ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT BÀI TIỂU LUẬN Đề tài Luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài Môn học Tư pháp quốc tế Mã học phần 221TP0108 T.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
- -BÀI TIỂU LUẬN
hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
TP.HCM, ngày 20 tháng 11 năm 2020.
1
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài 6
6 Bố cục của Bài tiểu luận 6
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG HỢP ĐỒNG VÀ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 4
1 Khái niệm về hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nước ngoài: 4
1.1 Khái quát chung về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam: 4
1.2 Khái niệm về hợp đồng có yếu tố nước ngoài: 5
2 Ý nghĩa của việc xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ hợp đồng: 10
CHƯƠNG 2: LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 10
1 Quyền tự do lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài: 10
2 Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài: 13
3 Giới hạn của quyền tự do lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài: 15
3.1 Giới hạn về phạm vi: 15
3.2 Giới hạn về nội dung pháp luật: 16
3.3 Giới hạn về nghĩa vụ chứng minh pháp luật nước ngoài: 17
3.4 Giới hạn về khả năng lựa chọn đồng thời nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng: 19
4 Luật lựa chọn khi các bên không lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài: 20
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 22
PHẦN KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
2
Trang 3Quy định Rome I của Hội đồng Châu
Âu năm 2008 về luật áp dụng đối với
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xu thế tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Nền kinh
tế thị trường mở là điều kiện cốt lõi cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực pháttriển mạnh mẽ Kéo theo đó là sự phát triển của nhiều ngành, nghề, lĩnh vực mới đòi hỏipháp luật cần phải cập nhật liên tục nhằm điều chỉnh kịp thời, hiệu quả các mối quan hệpháp luật đó Để đáp ứng quá trình hội nhập, các chủ thể ở các quốc gia khác nhau thường
có xu hướng giao kết các hợp đồng mang tính quốc tế Những hợp đồng có yếu tố nướcngoài này với tư cách là một bản cam kết, bản ghi nhớ để các bên thực hiện đúng và đủcác thỏa thuận đã được cam kết trước đó; loại hợp đồng này đang dần trở nên phổ biến,thịnh hành ở nhiều ngành, nghề trong xã hội
Đứng trước bối cảnh đó, với các chức năng và quyền lực của mình Nhà nước cần
có những biện pháp thích hợp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật vềhợp đồng có yếu tố nước ngoài Với tính chất phức tạp của nó, các chủ thể liên quan nóichung và các thương nhân nói riêng sẽ khó tránh khỏi những tranh chấp phát sinh trongquá trình hoạt động, những rủi ro pháp lý trong quá trình giao kết và thực hiện loại hợpđồng này Đặc biệt, quyền và nghĩa vụ của các bên luôn là yếu tố hàng đầu cần được xemxét, đảm bảo và thực thi một cách toàn diện, hiệu quả nhất Tuy nhiên trên thực tế, nhữngquy định về hợp đồng có yếu tố nước ngoài vẫn đang để lại nhiều bất cập, ý kiến tráichiều xoay quanh từ đó gây ra nhiều khó khăn trong quá trình xét xử của Tòa án, Trọngtài thương mại cũng như đem lại nhiều rủi ro pháp lý cho các chủ thể liên quan Nắm bắt
được tầm quan trọng và những vấn đề nói trên, em lựa chọn thực hiện đề tài “Luật áp
dụng đối với quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài“ để có cái nhìn toàn diện hơn về
mặt lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề này
4
Trang 52 Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo các tìm hiểu cá nhân, nhận thấy hiện nay các giáo trình, các sách chuyênkhảo, luận văn tại Việt Nam chưa cập nhật đầy đủ, các thông tin liên quan đến luật ápdụng trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài Đó cũng chính là lý do tồn tại đề tài của bàitiểu luận này
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài
Phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất những quan điểm, kiến nghị để hoàn thiệncác quy định về luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo phápluật Việt Nam và pháp luật quốc tế
Hiểu và vận dụng các kiến thức chuyên sâu trong các lĩnh vực tư pháp quốc tế đểphân tích, tổng hợp và giải quyết các vấn đề pháp lý cụ thể
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy phạm pháp luật xung đột về hợp đồng
có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật dân sự 2015 và các quy định pháp luật khác có liênquan
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu hướng tới phân tích chủ yếu các quy định
về giải quyết xung đột về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật dân
sự 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan Đề tài chỉ phân tích tập trung vàoquy phạm pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài và những quy định này còn nhiềubất cập, không phù hợp với tình hình thực tế hoặc gây khó khăn trên thực tế khi áp dụng
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
5
Trang 6luật học so sánh và phương pháp thu thập thông tin để giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra.Các phương pháp này được sử dụng linh hoạt trong các phần khác nhau của bài tiểu luận.
Ngoài ra, bài tiểu luận còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh tính phổbiến của pháp luật quốc tế và pháp luật các nước trong lĩnh vực giải quyết xung đột phápluật về hợp đồng Đồng thời cũng đã kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong quátrình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
Bài tiểu luận đã giới thiệu, khái quát và trình bày một cách tổng hợp quy định của
Bộ luật dân sự 2015 và các quy định pháp luật liên quan về chế định hợp đồng và việc áp dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Bài tiểu luận đã làm rõ thêm một số quan điểm, đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến luật áp dụng trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài
6 Bố cục của Bài tiểu luận
Bài tiểu luận bao gồm ba chương chính:
Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng và hợp đồng trong tư pháp quốc tế
Chương 2: Luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về luật áp dụng trong quan hệ hợp
đồng có yếu tố nước ngoài
6
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG HỢP ĐỒNG VÀ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm về hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nước ngoài:
1.1 Khái quát chung về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam:
1.1.1 Khái niệm:
Hợp đồng có thể hiểu đơn giản là một cam kết giữa hai hay nhiều bên nhằm phátsinh một hệ quả pháp lý nào đó mà việc thực hiện các thỏa thuận đó không trái với cácquy định của pháp luật, không vi phạm thuần phong mỹ tục và không trái với đạo đức xãhội
Dưới góc độ pháp lý, căn cứ theo quy định tại Điều 385 BLDS 2015 thì hợp đồng
được hiểu là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự" Mặc dù hợp đồng được xem xét dưới tư cách là một luật tư1, tuy nhiên
để hợp đồng có giá trị pháp lý và có khả năng thực thi được trên thực tế thì việc xác lập,thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải dựa trên những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại Điều 3 của Bộ luật này Theo đó, các bênphải thực hiện hợp đồng một cách trung thực, thiện trí; việc xác lập hợp đồng phải dựatrên nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng, không ép buộc hay chi phối về mặt ý chí
1.1.2 Hình thức của hợp đồng:
Để tăng tính linh hoạt, chủ động, sáng tạo cho các bên trong việc thực hiện và giaokết hợp đồng; pháp luật dân sự hiện hành quy định hợp đồng có thể được thể hiện dưới bahình thức chính là văn bản, hành vi hoặc lời nói2 Thứ nhất, nhằm nâng cao tính xác thực
về những nội dung đã cam kết, các bên có thể ghi nhận nội dung giao kết hợp đồng bằngmột văn bản Cụ thể, nội dung trong hợp đồng phải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản củahợp đồng và cùng ký tên xác nhận vào văn bản đó Trong trường hợp phát sinh tranh
1 Luật của các bên
2 Điều 401 Bộ luật dân sự 2015
4
Trang 8chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản sẽ được xem là một chứng cứ pháp
lý chắc chắn hơn so với các hình thức khác Hơn thế nữa, căn cứ vào các nội dung đã thỏathuận trong văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đốivới bên kia Vì vậy hợp đồng được lập bằng văn bản được coi như là một bằng chứng choviệc giao kết hợp đồng giữa các bên, đồng thời cũng chứng minh được quyền dân sự của
các bên tham gia Thứ hai là mặc dù đề cao hình thức văn bản của hợp đồng, tuy nhiên để
làm giảm tình trạng “hành chính hóa” trong quan hệ hợp đồng, pháp luật cũng thừa nhậnhình thức giao kết bằng lời nói (hay thường được biết đến với cái tên hợp đồng miệng).Bằng việc lựa chọn hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệngvới nhau về những nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành
vi nhất định đối với nhau Hình thức này thường được áp dụng đối với những trường hợpcác bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau và thêm vào đó là các đối tác lâu năm hoặc là nhữnghợp đồng mà sau khi giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt Tuy nhiên rủi ro pháp lý khi phátsinh tranh chấp đối với dạng hợp đồng này sẽ rất cao, bởi các bên sẽ rất khó trong việc
chứng minh việc giao kết đó Cuối cùng, bên cạnh những hình thức nói trên, hợp đồng
còn có thể thực hiện bằng các hình thức khác như bằng các hành vi ( có thể được thể hiệndưới dạng hành động hoặc không hành động) miễn là những hành vi đó phải chứa đựngthông tin cho bên kia hiểu và thỏa thuận giao kết trên thực tế
Tuy nhiên không phải lúc nào các bên cũng được tự do lựa chọn hình thức hợpđồng, đối với các hợp đồng mà pháp luật bắt buộc phải giao kết theo một hình thức nhấtđịnh thì các bên bắt buộc phải tuân theo những hình thức đó
1.2 Khái niệm về hợp đồng có yếu tố nước ngoài:
1.2.1 Khái niệm về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
và một số quốc gia trên thế giới:
Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mà mỗi quốc gia khác nhau sẽ cónhững quy định khác nhau về khái niệm hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng có yếu tố nước ngoài là loại hợp đồng dân sựtheo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 663 BLDS
5
Trang 92015, việc xác định hợp đồng có yếu tố nước ngoài sẽ phụ thuộc vào việc hợp đồng đó cóđáp ứng được một trong ba yếu tố chính là chủ thể, khách thể và sự kiện pháp lý liên
quan Thứ nhất, một hợp đồng được xem là có yếu tố nước ngoài khi và chỉ khi “có ít
nhất một bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài” Việc xác định một cá nhân là
người nước ngoài hay người Việt Nam sẽ dựa vào yếu tố nhân thân là quốc tịch của cánhân đó, nếu cá nhân đó thỏa mãn được các điều kiện quy định tại Điều 14 hoặc cáctrường hợp ngoại lệ được quy định tại Điều 19 LQT 2008 (sửa đổi bổ sung 2014) thì sẽmặc nhiên được xem là có quốc tịch Việt Nam Ngược lại, một các nhân được xem là cóquốc tịch nước ngoài khi họ không có quốc tịch Việt Nam hoặc trong trường hợp họ cómột hay nhiều quốc tịch nước ngoài Tương tự với cá nhân, một pháp nhân được xem làpháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó được thành lập ở nước ngoài3 và ngược lại thì sẽ
được xem là pháp nhân Việt Nam Thứ hai, một hợp đồng thuộc đối tượng điều chỉnh của
tư pháp quốc tế Việt Nam khi và chỉ khi “Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam,
pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài” Theo đó,
khi các bên giao kết một điều khoản trong hợp đồng mà tài sản hoặc công việc cần phải
thực hiện tọa lạc ở nước ngoài thì mặc nhiên hợp đồng này sẽ có yếu tố nước ngoài Cuối
cùng, yếu tố nước ngoài của hợp đồng được xem xét đến khi và chỉ khi “Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài” Có thể thấy khác với quy định tại
Điều 758 BLDS 2005, quy định mới tại Điều 663 BLDS 2015 đã tinh giảm, không đề cậpđến chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cũng đã loại bỏ yếu tố lãnh thổliên quan đến sự kiện pháp lý xảy ra tại nước ngoài Dường như các nhà lập pháp đã nhận
ra rằng đối với chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài họ có thể là công dânViệt Nam (tức là còn quốc tịch Việt Nam) hoặc có thể là người gốc Việt Nam (đã từng cóquốc tịch Việt Nam hoặc có cha mẹ là công dân Việt Nam nhưng đã nhập quốc tịch nướcngoài) đang cư trú và sinh sống lâu dài tại nước ngoài Vậy nên việc xác định đối tượngnày chỉ cần dựa vào yếu tố quốc tịch, việc quy định thêm là dư thừa và không cần thiết.Hơn thế nữa, dựa trên những nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế, sự kiện pháp lý xảy
3 Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2015
6
Trang 10ra ở đâu thì luật được lựa chọn áp dụng sẽ là nơi sự kiện đó xảy ra4 và việc quy định thêm
về phạm vi này cũng được đánh giá là không cần thiết
Khác với hệ thống pháp luật quốc nội, pháp luật quốc tế quy định hoàn toàn khác
về khái niệm hợp đồng có yếu tố nước ngoài Theo đó, việc xem xét hợp yếu tố nướcngoài sẽ không còn phụ thuộc vào ba tiêu chí chính như chủ thể, khách thể hay sự kiệnpháp lý mà lúc này việc xác định sẽ dựa trên tiêu chí về lãnh thổ Ví dụ như ở các nước làthành viên của Công ước viên 1980 như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ai Cập, Căn cứ theo quy
định tại Điều 1 Công ước viên 1980 này thì “Công ước này áp dụng cho các hoạt động
mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau” Theo
đó, việc xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được ký kết giữa cácbên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, nếu như các quốcgia này tham gia công ước hay luật của quốc gia tham gia công ước được áp dụng phùhợp với những quy phạm của luật tư pháp quốc tế Từ đó có thể kết luận rằng, Công ước
viên 1980 đã thừa nhận hợp đồng quốc tế là “hợp đồng được ký kết, thực hiện giữa các
thương nhân có trụ sở thương mại (địa điểm kinh doanh) nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau” Trên thực tế hiện nay, đã có nhiều quốc gia tham gia Công ước Viên
1980, vì vậy có thể nói rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới xác định tínhquốc tế của hợp đồng thông qua dấu hiệu lãnh thổ của các bên giao kết hợp đồng ViệtNam chúng ta đã tham gia Công ước viên này từ năm 2017, vì vậy những quy định củaCông ước Viên 1980 về xác định hợp đồng thương mại quốc tế cũng sẽ được áp dụng tạiViệt Nam Trên thực tiễn, tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế, tập quán thương mại
mà ở một số quốc gia còn có những quy định thêm những yếu tố nhằm xác định hợp đồng
có yếu tố nước ngoài như: yếu tố về đồng tiền thanh toán ngoại tệ hay sự dịch chuyểnhàng hóa, tài sản qua biên giới quốc gia của các hợp đồng mua bán hay hợp đồng vậntải, Lấy Hà Lan làm một ví dụ, quốc gia này là một thành viên của Công ước La Hayenăm 1964 về thống nhất việc mua bán hàng hóa quốc tế nên việc xác định hợp đồng cóyếu tố nước ngoài sẽ dựa trên những quy tắc của Công ước này Theo đó Công ước LaHaye năm 1964 đã thừa nhận và xác định hợp đồng mua bán hàng hoá sẽ mang yếu tố
4 Lex loci contractus
7
Trang 11nước ngoài nếu các bên tham gia hợp đồng có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau
khi: “Hàng hóa trong hợp đồng được chuyên chở từ lãnh thổ quốc gia này sang lãnh thổ
quốc gia khác, hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau và việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng” 5
Từ đó có thể kết luận rằng rằng, việc xác định yếu tố nước ngoài trong hợp đồng
có thể không hoàn toàn giống nhau theo các nguồn pháp luật áp dụng Vì vậy việc xácđịnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài không chỉ dựa vào hệ thống pháp luật quốc gia màcòn phải xem xét đến các điều ước quốc tế, công ước quốc tế, pháp luật nước ngoài, tậpquán quốc tế và các văn bản quốc tế liên quan khác mà quốc gia đó là thành viên
1.2.2 Hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài:
Tương tự như quan điểm về khái niệm hợp đồng có yếu tố nước ngoài, hình thứccủa loại hợp đồng này cũng được quy định rất khác nhau giữa pháp luật quốc gia và phápluật quốc tế
Dưới góc độ lý luận của các nhà lập pháp Việt Nam, hợp đồng trong quan hệ quốc
tế phải được thể hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trịpháp lý tương đương.6 Có thể thấy, tầm quan trọng của hình thức bằng văn bản vẫn luônđược đề cao trong việc xác lập các quan hệ pháp luật, đặc biệt là quan hệ thương mại Bởinhư đã đề cập ở mục 1.1.2, văn bản được xem là một căn cứ, chứng minh cho việc phátsinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, giúp các bên thuận tiện hơn trong việc giải quyếttranh chấp trong trường hợp tranh chấp xảy ra Hơn thế nữa, hợp đồng trong trường hợpnày còn được xem là một bản ghi nhớ, nhắc nhở các bên trong việc thực hiện đúng và đủcác quyền và nghĩa vụ của mình Nắm bắt được những lợi ích đó, các nhà làm luật đã quyđịnh hình thức của hợp đồng trong tư pháp quốc tế là văn bản và quy định này đã gópphần giúp các bên có thể tránh được được tối đa các hậu quả pháp lý bất lợi, những rủi ro
và tranh chấp không đáng có cũng như các thiệt hại có thể xảy ra
5 Điểm a khoản 1 Điều 1 Công ước La Haye năm 1964
6 Điều 27 Luật thương mại 2005
8
Trang 12Tuy nhiên, theo quy định tại Công ước Viên 1980, công ước này đã đi ngược mộtphần so với quy định của Luật thương mại 2005 Theo đó, pháp luật quốc tế không áp đặt
cụ thể một hình thức nhất định nào về hợp đồng Mặc dù công ước này tôn trọng hìnhthức hợp đồng bằng văn bản; tuy nhiên vẫn cho phép các bên thực hiện bằng các hìnhthức khác: “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng” 7 và “Công ước này cho phép một hình thức khác với hình thức văn bản cho việc ký kết, sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng mua bán, hay cho mọi chào hàng, chấp nhận chào hàng hay sự thể hiện ý định nào khác sẽ không áp dụng nếu như chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia” 8 Có thể thấy, quy định mở này đã cho phép các bên chủ động, linh hoạt vàsáng tạo trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng; góp phần giảm thiểu rủi ro vô hiệucủa hợp đồng; và đồng thời đã thể hiện đúng bản chất của hợp đồng là tự do thỏa thuậntrên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng Không những vậy, ở một số nước châu Âu là thànhviên thuộc Quy định Rome I 2008 lại có các nhận định khác về hình thức và hiệu lực của
hợp đồng có yếu tố nước ngoài, theo đó: “Một hợp đồng giữa các bên tại thời điểm ký kết
hợp đồng sẽ có hiệu lực về hình thức nếu như hợp đồng đó đáp ứng được các đòi hỏi về hình thức hợp đồng như trong bản Quy tắc này hoặc như trong luật quốc gia nơi hợp đồng được ký kết” 9 Theo đó, hiệu lực về hình thức của hợp đồng sẽ phụ thuộc vào nơi mà
hợp đồng được giao kết, xác lập Có thể thấy mỗi một quốc gia, khu vực khác nhau sẽ cónhững quy định khác nhau về hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài, vì vậy cácbên cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng những quy định của pháp luật nước mà mình lựa chọn đểtránh được rủi ro vô hiệu của hợp đồng
2 Ý nghĩa của việc xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ hợp đồng:
Thứ nhất, yếu tố nước ngoài góp phần xác định đúng đối tượng nghiên cứu, đối
tượng hợp đồng mà các bên hướng tới; từ đó xác định được pháp luật được lựa chọn đểđiều chỉnh hợp đồng đó Cụ thể, nếu một hợp đồng được xem là không có yếu tố nước
7 Điều 11 Công ước viên 1980
8 Điều 96 Công ước viên 1980
9 Khoản 1 Điều 11 Quy định Rome I 2008
9
Trang 13ngoài thì sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế Ngược lại, hợp đồng
đó sẽ thuộc điều chỉnh của hệ thống pháp luật trong nước, pháp luật quốc gia, cụ thể tạiViệt Nam là các quy định về chế định hợp đồng tại Bộ luật dân sự, Luật thương mại,
Thứ hai, việc xác định rõ bản chất quốc tế của hợp đồng còn góp phần xác định
được hiện tượng xung đột thẩm quyền xét xử và từ đó tìm ra các cách thức giải quyết hiệntượng xung đột về thẩm quyền xét xử đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặcliên quan đến hợp đồng ví dụ như: xác định thẩm quyền của Tòa án giải quyết; công nhận
và cho thi hành bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án nước ngoài,
Cuối cùng, việc xác định nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với các vấn đề pháp lý
phát sinh từ hợp đồng hoặc liên quan đến hợp đồng cũng được xem xét dựa trên yếu tốnước ngoài của hợp đồng
CHƯƠNG 2: LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1 Quyền tự do lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài:
Dựa trên khái niệm và bản chất đã đề cập ở trên của hợp đồng: “Hợp đồng là sự
thỏa thuận giữa các bên” Theo đó, pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam
nói riêng đã thừa nhận và tôn trọng quyền được tự do thỏa thuận khi giao kết hợp đồng.Đặc biệt, trong các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, việc cho phép các bên tự dothỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng là một trong những quy định rất quan trọng gópphần gia tăng tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo cho các chủ thể giao kết hợp đồng Vàquyền đó được ghi nhận rất chi tiết trong các điều ước quốc tế, cũng như trong các đạoluật của mỗi quốc gia
Theo quan điểm của các nhà lập pháp tại một số nước Châu Âu, việc quy định về
tự do thỏa thuận luật áp dụng trong các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài dườngnhư đã tồn tại từ rất lâu trong tư duy lập pháp của họ Theo đó, các quốc gia này thừa
nhận rằng:“hợp đồng được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn” 10 Hơn thế nữa, tầmquan trọng của chế định này còn được nhấn mạnh hơn khi được quy định cụ thể trong hệthống pháp luật của một số nước Lấy một ví dụ về pháp luật của nước Pháp, căn cứ theo
10 Khoản 1 Điều 3 Quy định Rome I 2008
10
Trang 14quy định tại điều 1112 Bộ Luật dân sự Pháp 2018: “Các bên được tự do khởi xướng, tiến
hành hoặc ngừng đàm phán tiền hợp đồng và bắt buộc phải tuân thủ nguyên tắc ngay tình” Có thể thấy theo quy định này, các bên có thể tự do thỏa thuận, đàm phán về điều
khoản chọn luật áp dụng đối với hợp đồng và hợp đồng được giao kết hợp pháp sẽ có giátrị pháp lý như luật của các bên11 Hay tương tự theo quy định của tư pháp quốc tế của
Cộng hòa Dominica: “Hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp luật do các bên lựa chọn.
Thỏa thuận chọn pháp luật nằm trong hợp đồng, hoặc trong một văn bản riêng quy dẫn đến hợp đồng, hoặc có thể được suy ra từ hành vi rõ ràng của các bên” 12 Có thể thấy,
pháp luật hợp đồng của các quốc gia trên thế giới đã tôn trọng và đề cao sự thỏa thuận củacác bên trong việc lựa chọn luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng, thể hiện đúng nguyên tắc
và bản chất của một hợp đồng
Khác với các quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam gần như chỉ mới thừa nhậnquan điểm về tự do lựa chọn luật áp dụng trong các quan hệ hợp đồng từ sau khi Bộ luậtdân sự 2015 ra đời Bởi từ trước khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực pháp luật, khả năngchủ động trong việc tự do lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng có yếu tốnước ngoài gần như chưa được nêu thành nguyên tắc chung và còn phụ thuộc quá nhiều
vào yếu tố lãnh thổ Cụ thể, “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác
định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác” 13
Quy định này vô tình đã gây ra sự e ngại, lo lắng cho các nhà đầu tư về những rủi ro pháp
lý có thể gặp phải khi đầu tư vào Việt Nam; từ đó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọngtới nguồn ngân sách Nhà nước cũng như kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế của nước
nhà Bởi các bên chỉ có thể thực hiện quyền chọn luật áp dụng cho hợp đồng nếu các bên
có thỏa thuận khác và việc các thỏa thuận khác này rất có nguy cơ vi phạm điều cấm của
luật, trái với quy tắc của tư pháp quốc tế hay các nguyên tắc cơ bản của pháp luật ViệtNam và nguy cơ dẫn tới hợp đồng vô hiệu là rất cao Hơn thế nữa, Bộ luật dân sự 2005cũng tồn tại quy định mang tính bắt buộc chung, áp đặt quyền lực nhà nước vào các quan
hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài: “Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện
hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
11 Điều 1103 Bộ luật dân sự Pháp 2018
12 Điều 58 Bộ luật tư pháp quốc tế Cộng hòa Dominica 2014
13 Điều 769 Bộ luật dân sự 2005
11