Định vị miễn dịch hiển vi điện tử các kháng nguyên trong tế bào Nguyễn Kim Giao Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương Sự kết hợp các kỹ thuật miễn dịch với kỹ thuật hiển vi điện tử đã được
Trang 1Định vị miễn dịch hiển vi điện tử các kháng nguyên
trong tế bào
Nguyễn Kim Giao
Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương
Sự kết hợp các kỹ thuật miễn dịch với kỹ thuật hiển vi điện tử đã được sử dụng từ lâu trong sinh học tế bào (TB) Hiện nay phương pháp miễn dịch hiển vi điện tử (MDHVĐT)
được áp dụng rộng rãi đặc biệt là nghiên cứu chẩn đoán vi sinh vật
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật đánh dấu miễn dịch bằng vàng gián tiếp sau khi đúc với tế bào Vero nuôi cấy nhiễm vi rút sởi và tế bào TVP nuôi cấy nhiễm vi rút rota SA11 Theo dõi các hạt đen trên ảnh, chúng tôi đã định vị được các vi rút rota trong tế bào TVP và nhận biết được quá trình hình thành của vi rút sởi trong TB Vero
I Đặt vấn đề
Miễn dịch hiển vi điện tử là phương
pháp kết hợp kỹ thuật miễn dịch với kỹ
thuật hiển vi điện tử để định vị các thành
phần miễn dịch đặc hiệu, các đại phân tử
sinh vật
Phương pháp định vị hiển vi điện tử các
thành phần miễn dịch trong tế bào có thể
tiến hành theo nhiều phương pháp khác
nhau Trước tiên tế bào cần cắt mỏng tại
nhiệt độ thấp (không đúc) hoặc tại nhiệt độ
phòng (có đúc) Việc đánh dấu miễn dịch
có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp
trước khi đúc, sau khi đúc hoặc trên lát cắt
lạnh [1, 3]
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm:
1 Lựa chọn và xác định được những
điều kiện, những thông số tốt nhất làm tiêu bản miễn dịch hiển vi điện tử phát hiện kháng nguyên mặt ngoài tế bào phù hợp với điều kiện Việt Nam
2 Nghiên cứu xác định sự tồn tại của
vi rút rota trên tế bào TVP và sự nhân lên của vi rút sởi trên tế bào Vero trong quá trình nuôi cấy
II Vật liệu, mẫu, thiết bị và qui trình kỹ thuật nghiên cứu
1 Nguyên lý chung
chất đúc WF lát cắt
chất cố định (4,5% PFA
cắt lát mỏng
cố định Khử nước đúc
tím
Quan sát HVĐTTQ
parafilm rửa
đánh dấu miễn dịch Nhuộm dương bản
Trang 2Hình 1: Qui trình làm tiêu bản định vị kháng nguyên trong tế bào sau đúc mẫu
Những tế bào hoặc mô được cố định và đúc trong
những khuôn đúc bằng những chất đặc biệt để giữ cấu
trúc và bảo toàn chức năng miễn dịch
Những mẫu đúc được cắt thành những lát cực mỏng
và đặt lên trên các lưới nicken Tiếp đó những lát cắt
đư-ợc bộc lộ tới cả kháng thể thứ nhất, kháng thể thứ hai rồi
được rửa và nhuộm trước khi kiểm tra ở kính hiển vi điện
tử truyền qua tại độ phóng đại cao
Kỹ thuật cắt cực mỏng không những cho phép định vị
những kháng nguyên ở phía trong mẫu mà còn tiếp cận
được tới những protein, những kháng nguyên và những
đại phân tử khác trên bề mặt của lát cắt vì chúng sẽ bị
bộc lộ trong quá trình cắt
Hình 1 là sơ đồ chung làm tiêu bản để định vị kháng
nguyên trong tế bào sau đúc mẫu
Hình 2 là sơ đồ đánh dấu miễn dịch hiển vi điện tử
trên lát cắt mỏng Điều cần chú ý ở đây là kháng kháng
thể hoặc kháng thể thứ hai được thay bằng ProteinA-Au
Hình 2: Sơ đồ định vị kháng nguyên trên lát
cắt bằng đánh dấu miễn dịch gắn vàng gián tiếp
2 Vật liệu
- Hoá chất: paraformaldehyde,
glutaraldehyde, OsO4, đệm PBS, BSA,
ethanol, uranyl acetate, lead citrate
- Lưới nicken, giấy ảnh đen trắng
Sterlin phim FUJI-FG
3 Mẫu nghiên cứu
- Tế bào nuôi cấy TVP nhiễm vi rút
Rota dòng SA11 và kháng thể đặc hiệu
(nhận từ POLYOVAC)
- Tế bào vero nuôi cấy nhiễm vi rút sởi
chủng vác xin Moraten và kháng thể đặc
hiệu (nhận từ Khoa vi rút Viện VSDTTW)
4 Thiết bị nghiên cứu
4.1 Máy cắt tiêu bản siêu mỏng:
Ultramicrotome III (LKB, Thuỵ Điển)
4.2 Kính hiển vi điện tử truyền qua:
JEM 1010 (JEOL, Japan) với các thông
số:
+ Điện áp gia tốc điện tử 30-100KV, + Độ phóng đại x 50-600.000, + Độ phân giải 3A0
Các ảnh chụp trên phim FUJI-FG, in trên giấy ảnh Sterlin hoặc lưu trên đĩa cứng của hệ Digital camera-Computer kèm với JEM1010
5 Qui trình kỹ thuật
Qui trình kỹ thuật gồm hai bước như
Trang 3sau
5.1 Cố định, đúc và cắt mẫu
a Cố định: 3% paraformaldehyde+0,2%
glutaraldehyde trong đệm phosphate
pH 7,2-74 tại 40C trong 40 phút đến 1
giờ
b Rửa: 0,1M đệm phosphate 2 lần 10
phút
c Rửa: trong dung dịch NH4Cl 0,05M
hoặc 0,1M đệm phosphate (pH 7,2-74)
d Khử nước:
+ 30% ethanol (10 phút)
+ 50% ethanol (10 phút)
+ 70% ethanol (2 lần, 20 phút,)
+ 90% ethanol (2 lần, 20 phút,)
+ 100% ethanol (2 lần, 30phút)
e Tẩm:
+ 2/3 ethanol+1/3 LRWhite, 30 phút
+ 1/2 ethanol+1/2 LRWhite, 30 phút
+ 1/3 ethanol+2/3 LRWhite, 30 phút
f Ngâm:
+ LR White, 1 giờ
+ LR White, 18 giờ
+ LR White qua đêm
+ LRWhite, 1-3 giờ
g Đúc: trong khuôn đúc như capsule
gelatin
h Làm cứng: để tủ ấm 40-450C, từ 1-3
ngày
i Cắt tiêu bản trên máy cắt siêu mỏng
với độ dầy 400-500A0
k Đặt mảnh cắt trên lới nicken có
màng formvar phủ các bon
5.2 Thực hiện đánh dấu miễn dịch và nhuộm dương bản
a Rửa lưới nickel với lát cắt bằng 2-3 giọt PBS pH-7.2
b Đặt nổi lưới trên giọt 1% hydrogen peroxide (v/v) trong 5 phút Quá trình ăn mòn này làm bộc lộ nhiều hơn các kháng nguyên của lát cắt Rửa kỹ lưới trong nước cất
c Đặt nổi lưới trên giọt 2% PBS-BSA trong 20 phút để phóng bế các vị trí kháng nguyên không đặc hiệu
d Lưới được đặt nổi trên giọt kháng thể
đặc hiệu thứ nhất pha loãng trong 0,5%
PBS-BSA và ủ trong 20 phút
e Rửa thận trọng bằng 0,2% PBS - BSA,
f Các lưới lại được ủ tiếp trong proteinA gắn hạt vàng (d=5-10nm) trong 20 phút
h Rửa trong PBS một số lần
i Cố định nhanh bằng hơi OsO4
k Rửa kỹ với ammonium acetate 0,1%
l Nhuộm dương 2 lần theo phương pháp Reynold (uranyl acetate 5%, lead citrtate 1%) Các lưới được làm khô từ từ trước khi quan sát
Chú ý: Trong suốt quá trình tiến hành,
các lưới không được để khô và thận trọng giữ cho nó nổi trên mặt giọt
Iii Kết quả
Trang 4100 nm
Hình 3 Một phần của tế bào TVP với vi rút rota đ−ợc nhân lên
0,5 à
Hình 4 Quá trình hình thành của vi rút sởi trong tế bào Vero
1 Tế bào nuôi cấy TVP nhiễm vi rút
rota dòng SA11
Trong một nghiên cứu về sự nhân lên
của các chủng vi rút rota trên các dòng tế
bào nuôi cấy, chúng tôi nhận đ−ợc mẫu tế
bào nuôi cấy TVP nhiễm vi rút rota dòng SA11 Thực hiện việc định vị kháng nguyên vi rút rota theo qui trình trên và nhận đ−ợc hình 3 Những hạt vàng tròn
đen đậm có tại những cấu trúc trên ảnh (x) xác nhận rằng những cấu trúc đó là
Trang 5những vi rút rota được nhân lên trong tế
bào nuôi cấy TVP
2 Xác định quá trình hình thành của
vi rút sởi trong tế bào Vero
Hình 4 là lát cắt mỏng của tế bào Vero
đã bị huỷ hoại do nhiễm và nhân lên của vi
rút rota Bằng kỹ thuật đánh dấu miễn dịch
hiển vi điện tử trên lát cắt mỏng, ta có thể
theo dõi được vi rút trong quá trình hình
thành Các hạt chấm đen là hạt vàng chỉ
các kháng nguyên vi rút sởi nằm rải rác
trong bào tương Tại một số vùng bào
tương sát màng tế bào hình thành
nucleocapcid và chuẩn bị đâm chồi (→)
Các hạt vi rút sởi tách rời khỏi màng và tập
trung ở bên ngoài tế bào (x)
IV Bàn luận
Như đã trình bầy trong phần mở đầu,
miễn dịch hiển vi điện tử là kết hợp đồng
thời hai phương pháp nghiên cứu, phương
pháp hiển vi điện tử và phương pháp miễn
dịch
Đứng về mặt sinh học và sinh hoá học,
có ba yêu cầu cần thực hiện để định vị
chính xác bất cứ đại phân tử miễn dịch nào
trong mô, tế bào hoặc ngay trên các vi rút
Đó là có được các kháng thể đặc hiệu và
các chất đánh dấu, các kháng nguyên có
mặt trong mẫu với một số lượng đáng kể
và siêu cấu trúc vi sinh vật, tế bào được
giữ tốt [2, 3]
Về mặt bảo toàn siêu cấu trúc: mẫu
sinh vật sẽ giữ được siêu cấu trúc với điều
kiện là lấy mẫu và cố định mẫu tức thời và
xử lý tiếp mẫu theo phương pháp thường
qui Có một số chất cố định được sử dụng
Tuy nhiên những chất cố định này (như
OsO4) có thể làm giảm tính kháng nguyên
của các phân tử quan tâm nên trong
nghiên cứu MDHVĐT người ta thường hạn
chế sử dụng Nhưng điều bất lợi là không
chỉ các tế bào không cố định tốt mà ảnh
điện tử sẽ không có độ tương phản cao vì OsO4 là chất tán xạ điện tử mạnh [4]
Về các kháng nguyên có mặt trong mẫu: các kháng nguyên có thể còn rất ít
sau cố địmh với glutaraldehyde, do đó các mô hoặc tế bào thường cố định bằng formaldehyde (paraformaldehyde) hoặc bằng hỗn hợp của formaldehyde với glutaraldehyde (tỷ lệ formaldehyde là từ
2-8 % và glutaraldehyde là 0.1-0.5%) Một
điều quan trọng là các kháng nguyên nội bào cần dễ dàng tiếp cận được với các kháng thể bằng cách tăng tính thẩm thấu qua các màng hoặc bằng cách cắt mẫu thành các lát cắt siêu mỏng
Các tế bào có thể được làm tăng tính thấm bằng các dung môi hữu cơ như aceton, chlorofom, chất tẩy như saponin hoặc Twen80
Vế kỹ thuật đánh dấu: Trong nghiên
cứu này chúng tôi đã sử dụng cách đánh dấu miễn dịch gián tiếp để khắc phục những khó khăn kỹ thuật (kháng thể thứ nhất rất khó thu được nhiều, sự cộng hợp của kháng thể thứ nhất với đích điện tử lại rất khó, hiệu suất kém và có thể làm ảnh hưởng xấu tới sự kết hợp của kháng thể thứ nhất với kháng nguyên) Việc dễ dàng
có được kháng thể thứ hai mà ở đây chúng tôi sử dụng ProteinA-Au (đã gắn đích điện
tử Au với đường kính lựa chọn và có bán trên thị trường) đảm bảo cho nghiên cứu ít
bị rủi ro [3]
Xuất phát từ yêu cầu bảo toàn siêu cấu trúc sinh vật và giữ được tính kháng nguyên của mẫu đồng thời lại có thể thực hiện trong phòng thí nghiệm HVĐT của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, chúng tôi
đã chọn cách cố định mẫu bằng dung dịch
cố định 3-4% paraformaldehyde +0,2% glutaraldehyde trong dung dịch đệm PBS, thời gian 30-40 phút tại 40
C, đúc mẫu bằng
LR White tại 37-400
C và đánh dấu miễn
Trang 6dịch gián tiếp trên lát cắt mỏng với kháng
thể thứ hai thay bằng proteinA-Au là thích
hợp
Những hình ảnh HVĐTTQ của các mẫu
chụp đ−ợc xác thực việc lựa chọn của
chúng tôi là đúng đắn
V Kết luận
- Thông qua nghiên cứu áp dụng,
chúng tôi đã chọn đ−ợc cách cố định mẫu
bằng dung dịch cố định 3-4%
paraformaldehyde +0,2% glutaraldehyde
trong dung dịch đệm PBS, thời gian 30-40
phút tại 40
C, đúc mẫu bằng LR White tại
37-400
C và đánh dấu miễn dịch gián tiếp
trên lát cắt mỏng với kháng thể thứ hai
đ−ợc thay bằng proteinA-Au
- Bằng kỹ thuật định vị miễn dịch hiển
vi điện tử kháng nguyên trong tế bào, đã
xác định đ−ợc chắc chắn vi rút rota có
trong tế bào nuôi cấy TVP thông qua sự
chỉ điểm của các hạt vàng
- Thấy rõ quá trình nhân lên của vi rút
sởi trên tế bào Ve ro, từ giai đoạn tổng hợp
các thành phần acide nucleic và protein
của vi rút trong tế bào đến giai đoạn những
virion hoàn chỉnh nh− mọc chồi để tách
khỏi tế bào ở đó vỏ ngoài của vi rút sởi
đ−ợc tạo ra bởi màng tế bào
Tài liệu tham khảo
1 Bozzola, J J., and L D Russell (1992) Electron Microscopy Jones and Bartlett, Boston, MA 132 pp
2 Dawes, C J (1971) Biological Techniques in Electron Microscopy Barnes and Noble Inc., New York 240 pp
3 Hayat, M A (1989) Principles and Techniques of Electron Microscopy: Biological Applications CRC Press, Boca Raton, FL 469 pp
4 Miller SE Detection and identification of viruses by electron microscopy J Electron Microsc Tech, 1986; 4:265-301
5 Payne CM Electron microscopy in the diagnosis of infectious diseases In: Connor DH, Chandler FW, Payne CM Electron microscopy in the diagnosis of infectious diseases In: Connor DH, Chandler FW
Summary Immunoelectronmicroscopic localization of
Antigen in cells The Combination between Immunological techniques and Electron microscopy had been used in cellular biology for a long time At present, Immunoelectronmicroscopic methods (IEM) are applied more, specially in the microbial diagnosis
In this study, We had used indirect immunogoldlabelling technique after embedding on Vero cells infected by measles viruses and TVP cells infected by rotavirus SA11 According to black particles in Immuno-electron microscopic figures, We localized rotaviruses in the TVP cells and realized the formaton of measles virus in the Vero cells