coli gây tiêu chảy từ phân Nguyễn Vũ Trung 1 , Lê Huy Chính 1 , Lê Văn Phủng 1 , Andrej Weintraub 2 1 Bộ môn Vi sinh, Đại học Y Hà Nội, 2 Khoa Vi sinh -Miễn dịch -Bệnh học Bệnh viện H
Trang 1Phát triển và ứng dụng kỹ thuật PCR đa mồi
trong chẩn đoán E coli gây tiêu chảy từ phân
Nguyễn Vũ Trung 1 , Lê Huy Chính 1 ,
Lê Văn Phủng 1 , Andrej Weintraub 2
1 Bộ môn Vi sinh, Đại học Y Hà Nội,
2 Khoa Vi sinh -Miễn dịch -Bệnh học Bệnh viện Huddinge, Viện Karolinska-Thuỵ Điển
Kỹ thuật PCR đa mồi lần đầu tiên được nghiên cứu thành công ở Việt nam bằng cách phối hợp
8 cặp mồi để chẩn đoán 5 loại E coli gây tiêu chảy (ETEC, EHEC, EIEC, EPEC, EAEC) từ phân trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy Kỹ thuật này cho phép chẩn đoán chính xác 5 loại E coli gây tiêu
chảy chỉ bằng một phản ứng PCR với độ nhạy và độ đặc hiệu gần 100% và tiết kiệm nguyên vật liệu, thời gian gấp 5 lần so với tiến hành từng phản ứng PCR riêng biệt Qua phân tích 310 bệnh
phẩm phân tiêu chảy, 90 chủng E coli gây bệnh đã được phân lập chiếm 29,04% tổng số các bệnh
phẩm Trong đó, EAEC là 58 chủng chiếm 18,71%, ETEC 2 chủng (0,65%), EPEC 24 chủng (7,7%), và EIEC 6 chủng (1,94%)
i Đặt vấn đề
Tiêu chảy là một vấn đề sức khoẻ toàn cầu
Bệnh hay gặp ở trẻ em ở các nước đang phát
triển, có ít nhất 1 tỷ trường hợp tiêu chảy hàng
năm và số tử vong là 5 đến 7 triệu Trung bình
một năm một trẻ mắc 3,3 lần tiêu chảy Tại
Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy, số lần
bị tiêu chảy trong một năm đối với một trẻ từ
2,2 – 6 Tại các nước công nghiệp phát triển,
tiêu chảy vẫn còn phổ biến ở trẻ em, người già
và các khách du lịch đến các nước đang phát
triển Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy
Trong đó, vi khuẩn đóng vai trò quan trọng
Trong số các vi khuẩn gây tiêu chảy, E coli
hiện nay là căn nguyên nổi trội, thu hút được sự
quan tâm của các bác sĩ lâm sàng, nhi khoa, vi
sinh vì nó là căn nguyên của 1/3 số trường hợp
tiêu chảy Việc chẩn đoán gặp khó khăn vì các
triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu Có 5 loại
E coli gây tiêu chảy, được phân loại theo các
cơ chế gây bệnh khác nhau dựa trên các gien
nằm trong tế bào vi khuẩn mã hoá cho các yếu
tố độc lực: Enteropathogenic E coli (EPEC),
enterohemorrhagic E coli (EHEC),
enterotoxigenic E coli (ETEC), enteroinvasive
E coli (EIEC) và enteroaggregative E coli
(EAEC) [3, 4] Hiện nay có bốn phương pháp
được dùng để chẩn đoán các E coli này:
• Dựa vào các tính chất sinh vật hoá học
• Định týp huyết thanh
• Các thử nghiệm dựa trên những đặc
điểm về độc lực
Các phương pháp này hầu như không thể chẩn đoán được hoặc rất tốn kém
• Các phương pháp sinh học phân tử:
+ Hiện nay chủ yếu là hai phương pháp: Mẫu dò ADN (ADN probe) và phản ứng chuỗi (Pylymerase Chain Reaction - PCR) Tuy nhiên độ nhạy của phương pháp mẫu dò ADN
Trang 2thấp, thao tác phức tạp và đòi hỏi một số lượng
lớn vi sinh vật trong bệnh phẩm
+ PCR là kỹ thuật tổng hợp acid nucleic
trong ống nghiệm Trong đó, một đoạn ADN
được nhân lên đặc hiệu Trong kỹ thuật này, hai
đoạn oligonucleotid, được gọi là mồi, gắn đặc
hiệu vào đoạn ADN đích và được khuếch đại
theo một số chu kỳ được lặp đi lặp lại Chu kỳ
này gồm việc làm tách hai sợi của đoạn ADN,
gắn hai oligonucleotid vào hai sợi này theo
nguyên tắc bổ sung và kéo dài đoạn
oligonucleotid dưới tác động của enzym ADN
polymerase Trong PCR, ADN đích được tăng
lên theo hàm số mũ sau mỗi chu kỳ Sản phẩm
của PCR được phát hiện sau khi điện di trên
agarose, nhuộm bằng ethidium bromide và đọc
dưới ánh sáng đèn cực tím
PCR là phương pháp đang được áp dụng
rộng rãi vì cho kết quả nhanh, chính xác, độ
nhạy và độ đặc hiệu cao Hiện nay, trên thế
giới, PCR đang được nghiên cứu và ứng dụng
trong chẩn đoán E coli gây tiêu chảy Bình
thường trong một phản ứng PCR, người ta dùng
một cặp mồi để khuếch đại một đoạn gien đặc
hiệu Để chẩn đoán xem trong bệnh phẩm có 1
trong số 5 loại E coli gây tiêu chảy cần ít nhất
6 PCR riêng rẽ Như vậy rất tốn kém Vấn đề
đặt ra là làm sao xác định được vi khuẩn này
mà chỉ cần duy nhất 1 phản ứng PCR ? Nếu
vậy, chúng ta không những tiết kiệm được
nguyên vật liệu và thời gian mà còn tránh được
sự nhiễm trong kỹ thuật này Vì vậy, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu này nhằm hai mục tiêu:
1 Phát triển kỹ thuật PCR đa mồi trong
chẩn đoán E coli gây tiêu chảy
2 ứng dụng kỹ thuật này để chẩn đoán các
E coli gây tiêu chảy từ phân trẻ em dưới năm
tuổi bị tiêu chảy
II đối tượng và Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu Đánh giá một nghiệm
pháp chẩn đoán và nghiên cứu mô tả
PCR chẩn đoán E coli gây tiêu chảy từ
bệnh phẩm phân Chúng tôi sử dụng thường
qui chẩn đoán E coli gây tiêu chảy bằng PCR
theo thường qui của Khoa Vi sinh lâm sàng, Bệnh viện Huddinge, Viện Karolinska, Stockholm, Thuỵ Điển Bệnh phẩm phân sau khi thu thập được cấy lên trên môi trường cho
vi khuẩn đường ruột, để ở 370 C sau 18-24 giờ
Vi khuẩn trên đĩa môi trường được hoà vào dung dịch đệm phosphat, đun cách thuỷ ở
1000C trong 20 phút để phá vỡ màng tế bào vi khuẩn ADN của vi khuẩn được giải phóng Ly tâm dịch này với tốc độ 4000 vòng/phút trong
10 phút Nước nổi sau khi ly tâm dùng làm ADN khuôn cho phản ứng PCR Các cặp mồi
được thiết kế đặc hiệu với một số đoạn gen của ETEC, EHEC, EPEC, EIEC, EAEC (INTERACTIVA, Đan Mạch)
Sản phẩm của PCR sau đó được điện di trên agarose 1,5% trong dung dịch đệm TAE để tách biệt các ADN đã được khuếch đại Nhuộm gel sau khi điện di bằng Ethidium bromide và nhìn dưới đèn cực tím sẽ cho phép thấy được các băng ADN đặc hiệu So sánh các băng này với các băng của ADN mẫu
Đoạn gen đích
Mồi Vi khuẩn Cỡ sản
phẩm
elt B LTl-r ETEC 322 bp
est A STI2l-r ETEC 147 bp
vt 1 VT1l-r EHEC 130 bp
vt 2 VT2l-r EHEC 298 bp
eae A eae u-l EHEC/ EPEC 376 bp
bfp A bfpA2u-l EPEC 367 bp
Trang 3pCVD EA1-2 EAEC 630 bp
Tiêu chuẩn tối thiểu:
ETEC: Có gen eltB và/hoặc estA
EHEC: Có gen vt1 và/hoặc vt 2 Có gen
eaeA,EHEC điển hình
EPEC: Có gen bfpA và eaeA
EIEC : Có gen ial
EAEC : Có gen pCVD
Taq polymerase, MgCl2 và Buffer do Hãng
Perkin Elmer, Mỹ cung cấp
Lấy bệnh phẩm, nuôi cấy phân lập, xác
định E coli được tiến hành theo thường qui
Các chủng E coli 5 chủng E coli gây tiêu
chảy chuẩn quốc tế, 238 chủng E coli từ phân
đã được xác định bằng nhiều phương pháp khác
nhau gồm 99 chủng gây tiêu chảy, 139 chủng
không gây tiêu chảy được cung cấp từ Khoa Vi sinh lâm sàng của Bệnh viện Huddinge-Viện Karolinska-Thuỵ Điển, Trung tâm kiểm soát bệnh nhiễm trùng của Thuỵ Điển, Trung tâm lưu giữ chủng của Trường Đại học
Goterborg-Thuỵ Điển, dự án nghiên cứu về E coli gây
tiêu chảy giữa Thuỵ Điển và Nicaragua
Bệnh phẩm phân 310 mẫu phân từ trẻ
dưới 5 tuổi bị tiêu chảy được thu thập ở 3 bệnh viện tại Hà Nội
III Kết quả
1 Phát triển kỹ thuật PCR đa mồi
Chúng tôi đã phối hợp thành công 8 cặp mồi trong một phản ứng để chẩn đoán cùng một lúc
5 loại E coli gây tiêu chảy trong phân
PCR đơn mồi PCR đa mồi
1 Nước cất : 11,5 àl
2 Đệm ì10 : 2,0 àl
3 dNTPs (1,25mM) : 1,6 àl
4 MgCl2 25 mM : 1,2 àl
5 Mồi 2,5 àM : 1,6 àl
6 Taq 5 UI/ àl : 0,1 àl
7 ADN từ vi khuẩn : 2,0 àl
1 cặp mồi trong một phản ứng
Thể tích: 20,0 àl
1 Nước cất : 6,7 àl
2 Đệm ì 10 : 2,0 àl
3 dNTPs (1,25mM) : 1,6 àl
4 MgCl2 25 mM : 1,2 àl
5 Mồi 2,5 àM : 6,4 àl
6 Taq 5 UI/ àl : 0,1 àl
7 ADN từ vi khuẩn : 2,0 àl
8 cặp mồi trong một phản ứng
Thể tích: 20,0 àl
Trang 4
Bảng 1 Ưu điểm cuả PCR đa mồi
ADN mẫu 2,0 àl 12,0 àl 2,0 àl 10,0 àl
Thể tích 20,0 àl 120,0 àl 20,0 àl 100,0 àl Qua bảng trên chúng tôi thấy, kỹ thuật PCR đa mồi cho phép tiết kiệm thời gian và nguyên vật liệu (khoảng 5 lần) so với chạy riêng rẽ từng PCR
1 2 3 4 5 6 7
1636
1018
506,517
396
344
298
220
201
154
134
Hình ảnh điện di kết quả PCR đa mồi với các chủng E coli chuẩn (kích cỡ bp)
1 E coli 2 EIEC 3 EHEC 4 ETEC 5 EAEC 6 EPEC 7 ADN mẫu
+ Kỹ thuật PCR đa mồi đ−ợc thực hiện với các chủng E coli chuẩn và cho kết quả rất tốt Chúng tôi đã thực hiện phản ứng này rất nhiều lần để kiểm tra độ ổn định của phản ứng trên các chủng E
coli chuẩn quốc tế và các chủng đ−ợc cung cấp, độ lặp lại là 100%
Trang 5Bảng 2 Độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật PCR đa mồi
E coli
PCR
Gây tiêu chảy (n = 99) Không gây tiêu chảy (n = 139)
Tổng số
(n = 238)
= 99 / 99 = 100%
Số E coli gây tiêu chảy dương tính với PCR đa mồi
Độ nhạy =
Tổng số E coli gây tiêu chảy
Số E coli không gây tiêu chảy âm tính với PCR đa mồi
Tổng số E coli không gây tiêu chảy
= 139 /139 = 100%
Độ đặc hiệu =
Bảng 3 Phân bố các E coli gây tiêu chảy phân lập được từ phân
Bảng 3 cho thấy, khoảng 30% số các bệnh phẩm phân tiêu chảy có E coli thuộc một trong 5 loại
E coli gây tiêu chảy, trong đó chiếm đa số là EAEC
Kết quả PCR một số chủng E coli gây tiêu chảy từ phân
1636
1018
506, 517
396
344
298
220, 201
154, 134
1 2 3 4 5 6 7
1 ADN marker 2 EIEC 3 EPEC 4 ETEC 5 EAEC
6 Chứng (+) EIEC 7 Chứng (-) E coli không gây tiêu chảy Kích cỡ (bp)
Trang 6Bảng 4: So sánh E coli gây tiêu chảy xác định bằng PCR với nuôi cấy phân lập (NCPL) từ 310 mẫu phân
Nếu chỉ dùng phương pháp nuôi cấy phân lập đơn thuần, chúng ta không xác định được các
chủng E coli gây tiêu chảy từ phân
Bảng 5 Một số tính chất sinh vật hoá học chính của các chủng E coli gây tiêu chảy
so sánh với các chủng E coli không gây tiêu chảy
Lên men đường
Di
động
Sinh hơi
Sinh
urease
Sinh
H2 S
Indole
E coli* TK (-) + + +/- +/- +/- - - +
E coli** TK (-) + + +/- +/- +/- - - +
*, E coli gây tiêu chảy ; **, E coli bình thường trong đại tràng
Qua bảng 5 chúng ta thấy không thể phân
biệt các E coli gây tiêu chảy với các E coli
thuộc thành phần khuẩn chí bình thường bằng
các tính chất sinh vật hoá học thông thường
iv Bàn luận
Cho đến nay, vẫn chưa có dấu ấn đặc trưng
nào dựa trên tính chất sinh vật hoá học cũng
như kháng nguyên có thể dùng để phân biệt
các chủng E coli gây bệnh với các chủng E
coli thuộc vi hệ bình thường trong đại tràng
Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đều có
chung một nhân xét rằng PCR là phương pháp
đơn giản, dễ thực hiện và có độ nhậy cao hơn
hẳn các phương pháp khác Độ nhậy và độ đặc
hiệu của phương pháp này đạt tới 90-100% [2]
PCR giúp chẩn đoán một cách nhanh chóng các
tác nhân gây bệnh trên lâm sàng Đối với chẩn
đoán E coli gây tiêu chảy từ bệnh phẩm phân,
lúc đầu các tác giả dùng từng cặp mồi riêng rẽ
để phát hiện từng gien đích Về sau, nhiều cặp
mồi đã được phối hợp để chẩn đoán một hoặc
nhiều loài E coli gây tiêu chảy Jan Olsvik và
Sandrinsa Tacyphipps đã thành công trong việc
dùng 2 cặp mồi LTI và STII trong 1 phản ứng để chẩn đoán ETEC với độ nhạy 100% James B
và cộng sự sử dụng 4 cặp mồi trong một phản ứng kết quả độ nhậy 98,9% Akioabe đã phối hợp 5 cặp mồi trong một phản ứng và kết quả
cho thấy độ nhậy 100% [2, 8] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi sử dụng 8 cặp mồi trong 1 phản ứng PCR có độ nhậy và độ đặc hiệu gần 100% Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy PCR đa mồi dựa trên sự phối hợp 8 cặp mồi đảm bảo
được độ tin cậy về độ nhạy và độ đặc hiệu
trong chẩn đoán 5 loại E coli gây tiêu chảy
Ngoài ra, sử dụng 8 cặp mồi trong một phản ứng giúp tiết kiệm về thời gian và nguyên vật liệu gấp 5 lần so với dùng riêng rẽ từng cặp mồi Thêm nữa, khi giảm số lần tiến hành các phản ứng PCR chúng ta sẽ làm giảm sự nhiễm của phản ứng này Một vấn đề đáng lo ngại của
kỹ thuật PCR
Khi tiến hành kỹ thuật PCR đa mồi trên các bệnh phẩm phân ở trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu
chảy, chúng tôi đã phân lập được 90 chủng E
coli gây bệnh chiếm 29,04% tổng số các bệnh
phẩm Trong đó, EAEC là 58 chủng chiếm
Trang 718,71% Điều đáng nói ở đây là, chúng tôi đã
phát hiện và phân lập được 4 loại E coli gây
tiêu chảy với các tỷ lệ khác nhau Nhiều nhất là
EAEC (18,71%) và ít nhất là ETEC (0,65%)
So với một số tác giả khác, như tại ấn Độ tỷ lệ
E coli gây tiêu chảy chiếm 29,5%, Thái Lan
21% thì tỷ lệ phân lập E coli gây tiêu chảy của
chúng tôi cũng giống như nhiều tác giả khác [6,
7] Tuy nhiên, sự phân bố các loài E coli gây
tiêu chảy trong nghiên cứu của chúng tôi có
khác so với một số tác giả Điều này cũng
tương tự như nhiều nghiên cứu trên thế giới vì
tỷ lệ các vi khuẩn này phụ thuộc vào từng vùng
địa lý khác nhau
Khi so sánh các tính chất sinh vật hoá học
chính của các chủng E coli gây tiêu chảy với
các chủng E coli thuộc thành phần khuẩn chí
bình thường, chúng tôi thấy các đặc điểm này
giống nhau Điều này càng khẳng định những
nghiên cứu trước kia của các tác giả cho rằng,
không thể phân biệt các E coli gây tiêu chảy
với các E coli thường bằng các tính chất sinh
vật hoá học và các đặc điểm về hình thể cũng
như bắt màu Gram, đây là phương pháp dùng
phổ biến hiện nay tại các khoa vi sinh của các
bệnh viện Như vậy, kỹ thuật PCR là một
phương tiện chẩn đoán rất có hiệu quả các loại
E coli này
V Kết luận
PCR đa mồi đã được phát triển thành công
trong chẩn đoán E coli gây tiêu chảy
Độ nhạy và độ đặc hiệu đạt gần 100%
Sử dụng kỹ thuật PCR đa mồi trong chẩn
đoán E coli gây tiêu chảy giúp tránh lây
nhiễm, tiết kiệm thời gian, nguyên vật liệu gấp
5 lần so với dùng PCR đơn mồi
Kỹ thuật PCR đa mồi đã được ứng dụng
thành công trong chẩn đoán E coli gây tiêu
chảy trong phân
Tài liệu tham khảo
1 Hoàng Thu Thủy.: Góp phần nghiên cứu
các chủng Escherichia coli gây tiêu chảy cấp ở trẻ em tại Hà Nội, Luận án Phó tiến sỹ y học,
Viện vệ sinh dịch tễ 1988
2 Akio Abe, Hiromi Obata, Shigeru Matsushita, Sumio Yamada, Yasuo Kudoh.: A sensitive method for the detection of
enterotoxigenic Escherichia coli by the
polimerase chain reaction using multiple
primer pairs, Zbl, Bakt 1992, Vol 277:
170-178
3 Bardhan PK, Albert MJ, Alam NH.: Small bowel and fecal microbiology in children suffering from persistent diarrhea in
Bangladesh, J Pediatr Gastroenterol Nutr
1998, 26(1): 9-15
4 James P Nataro and James.B Kaper.: Diarrheagenic Escherichia coli, Clinical Microbiol Revews 1998, 4 :142-210
5 Jan Holmgren and Ann- Mari Svennerholm.: Bacterial enteric infection and
vaccine development, Gastroenterology Clinics
of North America 1992, 21(2): 283-302
Enteropathogenic Escherichia coli diarrhea in children and in young adults, India J pathol
Microbiol 1995, Vol 38(2): 153-8
7 Leutin B, K.Gleier, Peter Echeverria.: Origin and characteristics of enteroinvasive
strain of Escherichia coli (EIEC) isolated in Germany, Epidemiol Infect 1997, 118:
199-205
8 Okeke IN, Lamikaran A, Steinruck H,
Kaper JB.: Characterization of Escherichia coli
from cases of childhood diarrhea in provincial
Southwestern Nigeria, J Clin Microbiol 2000,
Vol 38(1) : 7-12
Trang 8Summary
Development and application of multiplex PCR to
diagnose diarrheogenic EScherichia coli from feces
A multiplex PCR has been developed successfully for the first time by combining 8 pairs of primers
to diagnose 5 different types of diarrheogenic Escherichia coli (ETEC, EHEC, EIEC, EPEC,
EAEC) from fecal samples of children under 5 years old The advantages of this technique are that
it allows to diagnose these pathogens with its sensitivity and specificity nearly 100% In addition, it can save reagents 5 times less than separate PCRs 310 fecal samples from children with diarrhea under 5 years old at 3 hospitals in Hanoi were analysed by the multiplex PCR EAEC (18.7%) was the most common causal agent, followed by EPEC (7.74%), EIEC (1.94%) and ETEC (0.65%) The results suggest that a promissing application of multiplex PCR will be used to diagnose
diarrheogenic E coli