1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự nhân lên tối ứu của dòng Virus Rota VNHR 203 - 030 trên tế bào thận khỉ Tiên Phát Macaca potx

4 334 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sự nhân lên tối ưu của dòng virus rota VNHR 203 - 030 trên tế bào thận khỉ tiên phát Macaca potx
Tác giả Lê Thị Luân
Trường học Trung Tâm Khoa Học Sản Xuất Văcxin Sabin
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 131,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sự nhân lên tối ưu của dòng virut Rota VNHR 203-030 trên tế bào thận khỉ tiên phát Macaca Mulatta Lê Thị Luân Trung tâm Khoa học Sản xuất Văcxin Sabin VNHR 203-30 là chủng

Trang 1

Nghiên cứu sự nhân lên tối ưu của dòng virut Rota VNHR 203-030 trên tế bào thận khỉ tiên phát Macaca

Mulatta

Lê Thị Luân

Trung tâm Khoa học Sản xuất Văcxin Sabin

VNHR 203-30 là chủng virut rota người G4P6,8; được phân lập từ bệnh phẩm phân có nguồn gốc

từ bệnh nhi nam 9 tháng tuổi vào viện Xanh Pôn vì tiêu chảy cấp năm 2000 Chủng này là ứng cử viên để sản xuất văcxin phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em Việt Nam Liều gây nhiễm trên tế bào thận khỉ tiên phát Macaca Mulatta là 0,1 FFU/1 tế bào

i Đặt vấn đề

Việt Nam là nước đang phát triển có dân

số gần 80 triệu người, với tỷ lệ sinh hàng năm

lớn (1,52 triệu trẻ em sơ sinh trong 1 năm) và

tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi cao (42,5 trẻ/

1000 trẻ /năm hay 9880 trẻ bị chết /năm)

trong số đó có 15,4% là do bị tiêu chảy [5]

Theo kết quả giám sát bệnh tiêu chảy trong 5

năm 1998 đến 2003 tại các bệnh viện lớn của

nước ta thì tiêu chảy do căn nguyên virut rota

chiếm 45% đến 60% trẻ vào viện do tiêu

chảy Nếu tỷ lệ chết do virut rota cũng theo tỷ

lệ đó hoặc một nửa tỷ lệ đó thì tỷ lệ tử vong do

nguyên nhân này là 4% đến 8% trong tổng số

trẻ em dưới 5 tuổi/năm Như vậy trong suốt 5

năm đầu tiên cứ 280-560 trẻ có 1 trẻ chết do

virut rota/năm [5] Đối với trẻ vào viện, tối

thiểu trẻ phải mất một tuần nằm viện, cha mẹ

của trẻ phải nghỉ việc ít nhất một tuần để

chăm sóc chúng do vậy chi phí cho đi lại,

thuốc men là rất tốn kém Theo thống kê của

Mỹ, hàng năm chi phí cho thuốc men điều trị

tiêu chảy do virut rota lên tới 246 triệu đô la

Dân số Mỹ gấp 3 lần dân số nước ta và coi

dịch vụ y tế cao hơn gấp 10 lần thì số chi phí

cho trẻ em Việt Nam bị tiêu chảy cũng phải

mất 9 triệu đô la Mỹ tương đương với 135 tỷ

đồng/năm Do vậy việc nghiên cứu sản xuất

văcxin không những dự phòng được căn bệnh

phổ biến đối với trẻ hiện nay mà còn góp

phần quan trọng trong công tác chăm sóc sức

khoẻ; đồng thời tiết kiệm chi phí cho các gia

đình có trẻ mắc bệnh và cho toàn xã hội

Hiện nay, trên thế giới các nhà khoa học

đã nghiên cứu rất nhiều về virut rota, đặc biệt

là nghiên cứu sản xuất văcxin phòng bệnh này ứng cử viên sáng giá nhất trong sản xuất văcxin là chủng virut rota dựa trên các týp gây bệnh cho trẻ em hoặc động vật Các týp này

được phân lập từ bệnh phẩm phân của trẻ hay

động vật, sau đó được dùng để tạo chủng văcxin trên các dòng tế bào theo những qui trình khác nhau Cho đến đầu năm 2004 một

số ứng cử viên văcxin sống giảm độc lực phòng bệnh tiêu chảy do virut rota đang tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai

đoạn cuối trước khi được cấp giấy phép sử dụng như văcxin từ chủng G1P8 (Rotarix) của hãng Glaxo Smith Lines; G10P12 của Lan Châu Trung Quốc; G3P6 của Australia;.G1,G2,G3,G4P8 (RotateqT) của Merk,

Cùng với các nước trên thế giới, nước ta thực hiện giám sát bệnh tiêu chảy do virut rota từ năm 1998 và đã xác định được 4 chủng chính gây bệnh đó là: G1; G2; G4; và G9 [5] Chủng G1 và G2 đã được cấy chuyển

và nhân lên trên tế bào [1,3] nhưng chỉ có chủng virus rota G4P6,8 là thích nghi trên tế bào thận khỉ tiên phát Chủng G4P6,8 (VNHR203) phân lập từ trẻ nam 9 tháng tuổi vào viện Xanh Pôn vì tiêu chảy cấp năm

2000 Chủng này được cấy chuyển thích nghi

30 lần trên các dòng tế bào thích hợp, đặc biệt là tế bào thận khỉ tiên phát Macaca Mulatta để tạo chủng cho nghiên cứu sản

Trang 2

xuất văcxin phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em

nước ta Để virut này nhân lên trên tế bào

thận khỉ có hiệu giá tối ưu trong nghiên cứu

sản xuất văcxin, điều nhất thiết phải tìm liều

gây nhiễm thích hợp Do vậy mục tiêu duy

nhất của nghiên cứu này là xác định liều gây

nhiễm để tạo hiệu giá cao nhất khi nhân

chúng trên tế bào thận khỉ tiên phát

ii Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

Sử dụng chủng virus rota phân lập và cấy

truyền trên tế bào thận khỉ tiên phát từ một

mẫu phân của 1 trẻ bị tiêu chảy cấp do virus

rota được gọi là VNHR-203-030 Chủng virus

này được chuẩn độ hiệu giá bằng phương

pháp miễn dịch huỳnh quang trên tế bào thận

khỉ bào thai rhesus (MA104) [2,3] và hiệu giá

tính bằng đơn vị huỳnh quang trong 1ml

(FFU/ml)

Nuôi tế bào thận khỉ tiên phát Macaca

Mulatta bằng môi trường LHE (Trung tâm

Khoa học Sản xuất văcxin Sabin sản xuất)

10% huyết thanh bê (Gibco- Mỹ) Tách tế bào

thận khỉ tiên phát một lớp theo tỷ lệ 1:5 và

nuôi chúng bằng môi trường 199 (Trung tâm

Khoa học Sản xuất văcxin Sabin sản xuất)

10% huyết thanh bê (Gibco-Mỹ) Khi tế bào

kín một lớp, đếm số lượng tế bào và sau đó

gây nhiễm tế bào bằng các liều gây nhiễm

khác nhau: (A)3,5 tế bào/ 1FFU; (B)4,5 tế

bào/ 1FFU; (C) 6,3 tế bào/1FFU; (D) 10 tế

bào /1FFU; (E) 30 tế bào/1FFU; (G) 32 tế

bào/1FFU; (H) 50 tế bào/1FFU; (I) 70 tế

bào/1FFU; (K) 90 tế bào/1FFU và (M) 100 tế

bào/1FFU

Hỗn dịch virus thu được từ các liều gây

nhiễm trên được bảo quản ở nhiệt độ -200C

hoặc -800C Chúng được đông tan 3 lần, sau

đó ly tâm 3000 vòng/1phút/10phút Lấy nước

nổi và chuẩn độ hiệu giá virus rota từ các mẫu

thu được bằng phương pháp miễn dịch huỳnh

quang như sau:

Bước 1: Nuôi tế bào MA104 một lớp trên

phiến nhựa 96 giếng, đáy phẳng (sản xuất tại

Đan Mạch-loạt số 047016) Rửa tế bào bằng

2 lần môi trường muối cơ bản Hank và 1 lần bằng môi trường 199 có chất ổn định pH (heppes), giữ phiến tế bào với môi trường 199 tại 370C đến khi gây nhiễm virut

Bước 2: Hoạt hóa virut VNHR-203-030

bằng dung dịch trysin IX (Gibco-Mỹ) tại 37oC

từ 30 đến 60 phút

Pha loãng virus bậc 10 bằng môi trường

199 hoặc DMEM có heppes và không có huyết thanh bê

Bước 3: Hút hết môi trường 199 tại các

giếng tế bào, cho 100àl hỗn dịch virus nồng

độ từ 10-1 đến 10-8 vào phiến, mỗi nồng độ 3 giếng, ủ phiến tại 370C trong 18 giờ

Bước 4: Cố định tế bào bằng dung dịch

formaldehyt 15àl/ giếng ở 40C trong 30 phút, sau đó bỏ hết môi trường và để khô tự nhiên Cho 100àl huyết thanh kháng thỏ đa giá (RRV) với tỷ lệ 1/5000 (pha với PBS 1% skimmilk) như kháng thể thứ nhất, để nhiệt độ phòng thí nghiệm 1 giờ, rửa 3 lần bằng PBS-Tween và cho 100àl kháng thể tinh khiết dê gắn huỳnh quang kháng IgG thỏ (ICN-Mỹ) có xanh Evanblu như một kháng thể thứ 2, để phòng thí nghiệm 2 giờ, sau đó rửa và để khô

tự nhiên

Bước 5: Đọc kết quả trên kính hiển vi

huỳnh quang vật kính 10

Tế bào bình thường là tế bào MA104 bắt màu da cam đậm

Tế bào nhiễm virus là tế bào bắt màu xanh phát quang

Hiệu giá virus là nồng độ pha loãng nhất

mà tại đó đếm được các điểm huỳnh quang màu xanh của tế bào nhiễm virut trên một giếng

Hiệu giá virut (FFU/ml)= n x1/ log 10-x x

10

Trong đó: n là số lượng điểm huỳnh quang

10-x là nồng độ pha loãng nhất có thể đếm

được điểm huỳnh quang

10 là hệ số tính hiệu giá trong 1ml

Trang 3

iii Kết quả

Kết quả nghiên cứu được trình bầy trong

các bảng sau:

Bảng 1 Hiệu giá chủng VNHR-203-030

Hiệu giá

Chủng

Log10n FFU/ml

VNHR-203-030 7,0

Bảng 1 cho kết quả hiệu giá chủng

VNHR203-030 là 107,0FFU/ml

Bảng 2 Hiệu giá của virus rota trên các

liều gây nhiễm khác nhau

Hiệu giá

Liều

gây

nhiễm

Số lượng tế

bào gây

nhiễm/1FFU Log10n

FFU/ml

FFU/ml

A 3,5 tế bào 6.84 6918309

B 4,5 tế bào 6.65 4466835

C 6,3 tế bào 6.95 8912509

D 10 tế bào 7.08 12022644

E 30 tế bào 6.76 5754399

G 32 tế bào 6.70 5011872

H 50 tế bào 6.72 5248074

I 70 tế bào 6.05 1122018

K 90 tế bào 6.48 3019951

M 100 tế bào 5.50 316227

Bảng 2 cho thấy hiệu giá cao tại 2 liều gây

nhiễm 6,3 tế bào/1FFU và 10 tế bào/1FFU tuy

nhiên hiệu giá cao hơn ở liều gây nhiễm là 10

tế bào/FFU (cao hơn 1,35 lần so với liều gây

nhiễm 6,3 tế bào/1FFU) Hiệu giá thấp dần

khi số lượng tế bào tăng và hiệu giá thấp nhất

là 100 tế bào/FFU

iv Bàn luận

Tế bào thận khỉ tiên phát Macaca Mulatta

là tế bào được tách từ tổ chức thận khỉ

Macaca Mulatta (khỉ nuôi tại đảo Rều Quảng

Ninh) và có thể cấy chuyển 3 lần liên tiếp Mỗi

đôi thận khỉ có thể tách được khoảng 100-120

chai roux tế bào Tế bào này được nuôi và

phát triển kín 1 lớp bằng môi trường LHE 10% huyết thanh bê trong 7 ngày Khỉ lấy thận

được kiểm tra nghiêm ngặt về các tác nhân ngoại lai theo phương pháp và tiêu chuẩn của

Tổ chức Y tế thế giới Khỉ và tế bào thận khỉ

được chấp nhận để nghiên cứu và sản xuất văcxin khi đã qua tất cả thử nghiệm theo yêu cầu của Tổ chức Y tế thế giới

Tế bào (MA104) có nguồn gốc từ tế bào thận bào thai khỉ rherus, được chọn lọc tạo thành dòng tế bào thường trực, dòng tế bào

có thể cấy chuyển nhiều lần mà không ảnh hưởng đến đặc tính của tế bào, được bảo quản ở -1960C và được cung cấp bởi Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát bệnh tật CDC-Atlantta-Mỹ, là nguồn tế bào nhạy cảm cho sự nhân lên của virus rota và dùng để sử dụng cho phân lập và kiểm tra hiệu giá virut rota

Virut rota nhóm A là virut chính gây bệnh cho trẻ em dưới 5 tuổi [4,5] Virut này rất khó nhân lên và thích nghi trên tế bào một lớp cho

đến khi sử dụng enzym trypsin hoạt hóa virut [6] Liều gây nhiễm virut cực kỳ quan trọng trong sự nhân lên của virut, không phải nồng

độ gây nhiễm cao là tạo ra sản phẩm có hiệu giá cao, cụ thể như nồng độ gây nhiễm từ 3,5

tế bào/ FFU đến 4,5 tế bào/FFU cho sản phẩm có hiệu giá thấp hơn tại nồng độ 6,3 tế bào/FFU và 10 tế bào/FFU Do vậy việc chọn

ra liều gây nhiễm thích hợp là vô cùng quan trọng Liều gây nhiễm thích hợp lượng virus rota tính theo đơn vị FFU sử dụng cho 01 tế bào mà tại đó tạo ra sản phẩm có hiệu giá cao nhất Như vậy liều gây nhiễm thích hợp cho chủng VNHR203-030 là 0,1FFU virus rota/ 1 tế bào Liều gây nhiễm này cao hơn so với liều gây nhiễm của chủng virut bại liệt trong sản xuất văcxin bại liệt sống uống (0,0033PFU virus bại liệt/1 tế bào thận khỉ tiên phát) và cũng cao hơn liều gây nhiễm chủng virut viêm gan A trong sản xuất văcxin viêm gan A (0,05PFU virus viêm gan A/1 tế bào thận khỉ tiên phát)

Trang 4

V Kết luận

Chủng virut rota VNHR203-030 nhân lên

tốt nhất trên tế bào thận khỉ tiên phát khi liều

gây nhiễm là 0,1 đơn vị miễn dịch huỳnh

quang trên một tế bào (0,1FFU/ 1 tế bào)

Lời cảm ơn

Nghiên cứu này là công trình nghiên cứu

lần đầu tiên tại nước ta về virut rota, nghiên

cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm

chuẩn tại Trung tâm Khoa học Sản xuất

Văcxin Sabin, số 135 phố Lò Đúc-Hà Nội

Nghiên cứu này là một trong những nội dung

giám sát bệnh tiêu chảy do virut rota tại Việt

Nam năm 2003 đề tài hợp tác với Trung tâm

Phòng chống và Kiểm soát Bệnh tật (CDC)

Atlantta-Mỹ và dưới sự tài trợ của Tổ chức Y

tế thế giới và của Trung tâm Khoa học Sản

xuất Văcxin Sabin Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn

sâu sắc tới Gs Nguyễn Văn Mẫn chủ nhiệm

đề tài hợp tác, đã tạo mọi điều kiện cho tôi

chủ động thực hiện nghiên cứu Tôi cũng xin

chân thành cảm ơn tới: Ts Nguyễn Thị Quỳ;

Ts Nguyễn Đăng Hiền; Cn Lê Trung Dũng;

Cn Trần Bích Hạnh và Cn Nguyễn ánh Tuyết

Trung tâm Khoa học Sản xuất Văcxin Sabin

đã giúp tôi thực hiện nghiên cứu này

Tài liệu tham khảo

1 Lê Thị Luân Quá trình chọn lọc chủng

virut rota týp G2 trên nuôi cấy tế bào Tạp chí Y

học thực hành; Số 9 (460); Trang 13-15; 2003

2 Lê Thị Luân Nuôi cấy virut rota gây bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi trên tế bào thận khỉ Rherus châu Phi; Tạp chí Y học thực hành, Số 10 (463), trang 52-53; 2003

3 Lê Thị Luân Chọn lọc chủng virut rota G1 trên tế bào thận khỉ Macaca Mulatta Tạp chí Y học Thực hành số 9 (460); trang 54-56;2003

4 Nigel A.C., Jailosi S.G., Robin L.B., et

al Rotavirus G and P types in children with acute diarrhea in Blantyre, Malawi, from 1997

to 1998: Predominance of Novel P6G8 strains Journal of Medical Virology 57: 308-312; 1999

5 Nguyen Van Man and et al The Epidermiology and Disease Burden of rotavirus in Vietnam: Sentinel Surveillance at

6 hospitals The journal of infectious Disease

in America; volume 183: 1707-1712; 2001

6 Esparza J., Gorziglia M., Gil F., and Romer H Multiplication of Human Rotavirus

in cultured cells: an Electron Microscopic Study J.Gen.Virol.,47, 461-472; 1980

Sumary

The study of priority multiplication rotavirus VNHR 203-030

on Macaca Multta primary monkey kidney cells

VNHR 203-030 is human rotavirus strain G4P6,8 It was isolated from stool sample of male patient- 9 month of age He addmited Saint Pont hospital cause by acute diarrhea This strain was passaged 30 times in the cell culture It is candidate for producing rotavaccine It's M.O.I is 0.1 FFU virus rota/ 1 Primary monkey kidney cells

Ngày đăng: 20/03/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 cho kết quả hiệu giá chủng - Nghiên cứu sự nhân lên tối ứu của dòng Virus Rota VNHR 203 - 030 trên tế bào thận khỉ Tiên Phát Macaca potx
Bảng 1 cho kết quả hiệu giá chủng (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm