Untitled BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH BỘ MÔN KẾ TOÁN KHOA KINH TẾ BÀI GIẢNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (Dành cho sinh viên bậc Đại học) (LƯU HÀNH NỘI BỘ) Quảng Ninh, 2020 1 Chương 1 TỔNG[.]
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
B Ộ MÔN KẾ TOÁN - KHOA KINH TẾ
Trang 21
Chương 1
T ỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị trong doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Theo luật kế toán Việt Nam năm 2003: KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán
Đặc điểm chung của kế toán quản trị:
- Là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin định lượng
- Những đối tượng sử dụng thông tin là những đối tượng bên trong đơn vị
- Mục đích sử dụng thông tin là để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của đơn vị
Khái niệm KTQT:
Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong qúa trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị
KTQT ra đời từ khi xuất hiện nền kinh tế thị trường, KTQT là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản lý, nó được coi là một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát, quản lý trong DN
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị
Từ những phân tích trên, ta có thể khái quát bản chất của kế toán quản trị
Trang 31.2 Thông tin kế toán quản trị với chức năng quản lý trong doanh nghiệp
Thông tin kế toỏn quản trị có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hoạt động kinh doanh của các tổ chức hoạt động Đó là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Ra quyết định là chức năng đồng thời cũng là nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản tri doanh nghiệp Nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản trị trong bất kỳ tổ chức hoạt đồng nào gồm những chức năng: xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm soát, đánh giá và ra quyết định Mối quan hệ giữa các chức năng của
các nhà quản trị thể hiện trong một chuỗi các quyết định liên tiếp
- Kế hoạch là một bức tranh tổng thể của doanh nghiệp trong tương lai,
hoặc tổng thể các chỉ tiêu kinh tế được xây dựng vàđưa ra các biện pháp có
thểđạt được các mục tiêu kỳ vọng
- Nhiệm vụ tổ chức các hoạt độngđây là chức năng cơ bản của các nhà quản trị Chức năng này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong doanh nghiệp
- Kiểm tra và đánh giá các kết quả thực hiện Căn cứ vào các chỉ tiêu của các kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạchđã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kết quả của doanh nghiệp
- Ra quyết định, đây là chức năng cơ bản nhất của thông tin kế toán quản
trị Dựa vào nguồn thông tin thu thập, thông tin phân tích, chọn lọc thông tin để
Trang 43
đưa ra quyết định đối với từng hoạt động cụ thể của quá trình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí
1.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của KTQT
1.3 1 Đối tượng nghiên cứu của KTQT
Kế toán tài chính và KTQT cùng phản ánh sản nghiệp và kết quả của DN nhưng KTTC phản ánh dưới dạng tổng quát còn KTQT phản ánh một cách chi tiết:
Sản nghiệp = Tài sản – Nợ phải trả KTQT phản ánh, tính toán giá phí của từng loại TSCĐ, TSLĐ, phản ánh chi tiết từng khoản nợ phải trả đối với các khoản nợ, phản ánh sản nghiệp (hay nguồn vốn chủ sở hữu của DN) dưới dạng chi tiết nhất
- KTQT phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả của DN dưới dạng chi tiết
- Kết quả (lãi, lỗ) = Doanh thu – Chi phí
KTQT tính toán xác định doanh thu, chi phí của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinh chi phí (từng trung tâm chi phí), cũng như theo từng đối tượng gánh chịu chi phí (từng loại sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ… ) Từ đó, nhà quản trị có thể xác định được kết quả hoạt động kinh doanh một cách chi tiết nhất theo yêu cầu quản lý
1.3 2 Phương pháp nghiên cứu của KTQT
- Các phương pháp truyền thống:
Phương pháp chứng từ
Phương pháp tài khoản kế toán
Phương pháp tính giá
- Phương pháp tổng hợp cân đối
- Các phương pháp đặc trưng của kế toán quản trị:
Phương pháp phân loại chi phí
Phương pháp tách chi phí hỗn hợp thành biến phí và định phí
Phương pháp thiết kế thông tin dưới dạng so sánh
Dạng phương trình
Trang 54
Phương pháp đồ thị
Phương pháp mô hình
1.4 So sánh kế toán quản trị và kế toán tài chính
1.4 1 Những điểm giống nhau
+ KTQT và KTTC đều đề cập đến các sự kiện kinh tế, đều quan tâm đến thu nhập, chi phí, tài sản, công nợ và quá trình lưu chuyển tiền tệ của DN
+ KTQT và KTTC đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán
Hệ thống này là cơ sở để KTTC soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ cung cấp ra ngoài Đối với KTQT, hệ thống đó cũng là cơ sở vận dụng, xử lý nhằm tạo ra thông tin thích hợp cung cấp cho các nhà quản trị
+ KTQT và KTTC đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý KTTC biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cấp cao còn KTQT biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị các cấp bên trong DN
1.4 2 Những điểm khác nhau
* Khác nhau về đối tượng sử dụng thông tin
Đối tượng sử dụng thông tin của KTQT là những nhà quản trị ở bên trong
DN; đối tượng sử dụng thông tin của KTTC bao gồm những người ở cả bên trong và bên ngoài DN
Những nhà quản trị ở bên trong DN là những nhà trực tiếp điều hành hoạt động SXKD hàng ngày của DN, thường xuyên phải đề ra các quyết định khác nhau liên quan đến quá trình sinh lợi trong ngắn hạn và dài hạn, họ cần những thông tin riêng biệt phù hợp với từng loại quyết định đó Thông tin loại này khác hoàn toàn với những thông tin do KTTC cung cấp
* Khác nhau về đặc điểm của thông tin
Thông tin của KTQT chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai, thông tin của KTTC chủ yếu phản ánh những nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra Phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án, đề án dự trù cho một sự kiện hoặc quá trình chưa xảy ra, thông tin của KTTC tuy cũng cần cho việc lập kế hoạch song
nó chỉ là sự phản ánh của quá khứ
Trang 65
Thông tin của KTTC phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán, có tính phản ánh khách quan sự kiện kinh tế đã xảy ra, phải có độ chính xác gần như tuyệt đối Thông tin cung cấp cho các nhà quản trị cần linh hoạt, tốc độ và thích hợp
với từng quyết định, không buộc phải có độ chính xác gần như tuyệt đối
Thông tin của KTTC chủ yếu được biểu diễn bằng hình thái giá trị, thông tin của KTQT được biểu diễn cả dưới hình thái giá trị lẫn hình thái vật chất
Báo cáo của KTTC phản ánh tình hình của DN nói chung chủ yếu là bảng cân đối tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ của toàn
DN Báo cáo của KTQT đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc củaDN gồm: các báo cáo thực hiện của từng bộ phận, từng khâu công việc trong DN
* Khác nhau về kỳ báo cáo
Kỳ báo cáo của KTQT thường xuyên hơn kỳ báo cáo của KTTC Báo cáo của KTTC được soạn thảo theo định kỳ hàng (tháng, quý, năm) Báo cáo của KTQT được soạn thảo thường xuyên để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các yếu
kém theo yêu cầu của các nhà quản trị
Do thông tin của KTQT là nhằm phục vụ cho các chức năng ra quyết định của nhà quản trị và thường không có sẵn nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, KTQT còn phải kết hợp với nhiều ngành khác như thống kê, kinh tế hoc, quản lý để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin thành dạng có thể sử dụng được
KTTC và KTQT tuy là hai lĩnh vực khác nhau song chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, hợp thành công cụ quản lý kinh tế
Trang 76
Chương 2 PHÂN LO ẠI CHI PHÍ 2.1 Khái quát về chi phí
2.1.1 Bản chất kinh tế của chi phí
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, DN phải quan tâm đến việc quản lý chi phí, vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng đến lợi nhuận.Vấn đề quan trọng được đặt ra cho nhà quản trị là phải kiểm soát chi phí của DN
Chi phí được hiểu là một số tiền hoặc một phương tiện mà DN hoặc cá nhân bỏ ra để đạt được mục đích nào đó Bản chất của chi phí là sự mất đi để đổi lấy một sự thu về, có thể thu dưới dạng vật chất, có thể định lượng được như số lượng sản phẩm, tiền… hoặc dưới dạng tinh thần, kiến thức, dịch vụ được phục
vụ …
2.1.2 Khái niệm về chi phí dưới góc độ kế toán quản trị
Chi phí sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nên sẽ được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo mục đích sử dụng và ra quyết định trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị trong từng quyết định
2.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí đối với lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, có thể phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, nghĩa là khi mức độ hoạt động biến động thì chi phí sẽ biến động như thế nào?
2.2.1 Biến phí
Khái niệm: Biến phí là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận
với biến động về mức độ hoạt động Biến phí khi tính cho một đơn vị thì nó ổn định không thay đổi Biến phí khi không có hoạt động bằng 0
Biến phí thường gồm các khoản chi phí như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, giá vốn của hàng hoá mua vào để bán lại, chi phí bao bì đóng gói, hoa hồng bán hàng…
Trang 87
Xét về tính chất tác động, biến phí chia thành: Biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
Biến phí tỷ lệ (biến phí thực thụ)
Khái niệm: Biến phí tỷ lệ là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận
trực tiếp với biến động của mức độ hoạt động căn cứ
Biến phí tỷ lệ gồm các khoản chi phí như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, hoa hồng bán hàng…
Biến phí cấp bậc
Khái niệm: Biến phí cấp bậc là những khoản chi phí thay đổi khi mức độ
hoạt động thay đổi nhiều, rõ ràng và không đổi khi mức độ hoạt động căn cứ thay đổi ít Biến phí loại này có quan hệ tỷ lệ nhưng không tuyến tính với mức
độ hoạt động thay đổi
Biến phí cấp bậc gồm những khoản chi phí như: chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì…
Chiến lược của nhà quản trị doanh nghiệp trong việc ứng phó với biến phí cấp bậc là phải nắm được toàn bộ khả năng cung ứng của từng bậc để tránh khuynh hướng huy động quá nhiều so với nhu cầu, vì điều này sẽ gây khó khăn khi nhu cầu sau đó lại giảm đi
2.2.2 Định phí
Khái niệm: Định phí là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ
hoạt động thay đổi, khi tính cho một đơn vị hoạt động tăng thì định phí giảm và ngược lại
Định phí bao gồm: chi phí khấu hao thiết bị sản xuất, chi phí quảng cáo, tiền lương của bộ phận quản lý phục vụ…
Một số loại định phí có thể được thay đổi dễ dàng hơn và nhanh hơn các định phí khác nên định phí được chia làm hai loại: định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý (định phí không bắt buộc)
a Định phí tuỳ ý
Trang 98
Khái niệm: Định phí tuỳ ý là định phí có thể được thay đổi nhanh chóng
bằng hành động quản trị Các nhà quản trị quyết định mức độ và số lượng định phí này như chi phí quảng cáo, đào tạo nhân viên, nghiên cứu…
b Định phí bắt buộc
Khái niệm: Định phí bắt buộc là định phí không thể được thay đổi một
cách nhanh chóng vì chúng thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc cơ bản của doanh nghiệp
Định phí bắt buộc có hai đặc điểm:
+ Có bản chất sử dụng lâu dài
+ Không thể giảm bớt đến số 0 được
Do định phí bắt buộc có bản chất lâu dài và có ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp nên khi quyết định đầu tư vào TSCĐ, nhà quản trị phải cân nhắc kỹ vì một khi đã quyết định thì doanh nghiệp sẽ buộc phải gắn chặt vào quyết định đó trong một thời gian dài
Định phí bắt buộc không thể được tuỳ tiện cắt giảm vì nó ảnh hưởng đến quá trình sinh lợi hoặc các mục đích lâu dài của doanh nghiệp Do đó, dù mức
độ hoạt động có lợi bị giảm hay bị đình đốn ở một kỳ nào đó, định phí bắt buộc vẫn giữ nguyên không đổi
So sánh định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý
Định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý, về thực chất, tuỳ vào cách suy nghĩ của từng nhà quản trị và có những khoản định phí nằm trên ranh giới của định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý Ví dụ, vì sự tồn tại Cty sẽ phải thuê mướn người
để quản lý Cty, mức lương và số lượng người sẽ tuỳ thuộc vào ý định của các nhà quản trị hiện hành
Quảng cáo cũng là một định phí tuỳ ý, cắt giảm chi quảng cáo sẽ gây ảnh hưởng làm giảm sự nhận biết của người mua đối với hàng hoá của Cty, viễn cảnh về sự chấp nhận sản phẩm của Cty có thể xấu sau này hay việc cắt giảm chi phí bảo trì bằng cách trì hoãn sự bảo trì thường xuyên sẽ dẫn đến chi phí sửa chữa cao hay sự gián đoạn sản xuất vì máy móc hỏng
Trang 109
Các nhà quản trị xử lý định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý khác nhau.Thường thì định phí tuỳ ý sẽ bị cắt giảm đầu tiên trong các chương trình cắt giảm chi phí, định phí bắt buộc không bị thay đổi hoặc nếu có thì cũng bị rất ít.Các nhà quản trị có khuynh hướng xem xét các định phí tuỳ ý chặt chẽ hơn các định phí bắt buộc.Tuy nhiên, phải thấy rõ là nếu không quản lý định phí bắt buộc thì cũng không khôn ngoan vì có khả năng có một thay đổi lớn xảy ra và điều kiện không còn phù hợp với định phí bắt buộc đó nữa
Định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý phụ thuộc vào cách nhìn nhận của từng nhà quản trị Có những nhà quản trị nhìn nhận các khoản phí này là bắt buộc nên họ rất ngần ngại khi phải điều chỉnh, nhưng người khác lại cho là nó thuộc loại tuỳ ý, do đó thường xuyên xem xét lại và điều chỉnh khi có điều kiện
DN thường có xu hướng tăng định phí nhiều hơn biến phí, vì hai lý do:
- Ngày càng nhiều DN ứng dụng tự động hoá trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình Tự động hoá tăng lên đồng nghĩa với đầu tư vào máy móc thiết
bị tăng lên, do đó định phí tăng lên
- Hoạt động của các tổ chức công đoàn ngày càng phát triển nên họ đã đấu tranh đòi hỏi bảo đảm việc làm và tiền lương ổn định Thông qua các hợp đồng lao động, mức lương được quy định rõ Thời gian lao động của công nhân được bảo đảm, giảm biến động của chi phí lao động so với biến động của sản xuất
Định phí đôi khi là các khoản mục chi phí năng lực, chúng phản ánh các khoản chi phí thiết bị sản xuất nhằm tạo ra năng lực mới, cơ bản để cung cấp cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện phát triển lâu dài và cơ bản của doanh nghiệp Nhưng khi định phí có tỷ lệ cao hơn so với biến phí thì nhà quản trị khi lập kế hoạch, dễ bị động và rất ít sự lựa chọn có thể có trong các quyết định hàng ngày
2.2.3 Chi phí hỗn hợp
Khái niệm: Chi phí hốn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu
tố biến phí lẫn định phí ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức độ nó lại thể hiện đặc điểm của biến phí
Trang 1110
Ví dụ 1: Chi phí thuê bao điện thoại là 68.000 đ/tháng nếu số lần gọi không quá 150 lần/tháng Kể từ lần gọi thứ 151 trở đi thì khách hàng thuê bao phải trả thêm 100 đ cho mỗi lần gọi Nếu khách hàng gọi 200 lần tháng thì số tiền phải trả cho Cty điện thoại là chi phí hỗn hợp, có dạng như sau:
68.000 + (50 x 1000 đ) = 118.000 đ/tháng
Ví dụ 2: DN thuê một xe vận tải để vận chuyển hàng hoá, chi phí thuê là
10 trđ/năm.Và cứ mỗi km vận chuyển thì DN phải trả thêm cho chủ xe 500 đ/km Nếu trong năm số km xe chạy là 10.000 km thì tổng số tiền DNphải trả, cũng thuộc loại chi phí hỗn hợp, có dạng như sau:
Phần định phí của chi phí hỗn hợp phản ánh phần chi phí căn bản, tối thiểu
để duy trì phục vụ và giữ cho dịch vụ đó luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ
Phần biến phí phản ánh phần thực tế phục vụ hoặc phần sử dụng vượt quá định mức Do đó, yếu tố biến phí sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức dịch vụ hoặc mức sử dụng quá định mức
Nhằm mục đích lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí hỗn hợp, nhà quản trị doanh nghiệp cần phải phân tích nhằm tách riêng các yếu tố định phí với biến phí Hai phương pháp sử dụng là:
Phương pháp cực đại- cực tiểu
Phương pháp bình phương nhỏ nhất
Xác định số liệu chi phí ở cả hai mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất Chênh lệch chi phí giữa hai cực đem chia cho chênh lệch mức hoạt động ta xác định được biến phí đơn vị Căn cứ vào mức hoạt động và tổng chi phí ở mức
Trang 1211
hoạt động đó, ta xác định được yếu tố định phí Sau khi xác định được các yếu
tố biến phí và định phí ta viết được phương trình của chi phí hỗn hợp đó
Ví dụ: Ta có tài liệu về chi phí sản xuất chung ở các mức hoạt động căn cứ
số giờ máy qua các tháng như sau:
Áp dụng phương pháp cực đại- cực tiểu để xác định các yếu tố biến phí và định phí và thành lập phương trình chi phí sản xuất chung như sau:
Theo bảng số liệu trên ta có:
Tổng số giờ máy Tổng chi phí sản xuất chung Mức cao nhất 90.000 2460.000
+ Xác định định phí hoạt động trong tháng
Định phí = Tổng chi phí – Biến phí
Mức cao nhất: Định phí = 2.460.000 – (90.000 x 24) = 300.000 đ
Trang 13Trong đó: y- biến số phụ thuộc(chi phí hỗn hợp)
x- biến số độc lập (mức hoạt động căn cứ)
a0- yếu tố định phí (định phí hoạt động)
a1– tỷ lệ biến phí (biến phí đơn vị)
Để xác định a0 và a1ta giải hệ phương trình tuyến tính:
n a0 + a1
n i
x
1 1 2
=
n i
y x
1 1 1
Giải hệ phương trình ta có:
1 1 1
1
1 1 1 1
1 1
1 1
.
i
n i n i n
i n i
x x
n
y x x x
y
Trang 14
13
1 1 1
1
1 1 1
1 1
i
i i i
x x
n
y x y
x n
Ví dụ: DN A muốn xây dựng phương trình biểu diễn của chi phí động lực theo hai yếu tố định phí và biến phí Tài liệu chi phí động lực (y) của 12 (n) tháng, với số giờ máy hoạt động (x) của từng tháng được cho dưới đây
Trang 152.3 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
* Tác dụng của cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động:
+ Cho thấy vị trí, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở DN
+ Là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm và tập hợp chi phí
+ Cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập các báo cáo tài chính Theo cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động thì:
Tổng chi phí = Chi phí sản xuất (chi phí sản phẩm) + Chi phí ngoài sản xuất ( chi phí thời kỳ)
Chi phí sản xuất (chi phí sản phẩm) = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp + Chi phí lao động trực tiếp + Chi phí sản xuất chung
Chi phí ngoài sản xuất ( chi phí thời kỳ) = Chi phí lưu thông + Chi phí quản lý hành chính
2.3 1 Chi phí sản xuất
Khái niệm: Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ phục vụ trong một kỳ nhất định
Chi phi sản xuất gồm 3 yếu tố cơ bản:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí lao động trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung gồm toàn bộ chi phí cần thiết để chế tạo sản phẩm hoặc dịch vụ, không gồm: tiền hoa hồng bán hàng, chi phí văn phòng phẩm
a Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 1615
Khái niệm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của những loại nguyên vật liệu mà cấu tạo thành thực thể sản phẩm, có giá trị và có thể xác định được một cách tách biệt rõ ràng và cụ thể cho từng sản phẩm
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định thông qua phiếu xuất kho nguyên liệu để phản ánh loại và số lượng nguyên liệu xuất kho đưa vào sản xuất
Ngoài nguyên liệu trực tiếp còn có nguyên liệu gián tiếp Nguyên liệu gián tiếp là những nguyên liệu có tham gia vào việc cấu thành thực thể của sản phẩm nhưng giá trị nhỏ và không thể xác định rõ ràng cho từng sản phẩm Nguyên liệu gián tiếp cũng còn là nguyên liệu được dùng kết hợp với nguyên liệu chính nhằm làm tăng thêm chất lượng, vẻ đẹp của sản phẩm hoặc để tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được thuận lợi như chất xúc tác, dầu mỡ… Nhiên liệu cũng được xếp vào nhóm nguyên liệu tiêu dùng trong qúa trình sản xuất, chúng không tham gia vào thực thể của sản phẩm mà chỉ tạo ra năng lượng
để phục vụ cho sản xuất như than, điện…
Chi phí nguyên liệu trực tiếp có thể xác định cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm Chi phí nguyên liệu gián tiếp không thể xác định tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên không thể tính trực tiếp vào từng đơn vị sản phẩm mà phải đưa vào chi phí sản xuất chung rồi phân
bổ sau
b Chi phí lao động trực tiếp
Khái niệm: Chi phí lao động trực tiếp là chi phí thanh toán cho công nhân
trực tiếp vận hành dây chuyền sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ Khả năng và kỹ năng của lao động trực tiếp có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp
Chi phí lao động trực tiếp, giống như chi phí nguyên liệu trực tiếp, có thể xác định rõ ràng, cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm
Ngoài lao động trực tiếp còn có lao động gián tiếp Lao động gián tiếp là những lao động không trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ nhưng cần thiết cho quá trình sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của lao
Trang 1716
động trực tiếp Lao động gián tiếp không làm ra sản phẩm nhưng không thể thiếu được trong qúa trình sản xuất, ví dụ: quản đốc phân xưởng, nhân viên bảo trì máy móc thiết bị… Chi phí thanh toán cho lao động gián tiếp không thể phân
bổ cho bất kỳ sản phẩm cá biệt nào nên phải đưa vào chi phí sản xuất chung để phân bổ sau
Trong cơ cấu chi phí lao động, còn có các khoản mục chi phí cũng thuộc vào chi phí lao động như: chi phí của thời gian ngừng sản xuất, chi phí giờ phụ trội, chi phí phúc lợi lao động
Chi phí của thời gian ngừng sản xuất phản ánh chi phí thanh toán cho người lao động trực tiếp về những khoảng thời gian ngừng sản xuất vì máy hỏng, cung cấp nguyên liệu không kịp thời, mất điện hay vì lý do nào khác ngoài ý muốn chủ quan của người lao động Chi phí này thường được phân bổ vào chi phí sản xuất chung dù nó liên quan đến lao động trực tiếp
Chi phí phụ trội phản ánh chi phí thanh toán cho lao động trực tiếp về khoảng thời gian lao động làm thêm ngoài số giờ định mức Chi phí của thời gian ngừng sản xuất và chi phí phụ trội là các khoản chi phí phải thanh toán cho người lao động trong điều kiện hoạt động không bình thường, phản ánh sự yếu kém trong việc quản lý sản xuất nên chúng được đưa vào chi phí sản xuất chung
Chi phí phúc lợi lao động gồm các khoản thanh toán về bảo hiểm y tế, hưu trí, trợ cấp thất nghiệp… Chi phí phúc lợi lao động được tính vào lao động trực tiếp nếu được chi cho lao động trực tiếp và tính và lao động gián tiếp nếu chi cho lao động gián tiếp
c Chi phí sản xuất chung
Khái niệm: Chi phí sản xuất chung gồm tất cả các chi phí sản xuất ngoại
trừ chi phí nguyên liệu trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp Ví dụ: chi phí bảo trì máy móc thiết bị, chi phí khấu hao
Chi phí sản xuất chung có 4 đặc điểm sau:
1 Bao gồm nhiều khoản mục và chi phí khác nhau
Trang 1817
2 Các khoản mục chi phí thuộc chi phí sản xuất chung đều có tính chất gián tiếp với từng đơn vị sản phẩm nên không thể tính thẳng vào sản phẩm hay dịch vụ phục vụ
3 Cơ cấu chi phí sản xuất chung bao gồm cả biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp, trong đó định phí chiếm tỷ trọng cao nhất
4 Do gồm nhiều khoản mục chi phí nên chúng được nhiều bộ phận khác nhau quản lí và rất khó kiểm soát
Cần phân biệt rõ ràng trong doanh nghiệp cũng còn có các loại chi phí tương tự nhưng lại gắn với các khâu lưu thông và quản lý hành chính cũng có tính chất của chi phí chung nhưng không thuộc chi phí chung của phân xưởng Chỉ có những khoản chi phí chung gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất ở phân xưởng mới được hạch toán vào chi phí sản xuất chung
Chi phí chung cũng được tính vào sản phẩm cùng với chi phí nguyên liệu trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp thông qua việc phân bổ:
Đơn giá phân bổ chi
phí sản xuất chung =
Tổng chi phí sản xuất ước tính Tổng số đơn vị được chọn làm căn cứ Căn cứ được chọn để phân bổ chi phí sản xuất chung phải phù hợp nhất cho mọi sản phẩm hay công việc (có thể là tổng số giờ lao động trực tiếp, tổng
số giờ máy hoạt động, tổng khối lượng sản phẩm)
d Chi phí chuyển đổi và chi phí sản xuất ban đầu
- Chi phí ban đầu (chi phí chủ yếu) là sự kết hợp giữa chi phí nguyên liệu trực tiếp với chi phí lao động trực tiếp Chi phí này có tác dụng phản ánh mức chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm Chi phí ban đầu cũng phản ánh mức chi phí riêng biệt, cụ thể từng đơn vị sản phẩm mà ta đã nhận diện ngay trong tiến trình sản xuất, là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu cần thiết nếu muốn sản xuất loại sản phẩm đó
- Chi phí chuyển đổi: là sự kết hợp giữa chi phí lao động trực tiếp với chi phí sản xuất chung Chi phí này phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu từ dạng thô sang dạng thành phẩm, là cơ sở để lập kế hoạch về
Trang 1918
lượng chi phí cần thiết để chế biến một lượng nguyên liệu nhất định thành thành phẩm
2.3 2 Chi phí ngoài sản xuất
Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, DN còn phải chịu một số khoản chi phí ở ngoài sản xuất Chi phí ngoài sản xuất được chia làm hai loại:
- Chi phí lưu thông và tiếp thị
- Chi phí quản lý
- Chi phí lưu thông và tiếp thị (chi phí bán hàng):
a Chi phí lưu thông và tiếp thị
Khái niệm: Chi phí lưu thông và tiếp thị bao gồm các khoản chi phí cần
thiết để đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hoá và đảm bảo việc đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng
Chi phí này gồm những khoản chi phí như chi phí tiếp thị, chi phí khuyến mãi, chi phí quảng cáo, chi phí đóng gói sản phẩm tiêu thụ, chi phí vận chuyển bốc dỡ, lương nhân viên bán hàng, tiền hao hồng bán hàng… Tất cả các tổ chức doanh nghiệp đều có các khoản chi phí lưu thông, dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại dịch vụ…
b Chi phí quản lý
Khái niệm: Chi phí quản lý là những khoản chi phí liên quan với việc tổ
chức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp Các khoản chi phí này không thể xếp vào loại chi phí sản xuất hay chi phí lưu thông
Chi phí quản lý bao gồm: lương cán bộ quản lý và lương nhân viên văn phòng, chi phí khấu hao văn phòng và thiết bị làm việc văn phòng, chi phí văn phòng phẩm…
2.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với kỳ tính kết quả kinh doanh
Chia thành chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm
2.4 1 Chi phí thời kỳ
Khái niệm: Chi phí thời kỳ là những chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán
và có ảnh hưởng đến lợi tức của kỳ mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ không
Trang 2019
phải những chi phí tạo thành thực thể của sản phẩm hay vào trong các yếu tố cấu thành giá vốn của hàng hoá mua vào, mà là những khoản chi phí hoàn toàn biệt lập với quá trình sản xuất sản phẩm hoặc mua vào hàng hoá Chi phí thời kỳ bao gồm: chi phí lưu thông và chi phí quản lý hành chính như lương nhân viên bán hàng, khấu hao thiết bị bán hàng, bảo hiểm, chi phí quảng cáo, khuyến mãi, giao dịch, lương nhân viên văn phòng, khấu hao thiết bị văn phòng, chi phí giấy tờ…
2.4.2 Chi phí sản phẩm
Khái niệm: Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá
trình sản xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng hoá về để bán lại Chi phí sản phẩm luôn luôn gắn liền với sản phẩm và chỉ được thu hồi khi sản phẩm tiêu thụ, khi sản phẩm chưa được tiêu thụ thì chúng nằm trong các đơn vị sản phẩm tồn kho
Chi phí sản phẩm gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ khác nhau ở chỗ: chi phí thời kỳ phát
sinh ở kỳ nào thì tính ngay vào kỳ đó, do đó chúng ảnh hưởng đến lợi tức của kỳ
mà chúng phát sinh Nhà quản trị không kiểm soát được chúng nếu để chúng phát sinh quá mức cần thiết.Chi phí sản phẩm trái lại, chỉ phải tính ở kỳ mà sản phẩm được tiêu thụ, không phải tính ở kỳ mà chúng phát sinh Chi phí sản phẩm cũng có ảnh hưởng đến lợi tức của doanh nghiệp nếu không được kiểm soát đúng đắn và hơn thế nữa nếu không tính đúng chi phí sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến nhiều kỳ, vì sản phẩm có thể được sản xuất ra trong kỳ này nhưng lại được tiêu thụ ở kỳ khác
2.5 Các cách phân loại chi phí khác
2.5.1 Chi phí chênh lệch
Để thực hiện chức năng ra quyết định, nhà quản trị thường phải so sánh nhiều phương án khác nhau và mỗi phương án có các loại chi phí riêng, khác nhau cả về lương và loại chi phí
Khái niệm: Là những khoản chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có một
phần hoặc không có ở các loại phương án khác thì được gọi là chi phí chênh
Trang 2120
lệch (hay còn gọi là chi phí biên) Chi phí biên là chi phí cần thiết để sản xuất thêm một sản phẩm và thu nhập biên là thu nhập có thêm do bán thêm một sản phẩm
Chi phí chênh lệch có thể là biến phí hoặc định phí
Ví dụ 1: Có tài liệu của hai phương án A và B như sau:
Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Phương án A Phương án B Chênh lệch
- Chi phí tăng thêm 150 trđ
- Lãi thuần tăng thêm 50 trđ
2.5.2 Chi phí chìm
Chi phí chìm là một loại chi phí mà DN phải chịu và vẫn sẽ phải chịu dù
DN chọn phương án hành động nào Chi phí chìm không bao giờ thích hợp với việc ra quyết định vì chúng không có tính chênh lệch và nó tồn tại trong mọi phương án hành động
Ví dụ: Một DNđã bỏ ra 100 trđ để đầu tư một sản phẩm mới Chi phí đã chi ra cho nên trong mọi phương án có liên quan đến sản phẩm đó sẽ luôn có khoản chi phí này, nguyên vẹn như vậy Hay, chi phí khấu hao máy móc thiết bị của một chiếc máy sẽ luôn luôn tồn tại trong mọi phương án có liên quan tới sản phẩm mà chiếc máy đó sản xuất ra
Tất cả chi phí đã bỏ ra đầu tư vào TSCĐ, dù theo giá trị ban đầu hay giá trị còn lại đều là chi phí chìm với mọi phương án có sử dụng đến TSCĐ đã được đầu tư đó
Trang 2221
Ta xét một ví dụ sau đây:
Một DN khai thác và chế biến than đang bị tồn 5.000 tấn than không tiêu thụ được.Chi phí sản xuất số than đó là 500 trđ.Có một Cty bán buôn đã đề nghị mua số than với giá 400 trđ.Giám đốc DN cho rằng thà để tồn kho số than đó còn hơn bán lỗ 100 trđ
Vậy, trong trường hợp này DN khai thác than và chế biến than có hai phương án hành động
- Bỏ số than tồn kho
- Bán rẻ chúng cho Công ty bán buôn
Với phương án một không mang lại khoản thu nào nên ta chọn phương án (2), ta sẽ có chi phí cơ hội Nhưng chi phí sản xuất 500 trđ là một khoản chi phí chìm vì khoản chi phí này đã phát sinh và chi nguyên vẹn như thế dù doanh nghiệp chọn phương án nào Nếu chọn phương án (1) DN bị lỗ toàn bộ chi phí sản xuất 500 trđ.Nếu chọn phương án (2) DNchỉ bị lỗ 100 trđ Tối ưu nhất là DN chọn phương án (2), bán số than đó cho Cty bán buôn, nếu ngoài phương án này không có phương án nào khác
Giả sử có một Cty bán buôn khác đề nghị DN chế biến số than đó để được loại than xuất khẩu và mua với giá 520 trđ Chi phí chế bán số than ước tính khoảng 40 trđ.S DN có thêm một phương án để lựa chọn.Ta cần so sánh phương
án (3) với phương án (2) đã lựa chọn trên đây
Ta có bảng tổng hợp chi phí chênh lệch và thu nhập chênh lệch của phương án (3) so với phương án (2) dưới đây
So sánh chi phí và thu nhập của hai phương án:
Thu nhập chênh lệch (520 trđ - 400 trđ) = 120 trđ
Chi phí chênh lệch (40 trđ - 0) = 40 trđ
Lợi nhuận chênh lệch 80 trđ
Kết quả này có nghĩa là DN, nếu chọn phương án (3) sẽ đỡ lỗ 80 trđ nữa.Với phương án (2) DN bị lỗ 100 trđ, còn với phương án (3) DN chỉ bị lỗ 20 trđ
2.5.3 Chi phí cơ hội
Trang 2322
Chi phí cơ hội loại chi phí hoàn toàn không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng, phải được cân nhắc, xem xét mỗi khi doanh nghiệp cần lựa chọn phương án kinh doanh
Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất vì chọn phương án hành động này thay vì phương án hành động khác Hành động khác ở đây là phương án tối ưu nhất có sẵn so với phương án đã chọn Ví dụ 1: Anh A có số vốn 100 triệu đồng Anh ta đem đầu tư và kinh doanh Hoạt động kinh doanh mang lại cho anh A một mức lợi nhuận bình quân khoảng 10 % mỗi năm Nếu anh ta đem số tiền đó đem gửi ngân hàng với lãi suất 1 % một tháng thì tính đơn giản tỷ suất lợi nhuận hàng năm cũng đạt 12 % Mức lợi nhuận này chính là chi phí cơ hội mà anh A phải tính đến khi quyết định phương án sử dụng số vốn của mình
Ví dụ 2: Một DNA có vị trí kinh doanh tốt đẹp, hàng năm thu lãi khoảng
850 trđ Cũng giả sử một doanh nghiệp B khác đề nghị thuê vị trí đó với giá 480 trđ/năm Như vậy, nếu xét cả chi phí cơ hội thì rõ ràng DNA hàng năm chỉ còn lãi (850 trđ – 480trđ) Nếu DN có vị trí khác vị trí hiện tại thì đương nhiên tạo ra lãi 480 trđ/năm
Khi đã lựa chọn một phương án thì cũng có nghĩa bỏ cơ hội để thực hiện phương án khác, mà phương án bị loại bỏ đó cũng mang lại một khoản lợi nhuận nhất định Có bao nhiêu phương án khác để lựa chọn thì cũng có bấy nhiêu khả năng thu được lợi nhuận ở các mức độ khác nhau Nhưng khi đã chọn một phương án thì đành phải bỏ lỡ cơ hội thực hiện các phương án khác, do đó doanh nghiệp phải coi mức lợi nhuận cao nhất của phương án trong số các phương án có thể lựa chọn là chi phí cơ hội cho phương án đã chọn
2.6 Phân l oại chi phí trong các báo cáo kết quả kinh doanh
2.6.1 Báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng của chi phí
Đây là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của kế toán tài chính Chi phí được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng của chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 2423
Kết quả kinh doanh theo mô hình lợi nhuận góp là báo cáo kết quả kinh doanh của kế toán quản trị Trong báo cáo kết quả kinh doanh theo mô hình lợi nhuận góp chi phí được phân loại theo mối liên hệ với mức độ hoạt động
Trang 2524
Chương 3 CÁC PH ƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CHI PHÍ SẢN XUẤT SẢN
PH ẨM, DỊCH VỤ 3.1 Phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm
Xác định chi phí là quá trình tổng hợp chi phí có liên quan đến sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, nhằm cung cấp tài liệu chi phí đơn vị cần thiết cho các nhà quản trị để:
- Định giá bán sản phẩm
- Định giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ
- Xác định kết quả thu nhập trong kỳ
- Ra các quyết định tình huống hàng ngày
Để lựa chọn phương pháp xác định chi phí, các doanh nghiệp công nghiệp cần đưa vào tính chất sản xuất của mình.( Có hai loại hình sản xuất chủ yếu: Sản xuất theo đơn đặt hàng và sản xuất hàng loạt)
Tuỳ thuộc vào tính chất của sản xuất mà vận dụng một trong hai phương pháp xác định chi phí sau đây:
* Phương pháp xác định chi phí theo công việc: ghi chép lại một cách chi tiết thông tin của từng sản phẩm, nhóm sản phẩm tượng tự nhau
* Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất: ghi chép theo từng phân xưởng khi sản phẩm được chuyển từ phân xưởng này sang phân xưởng khác và trên cơ sở đó, xác định được chi phí cho từng đơn vị sản phẩm
3.1.1 Phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm theo công việc
3.1.1.1 Đối tượng vận dụng phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm theo công việc
Phương pháp xác định chi phí theo công việc được sử dụng ở các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng, sản phẩm được sản xuất theo yêu cầu của khách hàng Các dơn đặt hàng có thể khác nhau và cùng một lúc doanh nghiệp
có thể sản xuất nhiều đơn đặt hàng khác nhau
Trang 2625
Hệ thống kế toán cần phản ánh những hoạt động của doanh nghiệp theo từng đơn đặt hàng, đó là:
- Yêu cầu về sản phẩm mà khách hàng mong muốn
- Tính toán chi phí dự toán cho việc hạch toán từng dơn đặt hàng Cộng dự toán với số lãi mong muốn sẽ tạo ra giá bán sản phẩm của đơn đặt hàng
3.1.1.2 Quá trình tập hợp chi phí theo công việc
Với phương pháp xác định chi phí theo công việc, đối tượng tập hợp chi phí là đơn đặt hàng Nếu sản xuất nhiều đơn đặt hàng cùng một lúc, cần phản ánh riêng chi phí sản xuất cho từng đơn đặt hàng
Chi phí sản xuất được tập hợp vào tài khoản “Chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang”, nó được mở chi tiết theo các đơn đặt hàng và phản ánh trên các phiếu chi phí công việc (phiếu sản xuất) Cuối tháng hoặc cuối năm, tổng chi phí tập hợp trên các phiếu chi phí công việc cần phải bằng tổng số dư nợ của tài khoản
“Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
Phiếu chi phí công việc là căn cứ để xác định:
- Chi phí sản xuất của từng đơn đặt hàng
- Chi phí đơn vị sản phẩm
- Chi phí bán hàng chưa hoàn thành
- Giá vốn hàng bán
Phiếu chi phí công việc được lập khi phong kế toán nhận được thông báo
và lệnh sản xuất đã được phát ra cho công việc đó Mỗi đơn đặt hàng cần lập một phiếu chi phí công việc mà không cần quan tâm tới số lượng sản phẩm trong đơn đặt hàng đó nhiều hay ít, phiếu này có tác dụng như một sổ phụ phản
ánh chi phí sản xuất đã phát sinh trong quá trình sản xuất và có tác dụng như một báo cáo về sản phẩm sản xuất dở dang, khi sản phẩm hoàn thành giao cho khách hàng thì phiếu chi phí công việc được chuyển từ khâu sản xuất sang lập
hồ sơ theo dõi đơn đặt hàng đã kết thúc
Căn cứ để xác định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và gián tiếp là phiếu xuất kho (bảng phân bổ nguyên vật liệu) Giá xuất kho được tính là giá nhập
Trang 2726
Căn cứ để xác định tiền lương của lao động trực tiếp và gián tiếp là các chứng từ theo dõi lao động, bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc đã hoàn thành
Bảng chấm công là chứng từ theo dõi ngày công của người lao động làm
cơ sở cho việc tính lương hàng tháng và xét khen thưởng cuối kỳ
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc đã hoàn thành là chứng từ xác nhận số sản phẩm hoặc công việc hàon thành của đơn vị hay cá nhân người lao động, là cơ sở để tính lương theo sản phẩm
Chi phí sản xuất chung là loại chi phí gián tiếp đối với từng sản phẩm và
nó bao gồm nhiều mục chi phí mà phần lớn là định phí, nên nó có xu hướng ít biến động theo khối lượng sản phẩn sản xuất Do vậy, để xác định chi phí sản xuất chung cho từng đơn dặt hàng, cho từng đơn vị sản phẩm cần chọn căn cứ phân bổ
Những căn cứ chung thường được chọn là tổng thời gian lao động trực tiếp, tổng chi phí lao động trực tiếp, tổng số giờ máy hoạt động…
Những chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh chỉ tới cuối kỳ mới tập hợp được, trong khi đó DN cần phải có sớm chi phí này để định giá sản phẩm, công việc đã hoàn thành và sớm có quyết định cho sản xuất kinh doanh, nên trong thực tế phần lớn các DN thường ước tính chi phí chung ngay từ đầu kỳ Mức ước tính chi phí sản xuất chung này nhân với mức hoạt động ước tính của từng công việc (đơn đặt hàng) sẽ tính được mức phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng công việc
Mức phân bổ chi phí
sản xuất chung ước tính =
Tổng chi phí sản xuất chung ước tính Tổng mức hoạt động chung ước tính
Mức phân bổ ước tính
cho từng công việc =
Mức phân bổ chi phí sản xuất chung ước tính x
Mức hoạt động ước tính cho từng công việc
3.1.2 Phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm theo quá trình sản xuất
3.1.2.1 Nội dung phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
Trang 2827
Phương pháp xác định chi phí sản xuất theo quá trình sản xuất được ứng dụng trong các DN sản xuất một loại sản phẩm, sản phẩm lần lượt đi qua nhiều giai đoạn sản xuất khác nhau, sản phẩm hoàn chỉnh của bước này sẽ là đối tượng chế biến của bước sau Khác với sản phẩm được tập hợp chi phí theo công việc, sản phẩm được tập hợp chi phí theo quá trình sản xuất có đặc điểm:
- Có cùng hình thái, kích cỡ
- Có khích cỡ nhỏ
- Không có giá trị cao
- Được đặt mua sau khi sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí theo phương pháp này không phải từng lô hàng theo sản phẩm cụ thể, mà là các công đoạn hoặc từng bộ phận sản xuất khác nhau của doanh nghiệp, thường là các phân xưởng sản xuất ở đây, chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp thường được xuất dùng ở ngay phân xưởng sản xuất đầu tiên, còn các phân xưởng tiếp theo phải bỏ ra các chi phí để gia công chế biến sản phẩm hoàn thành của bước trước
3.1.2.2 Quy trình tập hợp chi phí theo quy trình sản xuất
Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất sử dụng các tài khoản sau để phản ánh chi phí sản xuất:
- Tài khoản : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Tài khoản : Chi phí nhân công trực tiếp
- Tài khoản : Chi phí sản xuất chung
- Tài khoản : Thành phẩm
- Tài khoản: Chi phí sản xuất kinh daonh dở dang
- Tài khoản: Giá vốn hàng bán
Theo phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất, mỗi công đoạn hoặc mỗi phân xưởng sản xuất mở một tài khoản “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” riêng để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hoàn thành của mỗi bước hay của mỗi phân xưởng Thành phẩm hoàn thành của bước hay phân xưởng cuối cùng được chuyển vào kho thành phẩm
Trang 2928
Từng phân xưởng tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm vào tài khoản“Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” đồng thời theo dõi trên báo cáo sản xuất Báo cáo sản xuất là báo cáo tổng hợp các hoạt động sản xuất diễn ra trong kỳ của một phân xưởng sản xuất.Nó có ý nghĩa rất lớn đối với các nhà quản lý để kiểm soát chi phí và đánh giá hoạt động sản xuất của từng phân xưởng
Báo cáo chi phí sản xuất thường gồm 3 phần:
Phần I: Kê khai khối lượng hoàn thành và sản lượng tương đương
Phần II: Tổng hợp chi phí và tính toán chi phí đơn vị
Phần III: Phân bổ chi phí
3.2 Báo cáo sản xuất
3.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo sản xuất
Có nhiều phương pháp tính sản lượng tương đương như ở đây ta chỉ nghiên cứu 2 phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất, đó là:
Sản lượng tương
đương của phân xưởng =
Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
x
Khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương của sản phẩm dở dang cuối kỳ Báo cáo quá trình sản xuất
Lập báo cáo chi phí sản xuất phục vụ cho các mục đích sau:
- Kiểm tra khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ với khối lượng sản phẩm đã hoàn thành và dở dang cuối kỳ
- Xác định chi phí đơn vị của sản phẩm đã quy đổi
- Xác định tổng chi phí của sản phẩm chuyển từ phân xưởng này sang phân xưởng khác hoặc từ phân xưởng cuối cùng vào kho thành phẩm và tổng chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ
Trang 3029
- Cho phép ghi vào sổ nhật ký chung chi phí của sản phẩm đã hoàn thành
và chuyển đi
b Phương pháp nhập trước- xuất trước
Với phương pháp nhập trước- xuất trước, sản lượng tương đương của phân xưởng được xác định theo công thức:
Sản lượng
tương đương =
Khối lượng tương đương của sản phẩm
dở dang đầu kỳ
+
Khối lượng bắt đầu sản xuất và
đã hoàn thành trong kỳ
+
Khối lượng tương đương của sản phẩm dở dang cuối kỳ Như vậy, theo phương pháp này sản phẩm dở dang chưa được coi là khối lượng hoàn thành trong kỳ cần quy đổi ra khối lượng tương đương như sản phẩm dở dang cuối kỳ Đối với sản phẩm dở dang đầu kỳ cần tính lượng cần làm thêm để hoàn thành, còn đối với sản phẩm dở dang cuối kỳ cần tính lượng đã kết tinh vào đó
3.2.2 Nội dung của báo cáo sản xuất
Lập báo cáo chi phí sản xuất
a Báo cáo quá trình sản xuất theo phương pháp trung bình trọng
Phần I: Kê khai khối lượng sản phẩm đã hoàn thành chuyển đi và khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ, gồm có:
+ Số sản phẩm hoàn thành
+ Căn cứ vào mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang cuối kỳ để xác định khối lượng sản phẩm tương đương
Phần II: Tổng hợp chi phí và xác định chi phí đơn vị
Trong phần này, chi phí sản xuất phát sinh tại phân xưởng được phân tích thành chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất, chi phí chế biến (bao gồm
chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung), chi phí của sản phẩm hoàn thành bước trước chuyển sang (nếu báo cáo chi phí sản xuất của phân xưởng thứ 2 trở đi), chi phí đơn vị được tính riêng biệt cho từng thành phần chi phí
Phần III: Phân bổ chi phí
Trang 3130
Phần này nhằm phân chia tổng chi phí được ghi ở bên nợ tài khoản “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” cho sản phẩm đã qua hoàn thành chuyển đổi
và sản phẩm dở dang cuối kỳ
+ Với khối lượng sản phẩm hoàn thành và chuyển đi, chi phí phân bổ cho
bộ phận này được xác định theo công thức:
Chi phí sản xuất phân bổ
cho sản phẩm hoàn thành =
Khối lượng sản phẩm hoàn thành x Chi phí đơn vị sản phẩm + Với khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ, chi phí phân bổ cho bộ phận này được xác định theo từng khoản mục chi phí sản xuất rồi tổng hợp lại theo công thức:
Phần I: Kê khai khối lượng sản phẩm sản xuất (giống như phần I của báo cáo sản xuất theo phương pháp trung bình trọng) và Kê khai khối lượng và sản phẩm tương đương
Trong phần này, sản phẩm tương đương được xác định cho từng lô sản phẩm khác nhau:
- Với sản phẩm dở dang đầu kỳ, lấy số lượng nhân với mức độ chưa hoàn thành của kỳ trước
- Với sản phẩm dở dang cuối kỳ, lấy số lượng nhân với mức độ hoàn thành trong kỳ
Phần II: Tổng hợp chi phí và Tính chi phí đơn vị sản phẩm phân xưởng Chi phí được tập hợp ở phần báo cáo gồm các phần chi phí kỳ trước chuyển sang (phân bổ cho sản phẩm dở dang đầu kỳ) và chi phí thực tế phát sinh
kỳ này, số chi phí này được phản ánh theo khoảo mục chi phí
Chi phí đơn vị sản phẩm được tính theo khoản mục chi phí
Trang 3231
Phần III: Phân bổ chi phí
Phân bổ cho sản phẩm hoàn tất và cho sản phẩm dở dang cuối kỳ
Trên khía cạnh kiểm soát chi phí, phương pháp nhập trước- xuất trước được đánh giá cao hơn vì phương pháp này chỉ chú ý đến chi phí của kỳ hiện hành, còn phương pháp trung bình trọng sử dụng cả chi phí trước để tính toán và chi phí đơn vị được tính cho kỳ này chịu ảnh hưởng của cả kỳ trước
Trang 3332
Chương 4 PHÂN TÍCH M ỐI QUAN HỆ CHI PHÍ - SẢN LƯỢNG- LỢI NHUẬN
4.1 Ý nghĩa phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận
Nghiên cứu mối quan hệ CVP là một việc làm rất cần thiết và hữu ích, nó hướng cho các nhà DN trong việc lựa chọn để ra quyết định quản trị kinh doanh, như chọn dây chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược khuyến mại, sử dụng tốt các điều kiện kinh doanh hiện có… nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Việc nghiên cứu quan hệ CVP được thực hiện dựa trên cách phân loại chi phí thành biến phí, định phí và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
4.2 Các khái niệm cơ bản để phân tích mối quan hệ C-V-P
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu vấn đề này, trước hết ta phải đưa ra một giả định về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một DN nào đó
Ví dụ 1: DN A sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm X duy nhất, số liệu chi phí và thu nhập bình thường trong tháng như sau:
Cơ cấu (%)
Doanh thu (4000 sp x 25.000 đ/sp) 100.000 25 100 Trừ: Biến phí (4000 sp x 15.000 đ/sp) 60.000 15 60
Trang 34Vậy, khái niệm số dư đảm phí cho DN thấy rõ khi số lượng bán biến động,
sẽ làm cho doanh thu thay đổi, sự thay đổi đó sẽ tác động như thế nào đến lãi suất
4.2 2 Tỷ lệ số dư đảm phí (Tỷ lệ lợi nhuận góp)
Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu biểu hiện bằng số tương quan hệ số tỷ lệ giữa tổng số dư đảm phí với doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán
Trong ví dụ trên tỷ lệ số dư đảm phí là 40% Qua chỉ tiêu chỉ lệ số dư đảm phí có thể biết được kho doanh thu tăng lên 1 đ thì trong mức tăng đó 0,4 đ thuộc về tổng số dư đảm phí Nếu DN đã vượt quá điểm hoà vốn, tỷ lệ tăng của doanh thu là tỷ lệ tăng của tổng số dư đảm phí, và mức tăng của tổng số dư đảm phí là mức lãi thuần
Trong ví dụ trên, nếu doanh thu tăng lên 10 %, tương ứng 10.000, tổng số
dư đảm phí sẽ chiếm 4.000 đ Nếu DN đã vượt quá điểm hoà vốn, tỷ lệ của daonh thu là tỷ lệ tăng của tổng số dư đảm phí Vậy tổng số dư đảm phí tăng 10
%, tương ứng 4.000 ngh.đ (40.000 ngh.đ x 10 %) và đây cũng là mức tăng của lãi thuần, vậy lãi thuần là 14.000 ngh.đ (10.000 ngh.đ + 4.000 ngh.đ)
Chỉ tiêu tỷ lệ số dư đảm phí để nghiên cứu và xác định lãi thuần thuận lợi hơn chỉ tiêu tổng số dư đảm phí nhất khi DN có nhiều bộ phận kinh doanh
4.3 Phân tích điểm hoà vốn
Bất kỳ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đòi hỏi phải xác định mức doanh thu tối thiểu hoặc mức thu nhập nhất định đủ bù đắp chi phí của quá trình hoạt động đó Phân tích điểm hoà vốn cho phép ta xác định mức doanh
Trang 3534
thu với khối lượng sản phẩm và thời gian cần đạt được để vừa đủ bù đắp hết chi phí đã bỏ ra, tức là đạt mức hoà vốn
4.3 1 Khái niệm, điều kiện và nội dung phân tích điểm hoà vốn
Điểm hoà vốn là điểm tại đó daonh thu vừa đủ bù đắp hết chi phí hoạt động kinh doanh đã bỏ ra, trong điêù kiện giá bán sản phẩm dự kiến hay giá được thị trường chấp nhận
Mối quan hệ chi phí, doanh thu và lợi nhuận có thể được trình bày bằng
mô hình sau:
Doanh thu (DT)
Biến phí (BF) Định phí (ĐF) Lãi thuần (LT)
Nhìn vào sơ đồ ta thấy:
Số dư đảm phí (SDĐP) = Định phí (ĐF) + Lãi thuần (LT)
Doanh thu (DT) = Biến phí (BF) + Định phí (ĐF) + Lãi thuần (LT) Điểm hoà vốn theo khái niệm trên là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ bù đắp tổng chi phí, nghĩa là lãi thuần = 0 (không lãi, không lỗ) Nói cách khác, tại điểm hoà vốn: SDĐP = ĐF
Chứng minh: DT = BF + SDĐP
Mà SDĐP = ĐF + LT
Tại điểm hoà vốn LT = 0, nên SDĐP = ĐF
Phân tích điểm hoà vốn giúp nhà quản trị xem xét quá trình kinh doanh một cách chủ động và tích cực, xác định rõ ràng vào lúc nào trong kỳ kinh doanh, hay ở mức sản xuất nào và tiêu thụ bao nhiêu thì đạt hoà vốn Từ đó có biện pháp chỉ đạo tích cực để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
Trang 36ẩn số của hai phương trình biểu diễn hai đường đó
Phương trình biểu diễn doanh thu có dạng: Y = px
Phương trình biểu diễn tổng chi phí có dạng: Y = A + bx
Tại điểm hào vốn thì:
30.000 Sản lượng hoà vốn = = 3.000 SP
Trang 3736
Doanh thu hoà vốn là doanh thu của mức tiêu thụ hoà vốn
Phương trình biểu diễn ânnh thu có dạng: Y = p.x
Tại điểm hoà vốn:
A
c Nên ta có doanh thu hoà vốn:
Tỷ lệ số dư đảm phí trong đơn giá bán
Ví dụ 1: Vận dụng vào DN A, doanh thu hoà vốn của A là:
3.000 Doanh thu hoà vốn = = 75.000.000 đ
0,4 Như vậy, DN đạt hoà vốn ở mức daonh thu 75.000.000 đ Trên mức này,
DN A có lãi, dưới mức này DN A bị lỗ
Ví dụ 2: ở một DN sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm khác nhau, có tổng định phí hàng năm là 600 trđ, tỷ lệ biến phí bình quân trong doanh thu là 50% Vậy, doanh thu hoà vốn của DN là bao nhiêu?
Tỷ lệ biến phí bình quân trong doanh thu là 50%, có nghĩa là bình quân cứ trong 1 đ doanh thu có 0,5 đ biến phí, phần còn lại là số dư đảm phí, là 0,5 đ Nói cách khác, tỷ lệ số dư đảm phí trong giá bán đơn vị là 50% Vậy, vận dụng công thức (4.3), ta xác định được doanh thu hoà vốn của DN trên:
Tỷ lệ số dư đảm phí trong đơn giá bán 0,5
4.3.2.3 Doanh thu an toàn
Doanh thu an toàn có thể hiểu là phần chênh lệch của doanh thu thực hịên được với doanh thu hoà vốn