kỹ thuật
đều tuân thủ các yêu cầu của Hiệp hội
bệnh học tế bào phân tích Châu Âu
(European Society for Analytical Cellular
Pathology - ESACP) 4
3 Theo dõi
Các thông tin theo dõi được thu thập bằng cách liên lạc với thầy thuốc gia đình của các bệnh nhân Tiêu chuẩn tham chiếu để kết luận là mô học, được phân loại dựa theo hệ thống CIN Theo các chuẩn mực của Hội Ung thư Hoa kỳ (American Cancer Society), so sánh kết quả với theo dõi tế bào học cũng có thể
được chấp nhận với trong một số tình huống nhất định 10
Chúng tôi xem theo dõi tế bào học sau ít nhất 6 tháng cũng
có giá trị tương đương với tiêu chuẩn tham chiếu, nếu trong 2 phiến đồ liên tiếp không có tình trạng thoái triển hoặc tiến triển của bệnh Việc thu thập cuối cùng các dữ liệu theo dõi tế bào học và mô học
được tiến hành vào tháng 12 - 2003
4 Phân tích thống kê
Giá trị chẩn đoán của các nhóm tế bào học và DNA-ICM trong mẫu nghiên cứu
được đánh giá bằng cách tính tần suất và các giá trị dự báo Các khác biệt trong tỷ
lệ được so sánh bằng test X2
và test X2
McNemar với mức có ý nghĩa là p < 0,05
III Kết Quả
1 Mô tả mẫu nghiên cứu
Trong số 196 bệnh nhân, 89 bệnh nhân đã có tiền sử bệnh lý cổ tử cung -
âm đạo trước khi được xét nghiệm phiến
đồ cổ tử cung lần này và được đưa vào nghiên cứu Có 108 trường hợp có đầy đủ tiêu chuẩn tham chiếu: 8 sinh thiết, 49 khoét chóp cổ tử cung, 2 nạo ống cổ tử cung và 50 theo dõi tế bào học trong ít nhất 6 tháng với ít nhất hai kết quả như nhau
Trung vị khoảng cách giữa lần xét nghiệm tế bào học / DNA-ICM và lần
Trang 4khảo sát mô học là 3 tháng (tối thiểu: 1
tháng, tối đa 30 tháng) Các trường hợp
sử dụng theo dõi tế bào học làm tham
chiếu chuẩn có trung vị thời gian theo dõi
lên đến 25 tháng (tối thiểu 6 tháng, tối đa
66 tháng)
2 Tần suất lệch bội ADN
Tần suất lệch bội chung của nhóm
nghiên cứu thuần tập bao gồm 196
trường hợp ASC, LSIL hay AGC là 31,6%
(Bảng 1) Tần suất lệch bội thay đổi theo
các nhóm tế bào học và tương ứng với mức độ thương tổn về mô học (phân loại CIN), tuy vậy xu hướng này không đạt
được ý nghĩa thống kê (X2
< 1,55, p > 0,11) Tỷ lệ lệch bội đường phân bố cao nhất được quan sát thấy trong nhóm AGC (X2
> 3,73; p < 0,05) Nếu tính chung thì lệch bội tế bào là loại thường gặp nhất, chiếm đến 85,5% tất cả các trường hợp
có biểu đồ phân bố ADN bất thường (Bảng 2)
Bảng 1 Lệch bội AND theo các nhóm tế bào học khác nhau
Tế bào
học N Lệch bội tế bào
(%)
Lệch bội
đường phân bố (%)
Lệch bội tế bào và
đường phân bố (%)
Tổng
> CIN2 (%)
> CIN3 (%)
ASC 35 7 (20,0) 1 (2,9) 1 (2,9) 7 (20,0) 7 1 (14,3) 1 (14,3)
LSIL 130 39 (30,0) 11 (8,5) 7 (5,4) 43 (33,1) 84 29 (34,5) 17 (20,2)
AGC 31 7 (22,6) 7 (22,6) 2 (6,5) 12 (38,7) 17 8 (47,1) 6 (35,3)
Nhận xét:
PPV: giá trị dự báo dương tính (positive predictive value); NRS: số trường hợp có khảo sát mô học Lệch bội tế bào: Single cell-aneuploidy, Lệch bội đường phân bố: Stemline-aneuploidy
Bảng 2 Giá trị dự báo dương tính và âm tính của DNA-ICM
Đầu ra
Lệch bội đường phân bổ 19 19/62 (30,7%) 13 92,3% 76,3% Lệch bội tế bào và
Trang 5Nhận xét:
NRS: số trường hợp có khảo sát mô
học, PPV: giá trị dự báo dương tính
(positive predictive value); NPV: giá trị
dự báo âm tính (negative predictive
value)
3.3 Kết quả theo dõi tế bào học/mô
học và tình trạng lệch bội ADN
Tỷ lệ ASC/LSIL và AGC chuyển thành
CIN 3 hoặc ung thư xâm lấn cổ tử cung
một cách tương ứng là 19,8% (18/91) và
35,3% (6/17) (Bảng 1) Xét nghiệm mô
học được sử dụng như tiêu chuẩn vàng
trong tất cả các trường hợp tiến triển Sự phát hiện lệch bội ADN là nguyên nhân
đưa đến chỉ định xét nghiệm mô học trong ngay cả một số trường hợp ASC/LSIL Bảng 3 mô tả mối liên quan giữa chẩn đoán mô học với kết quả DNA-ICM thực hiện trên phiến đồ đầu vào Tần suất lệch bội ADN gia tăng từ 54% trong nhóm CIN 1 đến 64,3% trong nhóm CIN
2 và đến 83,3% ở nhóm CIN 3 hoặc cao hơn (CIN 1,2 so sánh với CIN 3+, X2
= 3,71; p < 0,05) Phối hợp lệch bội tế bào
và lệch bội đường phân bố chỉ được tìm thấy trong nhóm CIN3
Bảng 3 Tần suất của lệch bội ADN đối chiếu với kết quả theo dõi mô học
bào (%)
Lệch đường phân bố (%)
Lệch bội tế bào & đường phân bố (%)
Tổng số lệch bội (%)
CIN3 23 13 (56,5) 10 (54,2) 6 (26,9) 19 (82,6)
Nhận xét:
WNL: trong giới hạn bình thường
(within normal limits)
3.4 Độ chính xác của chẩn đoán tế
bào học và DNA-ICM
Độ chính xác chẩn đoán của tế bào
học và DNA-ICM đã được tính toán bằng
cách so sánh kết quả tế bào
học/DNA-ICM ban đầu và kết quả theo dõi bằng tế
bào học và/hoặc mô học (Bảng 1 và 2)
Sử dụng CIN 2 hoặc cao hơn (CIN2+) làm
tiêu chuẩn mô học đầu ra, giá trị dự báo
dương tính của chẩn đoán tế bào học quy
ước và DNA-ICM lần lượt là 35,2% và 65,9% Nếu dùng CIN3+ làm tiêu chuẩn mô học đầu ra, giá trị dự báo dương tính tương ứng là 22,2% đối với chẩn đoán tế bào học và 43,9% đối với DNA-ICM Sự cải thiện PPV đạt được nhờ DNA-ICM trong tất cả các nhóm đều có ý nghĩa thống kê (X2
Cũng như PPV, giá trị dự báo âm tính (negative predictive value - NPV) của DNA-ICM cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn
đầu ra (Bảng 2)
Trang 6IV bàn luận
Đây là một nghiên cứu tiến cứu thuần
tập được thiết kế trong bối cảnh hoạt
động thường quy, vì vậy có giá trị phản
ánh kết quả hoạt động trong bối cảnh đó
chứ không phải trong điều kiện nghiên
cứu “lý tưởng” Nghiên cứu này cho thấy
rằng DNA-ICM thực hiện trên phiến đồ cổ
tử cung được xếp loại ASC, LSIL hoặc
AGC đã cải thiện đáng kể độ chính xác
của chẩn đoán bằng tế bào học quy ước
Sử dụng CIN 2 hoặc cao hơn (CIN2+) làm
tiêu chuẩn mô học đầu ra, giá trị dự báo
dương tính của chẩn đoán tế bào học quy
ước và DNA-ICM lần lượt là 35,2% và
65,9% (p < 0,001) Bên cạnh đó
DNA-ICM đã đạt được giá trị NPV lên đến 85%
Theo thông tin chúng tôi thu thập được,
đây là nghiên cứu thuần tập tiến cứu đầu
tiên về độ chính xác chẩn đoán của
DNA-ICM trong tế bào học cổ tử cung
Các giá trị dự báo phụ thuộc rất lớn
vào định nghĩa các tiêu chuẩn đầu vào và
đầu ra Các tiêu chuẩn đầu vào thường
dùng là các nhóm tế bào học ASC+ hoặc
LSIL+, tiêu chuẩn đầu ra là chẩn đoán
mô học CIN2+, CIN3+ hoặc HSIL+ 6,8
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ASC và
LSIL có các PPV từ 14,3 đến 34,5%, phù
hợp với các nghiên cứu trước đây trong
đó cũng sử dụng các tiêu chuẩn đầu vào
và đầu ra như trên 6,8
Một yếu tố quan trọng cần xem xét đến là khoảng thời
gian giữa thời điểm làm phiến đồ và xét
nghiệm mô học Một thương tổn loạn sản
nhẹ hoặc trung bình có thể cần đến từ
nhiều tháng cho đến 10 năm để phát triển
thành ung thư xâm lấn 7 Vì vậy kết quả
xét nghiệm mô học được lấy gần sát với
thời điểm làm tế bào học có thể chưa đủ
để đánh giá giá trị dự báo của xét nghiệm
tế bào học cũng như các phương pháp bổ trợ khác
Lỗi khi lấy bệnh phẩm vẫn còn là một trong những nguyên nhân chính của sự bất đồng giữa kết quả tế bào học và mô học Các thương tổn nhỏ và nhẹ nhàng chỉ có thể được lấy dưới quan sát bằng máy soi cổ tử cung Các thương tổn trong liên bào lát mức độ thấp có thể nằm ở ngoại vi của thương tổn trong liên bào lát mức độ cao hoặc thậm chí ung thư xâm lấn 3
Như vậy lấy bệnh phẩm không đại diện cũng có thể giải thích phần nào cho
lý do bất đồng kết quả tế bào học/DNA-ICM với mô học trong nghiên cứu này Trước năm 1995, các kết quả DNA-ICM và cách diễn giải chúng phụ thuộc rất nhiều vào quy trình tiến hành và thuật toán chẩn đoán Điều này làm cho việc diễn giải kết quả các nghiên cứu về DNA-ICM trước đây trên loạn sản cổ tử cung rất khó khăn Kể từ 1995, các quy trình và thuật toán chẩn đoán DNA-ICM đã được chuẩn hoá thông qua các Chuẩn mực của Hiệp hội Bệnh học tế bào phân tích châu
Âu (European Society of Analytical Cellular Pathology - ESACP) 4 Gần đây, Nguyễn và cộng sự đã báo cáo về độ tương hợp giữa các người đo khác nhau khi khảo sát dị bội ADN trên phiến đồ cổ
tử cung lên đến 94% 9
Độ tương hợp này cao hơn khoảng 20% so với độ tương hợp giữa nhiều người đánh giá khác nhau khi phân loại tế bào học hoặc mô học mà chỉ
đơn thuần dựa trên hình thái học 6,8
Như vậy DNA-ICM được chuẩn hoá là một phương pháp khách quan và có độ khả lặp chẩn đoán cao
Không một lệch bội nào được tìm thấy
Trang 7trong 4 trường hợp CIN3 đã được khẳng
định bằng mô học Trong các trường hợp
này, trung vị khoảng thời gian theo dõi
giữa DNA-ICM và khoét chóp cổ tử cung
là 15 tháng (ít nhất 8, nhiều nhất 23
tháng) có nghĩa là dài hơn đáng kể so với
các trường hợp lấy mô học làm tiêu chuẩn
tham chiếu Hai trong 4 trường hợp này
cho thấy có lệch bội trong phiến đồ được
làm sát ngay trước khoét chóp Có hai
trường hợp có lệch bội tế bào nhưng
không phát hiện được thương tổn loạn
sản: 1 trường hợp ASC được chẩn đoán
là viêm cổ tử cung nang lympho (follicular
cervicitis) trên mô học Theo dõi tế bào
học sau đó một lần nữa cho kết quả ASC
nhưng đến 14 tháng sau thì kết quả trở về
âm tính (không có bất thường tế bào biểu
mô) Trong trường hợp thứ hai, lệch bội tế
bào đã được chẩn đoán chỉ sau khi phát
hiện một tế bào với hàm lượng ADN 9,2c
Có 4 trong số 7 trường hợp đã được xạ trị
(vì lý do khác với bệnh lý cổ tử cung)
trước khi được đưa vào nghiên cứu đã có
biểu đồ phân bố đa bội với lệch bội tế bào
(tối đa 28c) Tất cả 7 trường hợp này đều
được xếp loại là đẳng bội bởi vì không
phát hiện một lệch bội đường phân bố
nào Có 5 trường hợp không tiến triển, hai
trường hợp còn lại không có tiêu chuẩn
tham chiếu
Lệch bội ADN đường phân bố chủ yếu
phản ánh sự phát triển của một dòng tế
bào với bộ nhiễm sắc thể bất thường
tương đối đồng nhất, ngược lại lệch bội tế
bào lại đặc trưng cho một số tế bào bất
thường với các bộ nhiễm sắc thể rất khác
nhau, có số lượng lớn các nhiễm sắc thể
và hiếm khi có hiện tượng tăng sinh 1,2
Như vậy sự phát hiện lệch bội tế bào trên
phiến đồ cổ tử cung chỉ xác nhận một
hiện tượng chuyển dạng tế bào ác tính hơn là chỉ ra đặc điểm tế bào của một khối u đang phát triển Điều này có thể giải thích cho giá trị dự báo dương tính rất cao của lệch bội đường phân bố so với lệch bội tế bào (92,3% so với 61,8% đối với CIN2+) Khi phối hợp cả hai loại lệch bội ta đạt được giá trị PPV cao nhất (100% đối với CIN2+) Do chẩn đoán tế bào học ban đầu của tất cả các phiến đồ
được đưa vào nghiên cứu tối thiểu là ASC/AGC, chúng tôi không thể tính các NPV của các chẩn đoán tế bào cũng như
độ nhạy và độ đặc hiệu của cả hai chẩn
đoán tế bào và DNA-ICM
V Kết luận
Qua nghiên cứu 196 trường hợp ASC, LSIL và AGC bằng DNA-ICM, có đối chiếu với các kết quả tế bào học và mô học tham chiếu, chúng tôi có các kết luận sau:
- Tần suất lệch bội chung của nhóm nghiên cứu là 31,6%, tần suất này thay
đổi theo các nhóm tế bào học và tương ứng với mức độ thương tổn về mô học (phân loại CIN) nhưng xu hướng gia tăng này chưa có ý nghĩa thống kê (X2
< 1,55;
p > 0,11) Lệch bội tế bào là loại thường gặp nhất, chiếm 85,5% các trường hợp có biểu đồ phân bố ADN bất thường
- Với tiêu chuẩn mô học đầu ra là CIN2+, DNA-ICM giúp cải thiện PPV của chẩn đoán tế bào học quy ước lên 1,88 lần (65,9% so với 35,2%) Nếu dùng CIN3+ làm tiêu chuẩn mô học đầu ra, DNA-ICM giúp cải thiện PPV của chẩn đoán tế bào học quy ước lên 1,98 lần (43,9% so với 22,2%) Trong tất cả các nhóm tế bào học, DNA-ICM đã cải thiện một cách đáng kể PPV (X2
ghép cặp ≥ 29,4; p < 0,001)
Trang 8Tµi LiÖu THAM Kh¶o
1 Boecking A, Hilgarth M,
Auffermann W, Hack-Werdier C,
Fischer-Becker D, Kalkreuth von G
DNA-cytometric diagnosis of prospective
malignancy in borderline lesions of the
uterine cervix Acta Cytol
1986;30:608-615
2 Chatelain R, Schmunck T,
Schindler EM, Schindler AE, Boecking
A Diagnosis of prospective malignancy
in koilocytic dysplasia of the cervix with
DNA cytometry J Reprod Med
1989;34:505-510
3 Hanselaar AGJM, Boecking A,
Gundlach H, et al Summary Statement
on Quantitative Cytochemistry (DNA and
Molecular Biology): Task Force 8 Acta
Cytol 2001;45:499-501
4 Haroske G, Baak JPA, Danielsen
H, et al Fourth Updated ESACP
Consensus Report on diagnostic DNA
image cytometry Anal Cell Pathol
2001;23:89-95
5 Hering B, Horn LC, Nenning H,
Kuhndel K Predictive value of DNA
cytometry in CIN1 and 6 Image analysis
of 193 cases Anal Quant Cytol Histol
2000;22:333-337
7 Jones BA, Novis DA Cervical
biopsy-cytology correlation: a College of American Pathologists Q-Probes study of
22439 correlations in 348 laboratories
Arch Pathol Lab Med 1996;120:523-531
8 Kashyap V, Das DK, Luthra UK
Microphotometric nuclear DNA analysis
in cervical dysplasia of the uterine cervix: its relation to the progression to malignancy and regression to normalcy
Neoplasma 1990;37:487-500
9 Lonky NM, Sadeghi M, Tsadik
GW, Petitti D The clinical significance of
the poor correlation of cervical dysplasia and cervical malignancy with referral
cytologic results Am J Obstet Gynecol
1999;181:560-566
10 Nguyen VQH, Grote HJ, Pomjanski N, Boecking A Interobserver
variability of DNA-image-cytometry in
ASCUS+ cervical cytology Cell Oncol
2004; 26(3):143-50
11 Solomon D, Davey D, Kurman R,
et al The 2001 Bethesda System
Terminology for reporting results of
cervical cytology JAMA
2002;287:2114-2119
Summary
IDENTIFICATION OF PROGRESSIVE CERVICAL EPITHELIAL CELL
ABNORMALITIES USING DNA-IMAGE-CYTOMETRY
1 Introduction: This study aims to compare capabilities of conventional cervical
cytology and of DNA-image-cytometry (DNA-ICM) for the prediction of progressive or regressive behavior of atypical squamous cells (ASC), low-grade squamous intraepithelial lesions (LSIL), and atypical glandular cells (AGC)
2 Materials & methods: One hundred ninety-six women with Papanicolaou (Pap)
smears diagnosed as ASC, LSIL or AGC were included into a prospective cohort study Slides were classified according to the Bethesda System 2001 DNA-ICM was
Trang 9performed according to the consensus reports of the European Society of Analytical Cellular Pathology (ESACP)
3 Results: Reference standard verification was available in 108 patients The rate
of DNA-aneuploidy in Pap smears increased significantly from cervical intraepithelial neoplasia (CIN) 1 (54%) and CIN2 (64.3%) to CIN3 or above (83.3%) in subsequent biopsies (p<0.05) Using ASC/LSIL/AGC as input cytological and CIN2 or above as output histological diagnosis, positive predictive value (PPV) of conventional cytology and DNA-ICM was 35.2% and 65.9%, respectively (p<0.001) Negative predictive value (NPV) of DNA-ICM was 85.0% Using CIN3 or above as output histological diagnosis, conventional cytology showed a PPV of 22.2% PPV and NPV of DNA-ICM were 43.9% and 93.3%, respectively
4 Conclusions: This study showed the ability of DNA-ICM performed on Pap
smears classified as ASC, LSIL and AGC to increase the diagnostic accuracy of conventional cytology and confirmed the prognostic validity of DNA-ICM in identification
of progressive lesions in ASC, LSIL and AGC diagnoses