Untitled 1 TRƢỜNG ĐẠI HỌC THƢƠNG MẠI KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG MÔN HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (Số tín chỉ 03) Tài liệu dùng cho giảng dạy Bậc đại học BỘ MÔN KINH[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI GIẢNG MÔN HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
(Số tín chỉ: 03)
Tài liệu dùng cho giảng dạy Bậc đại học
BỘ MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ NGƯỜI THỰC HIỆN: THS LÊ QUỐC CƯỜNG
Hà nội, năm 2020
Trang 2BÀI MỞ ĐẦU
1 T u n t ọn c v n t ờn t n ố c nh t n c u h nh t
Bản chất của toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới Nhiều nhà kinh tế, học giả đã dự báo toàn cầu hóa nói chung trong đó có toàn cầu hóa về kinh tế vẫn là một xu thế tất yếu, chi phối nền kinh tế toàn cầu trong thời gian tới Song cũng không ít các nhà kinh tế phản bác quan điểm này với nhiều lý do khác nhau Một trong những ảnh hưởng to lớn nhất của toàn cầu hóa tới môi trường sinh thái chính
là sự cạn kiệt các nguồn năng lượng diễn ra với tốc độ không thể kiểm soát do 80% thế giới thuộc các nước đang phát triển áp dụng mô hình công nghiệp hóa lãng phí năng lượng của các nước thuộc 20% thế giới phát triển Việc tiêu hao các nguồn năng lượng này (như dầu lửa than đá…) cũng đồng nghĩa với việc gia tăng các khí hiệu ứng vào bầu khí quyển là nguyên nhân của những vấn đề môi trường toàn cầu, như suy giảm tầng ô-zôn và thay đổi khí hậu toàn cầu trong đó có sự ấm lên của trái đất
Toàn cầu hóa đem lại lợi ích cho phần lớn các quốc gia, mang đến cho người nông dân, đặc biệt là nông dân các nước nghèo một số giống năng suất cao, phương thức canh tác hiện đại hơn do đó mang lại thu nhập, cải thiện đời sồng Chính sự thay thế nguồn giống địa phương phong phú bằng một vài giống năng suất cao nhưng phụ thuộc vào hoá chất làm suy giảm tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp
Toàn cầu hóa cũng là một nguyên nhân quan trọng gây nên sự tuyệt chủng của nhiều loài động thực vật hoang dã Trong khoảng từ năm 1985 đến 2001, 56% các vùng rừng cấm đất thấp ở Bô-nê-ô (thuộc đảo Ka-li-man-tan của In-đô-nê-xi-a) đã bị khai thác với cường độ cao
để xuất khẩu Sự mất đi của các loại động thực vật hoang dã còn do các loài xâm lược được đưa vào mỗi quốc gia; các loài xâm lược này đã nhanh chóng tiêu diệt các loài bản địa Chỉ tính riêng loài sò vằn (Dreissena polymorpha) theo các tàu hàng của châu Âu vào vùng Hồ Lớn ở Bắc Mỹ đã tiêu diệt các loài nhuyễn thể ở vùng hồ này, gây thiệt hại trên 5 tỉ USD Đó chỉ là một vài ví dụ về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến môi trường sinh thái
Trên thực tế, toàn cầu hóa đang và sẽ ảnh hưởng rất sâu rộng đến tất cả các hệ sinh thái từ
hệ sinh thái rừng đến hệ sinh thái biển, và từ hệ sinh thái ở nông thôn đến các hệ sinh thái ở
đô thị Ngoài ra, toàn cầu hóa có thể làm gia tăng sự bất bình đẳng trong từng quốc gia, giữa các quốc gia, và có nguy cơ biến một số nước kém phát triển trở thành những "thùng" chứa đựng các công nghệ phế thải của các nước giàu
Không thể chối bỏ những lợi ích của toàn cầu hóa mang lại lợi ích về lợi ích kinh tế, song trước những áp lực về môi trường do toàn cầu hóa gây ra đồng thời cần phải duy trì môi trường đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững cho con người về mặt dài hạn Có thể khẳng định, việc quan tâm đến môi trường trong quá trình toàn cầu hòa nói chung và thương mại quốc tế nói riêng là yêu cầu bắt buộc, tất yếu khách quan mà mọi quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cần phải thực hiện
2 G ớ th ệu n học
Trang 3Học phần nghiên cứu những vấn đề lý luận căn bản về môi trường và thương mại quốc tế,
sự tăng cường áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn cầu được thể hiện thông qua các hiệp định môi trường đa biên và đặc biệt là bảo vệ môi trường trở thành yêu cầu mang tính bắt buộc đối với các hiệp định thương mại tự do song và đa phương
Bên cạnh đó cũng luận giải đầy đủ về các nguyên tắc, bản chất hình thành và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các rào cản kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế từ đó giúp cho người học không chỉ nhận biết được mà còn đánh giá được ảnh hưởng cũng như có
cơ sở khoa học đưa ra các biện pháp nhằm vượt qua các rào cản khi tham gia trực tiếp vào các hoạt động thương mại quốc tế
Học phần cũng đồng thời cung cấp cho người học những nội dung cơ bản nhất về vấn đề quản lý nhà nước về môi trường trong hoạt động thương mại, một số hàng rào kỹ thuật môi trường với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phải đối mặt và một số hệ thống quản lý môi trường hiệu quả đối với doanh nghiệp khi tham gia hoạt động thương mại quốc
tế
Mục tiêu chung của môn học nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức về bản chất, đặc điểm
và các cấp độ khác nhau trong mối qua hệ giữa vấn đề môi trường và quản lý môi trường trong thương mại quốc tế
Đối với các mục tiêu cụ thể, học phần giúp người học nắm bắt được những nội dung cơ bản về môi trường được quy định trong các Hiệp định môi trường, Hiệp định thương mại quốc tế Các kỹ năng thu thập, xử lý và phân tích các thông tin, dữ liệu về vấn đề môi trường
và các hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế từ đó có khả năng làm việc độc lập, khả năng làm việc nhóm và các kỹ năng quản lý vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế
Trang 4CHƯƠNG I MÔI TRƯỜNG VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 T n u n v t ờn
1.1.1 Khái niệm m i tr ng
Khái niệm chung về môi trường
Môi trường theo cách hiểu khái quát và chung nhất là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với
hệ thống đó
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng
Từ này được sử dụng với ý nghĩa chuyên biệt trong các ngữ cảnh khác nhau:
Trong mỗi trường hợp, để xác định được môi trường cần nghiên cứu Đối tượng chúng ta cần xác định đầu tiên là chủ thể, đây là một điều kiện hết sức quan trọng bởi qua đó chúng ta
có thể xác định được các yếu tố ảnh hưởng qua lại đối với chủ thể Tập hợp tất cả các yếu tố
đó sẽ tạo nên môi trường chúng ta cần nghiên cứu
Ví dụ: Nghiên cứu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Chúng ta có thể nghĩ đến người lao động, các yếu tố gì đã ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của người lao động (thiết bị máy móc, ánh sáng, nhiệt độ, tiếng
ồn, bụi…) Tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình làm việc của người lao động được gọi là môi trường làm việc hay một cách gọi khác phổ biến hơn là môi trường lao động
Xem xét mối quan hệ giữa một chủ thể với mối quan hệ với môi trường của nó Ta thấy,
có một môi liên hệ tác động qua lại vận động không ngừng giữa chủ thể và các yếu tố của môi trường tạo thành một thể thống nhất
Khi xem xét môi trường như 1 thể thống nhất giữa các quyển: Thạch quyển, thổ quyển, sinh vật quyển, thủy quyển và khí quyển… Theo quan điểm truyền thống, con người là một
bộ phận trong sinh vật quyển Nhưng do quá trình phát triển của mình con người không chỉ
có các tác động vô thức khách quan như các sinh vật khác nữa mà là một quá trình tác động
có ý thức và dần dần quyết định đến hầu hết các quyển có trong môi trường Do vậy, trong nghiên cứu môi trường, hoàn toàn có thể và cần phải tách con người và các hoạt động của con người thành một quyển môi trường riêng và được gọi là Nhân sinh quyển
Khoa học về môi trường ngày nay có rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: địa lý môi trường, địa chất môi trường, địa mạo môi trường, kiến tạo môi trường, thổ nhưỡng môi trường, sinh học môi trường, thuỷ văn môi trường, khí tượng môi trường Thuật ngữ “môi trường” được sử dụng phổ biến trong các thuật ngữ “Biến đổi môi trường”, “Ô nhiễm môi
Trang 5trương”, “Thảm họa môi trường” Môi trường được hiểu ở đây chính là “Môi trường sống của con người”
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh có ảnh hưởng đến sự sống và sự phát triển của cá nhân và cộng đồng con người Đối tượng nghiên cứu của môn Kinh tế môi trường chính là môi trường sống của con người Theo Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường (2020): Tiết 1, Điều 3 “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.”
Từ khi xác định được tầm quan trọng của Môi trường đối với cuộc sống của con người cũng như tác động của nó lên các hoạt động sản xuất, con người đã quan tâm hơn đến việc tìm hiểu bản chất của Môi trường Việc tìm hiểu về các đặc trưng của Môi trường cũng giúp cho con người có thể khai thác Môi trường phục vụ cho quá trình phát triển của mình đồng thời có thể hạn chế được những tác động xấu của Môi trường tới sự sống và sự phát triển của con người Sau quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã tìm ra được 4 đặc trưng cơ bản của Môi trường, đó là:
Một số đặc trưng cơ bản của môi trường
Việc tìm hiểu các đặc trưng cơ bản của môi trường có nhiều ý nghĩa trong việc đưa ra các giải pháp quản lý tốt vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế
Tính cơ cấu (cấu trúc) phức tạp
Hệ thống môi trường (gọi tắt là hệ môi trường) bao gồm nhiều phần tử (thành phần) hợp thành Các phần tử đó có bản chất khác nhau (tự nhiên, kinh tế, dân cư, xã hội) và bị chi phối bởi các quy luật khác nhau, đôi khi đối lập nhau
Cơ cấu của hệ môi trường được thể hiện chủ yếu ở cơ cấu chức năng và cơ cấu bậc thang Theo chức năng, người ta có thể phân hệ môi trường ra vô số phân hệ Tương tự như vậy, theo thứ bậc (quy mô), người ta cũng có thể phân ra các phân hệ từ lớn đến nhỏ
Dù theo chức năng hay theo thứ bậc, các phần tử cơ cấu của hệ môi trường thường xuyên
tác động lẫn nhau, quy định và phụ thuộc lẫn nhau (thông qua trao đổi vật chất - năng lượng - thông tin) làm cho hệ thống tồn tại, hoạt động và phát triển Vì vậy, mỗi một sự thay đổi, dù
là rất nhỏ, của mỗi phần tử cơ cấu của hệ môi trường đều gây ra một phản ứng dây chuyền trong toàn hệ, làm suy giảm hoặc gia tăng số lượng và chất lượng của nó
Ví dụ: Trong hệ môi trường có các thành phần: điều kiện tự nhiên, các sinh vật, các công trình cảnh quan kiến trúc của con người
Mỗi thành phần (phần tử) trong Môi trường lại có bản chất khác nhau (Tự nhiên hay nhân tạo, thực thể sống hay không phải thực thể sống.) Những phần tử này lại tuân theo những quy luật khác nhau và bị chi phối bởi các quy luật đó (Các thành phần tự nhiên như sông núi, ao hồ tuân theo quy luật tự nhiên Các loài sinh vật tuân theo quy luật sinh học…)
Trang 6Tuy nhiên, những thành phần này không tồn tại một cách độc lập mà chúng có quan hệ tương tác với nhau, quy định và phụ thuộc lẫn nhau thông qua các quá trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin (Con người và các động vật khác lấy thức ăn từ tự nhiên để tồn tại, nhưng hoạt động đó lại tác động trở lại tới tự nhiên)
Tính động
Hệ môi trường không phải là một hệ tĩnh, mà luôn luôn thay đổi trong cấu trúc, trong quan hệ tương tác giữa các phần tử cơ cấu và trong từng phần tử cơ cấu Bất kì một sự thay đổi nào của hệ đều làm cho nó lệch khỏi trạng thái cân bằng trước đó và hệ laị có xu hướng lập lại thế cân bằng mới Đó là bản chất của quá trình vận động và phát triển của hệ môi trường Vì thế, cân bằng động là một đặc tính cơ bản của môi trường với tư cách là một hệ thống Đặc tính đó cần được tính đến trong hoạt động tư duy và trong tổ chức thực tiễn của con người
Ví dụ: Khi khai thác một số lượng cây nhất định trong một khu rừng thì sau một thời gian khu rừng lại trở lại trạng thái như cũ, nghĩa là số lượng cây trong rừng có thể tương đương như trước khi khai thác
Tính mở
Môi trường, dù với quy mô lớn nhỏ như thế nào, cũng đều là một hệ thống mở Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục "chảy" trong không gian và thời gian (từ hệ lớn đến hệ nhỏ, từ hệ nhỏ đến hệ nhỏ hơn và ngược lại: từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thế hệ này sang thế hệ nối tiếp v.v…) Vì thế, hệ môi trường rất nhạy cảm với những thay đổi
từ bên ngoài, điều này lý giải vì sao các vấn đề môi trường mang tính vùng, tính toàn cầu, tính lâu dài (viễn cảnh) và nó chỉ được giải quyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng, bằng
sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới với một tầm nhìn xa, trông rộng vì lợi ích của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau
Ví dụ: Hoạt động sản xuất gạch của 1 làng tạo ra khói gây mất mùa cho không chỉ những
hộ sản xuất nông nghiệp của làng đó mà còn gây ra các tác hại tương tự cho các hộ sản xuất của các làng khác
Khả năng tự tổ chức và điều chỉnh
Trong hệ môi trường, có các phần tử cơ cấu là vật chất sống (con người, giới sinh vật) hoặc là các sản phẩm của chúng Các phần tử này có khả năng tự tổ chức lại hoạt động của mình và tự điều chỉnh để thích ứng với những thay đổi bên ngoài theo quy luật tiến hoá, nhằm hướng tới trạng thái ổn định
Đặc tính cơ bản này của hệ môi trường quy định tính chất, mức độ, phạm vi can thiệp của con người, đồng thời tạo mở hướng giải quyết căn bản, lâu dài cho các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay (tạo khả năng tự phục hồi của các tài nguyên sinh vật đã suy kiệt, xây dựng các hồ chứa và các vành đai cây xanh, nuôi trồng thuỷ và hải sản, v.v…)
Chúng ta đã xem xét những nội dung cơ bản nhất về khái niệm, phân loại, đặc trưng của môi trường trong Khái niệm kinh tế môi trường Bên cạnh đó chúng ta thấy khi xem xét hoạt
Trang 7động kinh tế của con người có những quan điểm khác nhau về môi quan hệ giữa môi trường
và phát triển, vai trò của môi trường đối với phát triển con người và sự phát triển đó có
những tác động tích cực hay tiêu cực đến môi trường sống của chính họ Chúng ta đi xem xét nôi dung môi trường và phát triển
1.1.2 Các ti u chu n m i tr ng
Tiêu chuẩn môi trường là quy định tự nguyện áp dụng mức giới hạn của thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng của chất ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức công bố theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật Toàn bộ hoặc một phần tiêu chuẩn môi trường trở thành bắt buộc áp dụng khi được viện dẫn trong văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật môi trường Tiêu chuẩn môi trường cơ sở áp dụng trong phạm vi quản lý của tổ chức công bố tiêu chuẩn
Thuật ngữ này phan biệt với thuật ngữ quy chuẩn môi trường hay quy chuẩn kỹ thuật môi trường là quy định bắt buộc áp dụng mức giới hạn của thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng của chất ô nhiễm có trong nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm, hàng hóa, chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
Theo Theo Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường (2020) phân chia tiêu chuẩn môi trường gồm tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh, tiêu chuẩn môi trường đối với quản lý chất thải và các tiêu chuẩn môi trường khác
Theo chủ thể xây dựng tiêu chuẩn môi trường:
Loại thứ nhất do tổ chức tự tổ chức xây dựng tiêu chuẩn, công bố và áp dụng và áp dụng
tiêu chuẩn, có thể gọi đây là hình thức tự chứng nhận
Loại thứ hai do tổ chức tiêu thụ yêu cầu các nhà cung cấp phải thực hiện tiêu chuẩn do
mình đặt ra và tự họ tiến hành kiểm tra việc nhà cung cấp có thực hiện đúng các yêu cầu đặt
ra hay không, đây là hình thức chứng nhận theo yêu cầu từ chủ thể phân phối hàng hóa, dịch
vụ
Loại thứ ba là một tiêu chuẩn được một tổ chức độc lập xây dựng và cấp chững nhận
(bên thứ 3), thông thường các tổ chức chứng nhận độc lập là các tổ chức quốc tế và tiêu chuẩn thường được biết đến là các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường như (Tiêu chuẩn ISO 14000)
1.1.3 Quản l m i tr ng
Hiện nay, tài nguyên môi trường đang được con người khai thác, sử dụng thiếu tính toán hợp lý Vì thế nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm môi trường xảy ra khắp nơi trên thế giới Để Trái Đất và các loài sinh sống trên Trái Đất có thể tiếp tục tồn tại và phát triển cần phải có giải pháp quản lý tài nguyên, môi trường một cách khoa học, có kế hoạch và bền vững
Trang 8Quản lý môi trường cũng tức là xoá bỏ bất công xã hội vì hậu quả của sự suy thoái môi trường và ô nhiễm đều do người nghèo gánh chịu đầu tiên và bị thua thiệt nhiều nhất
Quản lý môi trường giúp cho các quốc gia, cộng đồng, dân tộc và cá nhân hiểu rõ tầm quan trọng của các vấn đề môi trường Từ đó, họ có những nhận thức đúng đắn, hiểu được ý nghĩa quan trọng của công tác bảo vệ môi trường
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên
- Mục đích của quản lý môi trường là hướng xã hội tới phát triển bền vững, giữ cho được
sự cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Hay nói một cách khác, phát triển kinh tế – xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để bảo vệ môi trường, còn bảo vệ môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai
Nói một cách cụ thể hơn quản lý môi trường nhằm:
+ Bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống
Hệ thống nuôi dưỡng sự sống chính là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật và các nguồn tài nguyên cần thiết để duy trì mọi sự sống đó
Bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống chính là bảo tồn và phát triển sự sống của sinh giới
vì nó cung cấp không gian, lương thực, thực phẩm, không khí hít thở, các chất dinh dưỡng, nước, năng lượng và nguyên liệu… cho các cơ thể sống tồn tại
+ Bảo vệ tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
Các hàng hoá và dịch vụ thiết yếu trên hành tinh của chúng ta đều phụ thuộc vào sự đa dạng và biến động của các nguồn genm số lượng các loài và các hệ sinh thái Đa dạng sinh học cung cấp cho ta nhiều nguồn lợi lớn về kinh tế và giúp nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, hiện nay sự suy giảm đa dạng sinh học đang diễn ra nhanh chóng, chủ yếu là
do sự phá huỷ môi trường sống, khai thác quá mức, ô nhiễm và việc đưa vào môi trường các động, thực vật ngoại lai, không thích hợp Cần phải có những hành động khẩn cấp và mang tính quyết định để bảo vệ và duy trì các nguồn gen, các loài và các hệ sinh thái
+ Bảo đảm chắc chắn việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tái tạo, bao gồm: đất, động vật hoang dã và động vật nuôi, từng bãi chăn thả, đất trống, các hệ sinh thái nước mặn, nước ngọt cần thiết cho sinh hoạt và cho nghề thuỷ sản…
Nhu cầu sử dụng tài nguyên của con người ngày càng gia tăng đang làm nảy sinh những cạnh tranh và mâu thuẫn Nếu muốn thoả mãn nhu cầu đòi hỏi của con người một cách bền vững, cần phải giải quyết các mâu thuẫn đó và tìm cách sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả nhất
Trang 9Để sử dụng nguồn tài nguyên rừng lâu dài và bền vững, cần phải tính tới các khu bảo tồn, quyền sở hữu, các chính sách bảo vệ rừng lâu dài Hoang mạc hoá là quá trình suy thoái đất
do các thay đổi của khí hậu và tác động của con người Để ngăn chặn quá trình hoang mạc hoá thì việc sử dụng đất (bao gồm cả trồng trọt và chăn thả) phải vừa được bảo vệ được đất, vừa có thể chấp nhận được về mặt xã hội và khả thi về mặt kinh tế
Nước ngọt có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người Ở nhiều nơi trên thế giới đang diễn ra sự khan hiếm tràn lan và ô nhiễm gia tăng Vấn đề quản lý tài nguyên nước phải được đặt ở cấp thích hợp, phải huy động được sự tham gia của công chúng (bao gồm cả phụ nữ, thanh niên, cộng đồng bản địa) vào việc quản lý và ra các quyết định có liên quan tới tài nguyên nước
Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên không thể tái tạo
Khoáng sản, dầu mỏ, khí đốt và than đá là những tài nguyên không thể tái tạo và không thể dùng bền vững được Vì vậy, khi chúng ta khai thác các nguồn tài nguyên này thì trữ lượng của chúng sẽ dần bị cạn kiệt Điều này đòi hỏi nhân loại phải có các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên này cũng như các giải pháp tài nguyên thay thế, nghĩa là tìm kiếm các nguồn tài nguyên tái tạo để thay thế các nguồn tài nguyên không tái tạo được Giữ vững khả năng chịu đựng của Trái Đất
Như chúng ta đã biết, mức độ chịu đựng của Trái Đất nói chung hay của một hệ sinh thái nào đó, dù là tự nhiên hay nhân tạo, đều có giới hạn Con người có thể mở rộng giới hạn đó bằng kỹ thuật truyền thống hay áp dụng công nghệ mới để thoả mãn nhu cầu của mình Nhưng nếu không dựa trên quy luật phát triển nội tại của tự nhiên thì thường phải trả giá rất đắt bằng sự suy thoái, nghèo kiệt đa dạng sinh học hoặc suy giảm chức năng cung cấp tài nguyên của thiên nhiên Các nguồn tài nguyên không phải là vô tận mà bị giới hạn trong khả năng tự phục hồi được của hệ sinh thái, hoặc khả năng hấp thụ các chất thải một cách an toàn
Sự bền vững sẽ không thể có được nếu dân số thế giới ngày càng tăng Do dân số tăng nên nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên ngày càng lớn, vượt quá khả năng chịu đựng của Trái Đất Muốn tìm giải pháp đúng đắn để quản lý, sử dụng bền vững các tài nguyên, chúng
ta phải tạo ra một dải an toàn giữa toàn bộ các tác động của con người với ranh giới ước lưọng mà môi trường Trái Đất có thể chịu đựng được
1.1.4 Quản l m i tr ng toàn c u và các nguy n t c
Quản lý môi trường toàn cầu là gì?
Quản lý môi trường toàn cầu (GEM) là hoạt động được tổ chức toàn diện được thực hiện bới, các công cụ chính sách, cơ chế tài chính, các quy tắc, thủ tục và chuẩn mực quy định các quá trình bảo vệ môi trường toàn cầu
Hiệu quả của Quản lý môi trường toàn cầu cuối cùng phụ thuộc vào việc thực hiện ở cấp
độ toàn cầu và ở cấp độ các quốc gia Việc thực hiện ở cấp quốc gia là chìa khóa cuối cùng, đối với cả hiệu quả của hệ thống GEM và đối với từng vấn đề môi trường cụ thể
Trang 10Kể từ khi các vấn đề môi trường được đưa vào chương trình nghị sự quốc tế vào đầu những năm 1970, các chính sách và chính sách về môi trường toàn cầu đã và đang phát triển nhanh chóng Hội nghị toàn cầu đầu tiên về môi trường, được tổ chức tại Stockholm vào năm
1972, đã khởi động ba thập kỷ thảo luận, đàm phán và phê chuẩn một loạt các thỏa thuận quốc tế về môi trường
Hội nghị Stockholm đã hình thành Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc Hội nghị thượng đỉnh Trái đất, được tổ chức tại Rio 20 năm sau, mang theo các Công ước về Đa dạng Sinh học, Biến đổi Khí hậu và Sa mạc hóa và thành lập một thể chế chính trị khác của Liên hợp quốc, Ủy ban Phát triển Bền vững
Các tổ chức lớn về kinh tế như Ngân hàng Thế giới cũng như Tổ chức Thương mại Thế giới, khẳng định phát triển bền vững là mục tiêu bao trùm trong chính sách chung cũng như các vấn đề cụ thể Mối quan tâm tương tự cũng được nhận thấy trong các tổ chức quốc tế và khu vực không thuộc Liên hợp quốc về các mối quan tâm về môi trường và phát triển bền vững Hiện có nhiều nguồn tài trợ cho hành động môi trường quốc tế Những điều này không chỉ bao gồm ngân sách hoạt động của các tổ chức khác nhau mà còn cả các cơ chế tài trợ chuyên biệt được tạo ra như một phần của các hiệp ước cụ thể hoặc nói chung Ví dụ, Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), được thành lập vào năm 1991 đã tài trợ 4,8 tỷ USD cho các dự
án và đồng tài trợ 15,6 tỷ USD
Những thách thức cơ bản của quản lý môi trường toàn cầu
Sự phổ biến của MEAs và sự phân tán của GEM: Có quá nhiều tổ chức tham gia vào quản lý môi trường ở quá nhiều nơi khác nhau, thường có nhiệm vụ trùng lặp Sự phân mảnh
có thể dẫn đến các chương trình nghị sự mâu thuẫn, phân tán địa lý và không nhất quán trong các quy tắc và chuẩn mực, những người có trách nhiệm ít có cơ hội tương tác và hợp tác Thiếu sự hợp tác và phối hợp giữa các tổ chức quốc tế: Mối quan tâm ở đây là việc không
có bất kỳ cơ chế phối hợp có ý nghĩa nào cho GEM
Thiếu thực thi, thực thi và hiệu quả trong GEM: Hệ thống GEG đã biến thành một “hệ thống đàm phán” dường như luôn ở trong trạng thái đàm phán và bị ám ảnh bởi việc tiếp tục đàm phán hơn là nghĩ về việc thực hiện các thỏa thuận hiện có
Sử dụng các nguồn lực cho GEM không hiệu quả: Mối quan tâm thường được đặt ra ở đây là toàn bộ hệ thống dường như có nguồn tài nguyên đáng kể (ngay cả khi không đủ), nhưng sự trùng lặp và thiếu phối hợp trong hệ thống có thể có nghĩa là tài nguyên không phải lúc nào cũng được sử dụng hiệu quả nhất Ví dụ, vào năm 2000, Ngân hàng Thế giới có danh mục đầu tư tích cực hơn 5 tỷ USD cho các dự án môi trường, danh mục đầu tư của UNDP là hơn 1,2 tỷ USD trong cùng năm và GEF đã tài trợ hơn 4,5 tỷ USD cho các dự án kể từ khi thành lập Các chính phủ quốc gia, người dân và khu vực tư nhân nói chung cũng chi tiêu nguồn tài chính đáng kể cho các dự án môi trường Sự phân mảnh địa lý và sự trùng lặp của các hoạt động có thể dẫn đến chi phí hoạt động cao hơn và sử dụng tài nguyên không hiệu quả Với sự thống nhất chặt chẽ hơn trong hệ thống quản trị và tài chính, có thể đạt được nhiều điều hơn nữa với các nguồn lực hiện có
Trang 11GEM bên ngoài lĩnh vực môi trường: Ngày càng có nhiều quyết định quan trọng ảnh hưởng đến quản lý môi trường diễn ra bên ngoài lĩnh vực môi trường, trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư và phát triển quốc tế Mặc dù các tổ chức như WTO, UNDP và Ngân hàng Thế giới đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến môi trường và phát triển bền vững so với trước đây, nhưng họ vẫn chủ yếu đứng ngoài các cuộc thảo luận về quản lý môi trường toàn cầu
Mối quan tâm của các nước đang phát triển - Các nước đang phát triển có những mối quan tâm chính đáng về các vấn đề quốc tế Họ đã tỏ ra không tin tưởng vào hệ thống quốc tế nói chung và đặc biệt lo ngại về tốc độ phát triển nhanh chóng của các công cụ môi trường và những tác động có thể có của nó đối với tăng trưởng kinh tế Mặc dù các nước đang phát triển không nhất thiết phải giữ nguyên hiện trạng, nhưng họ sợ rằng bất kỳ sự thay đổi nào cũng sẽ khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn so với trước kia
Thiếu ý chí chính trị và sự cân bằng giữa lợi ích quốc gia so với các vấn đề môi trường toàn cầu: Các lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia thường có thể đi ngược lại với những lo ngại
về môi trường và do đó, không phải quốc gia nào cũng mong muốn có một hệ thống GEM mạnh Thật vậy, ngay cả khi có cơ sở khoa học rõ ràng bởi hệ thống môi trường toàn cầu mạnh mẽ hơn, nhưng có vẻ lợi ích quốc gia và vấn đề trì trệ trong việc thay đổi thể chế vấn
có xu hướng được ưu tiên hơn GEM
1.2 C c v n c n v th n uốc t
1.2.1 Ngu n g c c a th ng mại qu c t
Khái niệm về thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích về kinh tế Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế
và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần
là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp Vì vậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn
Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế
Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, mà một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển đó là sự phân công lao động xã
Trang 12hội Theo học thuyết Mác - Lênin về phân công lao động xã hội thì phân công lao động là
sự tách biệt các loại hoạt động, lao động khác nhau trong nền sản xuất xã hội
Điều kiện ra đời của phân công lao động xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và ngược lại, khi phân công lao động xã hội đạt đến sự hoàn thiện nhất định lại trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì nó tạo điều kiện cho người lao động tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng quản lý và hoàn thiện công cụ lao động
Nói cách khác, phân công lao động xã hội góp phần thúc dẩy nhanh sự phát triển của tiến
bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mà tiến bộ khoa học công nghệ lại chính là một yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội, do đó phân công lao động xã hội là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội loài người đã trải qua các giai đoạn phân công lao động xã hội lớn:
* Giai đoạn 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt Các bộ lạc chăn nuôi mang thịt sữa đổi ngũ cốc, rau quả của các bộ lạc trồng trọt Đó là mầm mống ra đời của quan hệ sản xuất - trao đổi hàng hoá giản đơn
* Giai đoạn 2: Nghề thủ công tách rời khỏi nghề nông Sản xuất chuyên môn hoá bắt đầu phát triển, dẫn đến sự ra đời của ngành công nghiệp Đặc biệt, với sự xuất hiện vai trò tiền tệ
đã khiến cho quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá tiền tệ ra đời, thay thế quan hệ sản xuất trao đổi hàng hoá giản đơn
* Giai đoạn 3: Tầng lớp thương nhân xuất hiện, lưu thông hàng hoá tách ra khỏi lĩnh vực sản xuất, khiến cho các quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá - tiền tệ trở nên phức tạp, ngày càng mở rộng, tạo điều kiện cho ngoại thương của từng quốc gia phát triển và thương mại quốc tế ra đời
Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước khác nhau,
từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độ chiếm tư bản chủ nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu thế kỷ này, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó, sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nên kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế
Như vậy, phân công lao động quốc tế là biểu hiện của giai đoạn phát triển cao của phân công lao động xã hội, là quá trình tập trung hoá sản xuất và cung cấp một loại hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định, dựa trên cơ sở những ưu thế của quốc gia đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các quốc gia khác, thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng vai trò trọng tâm
Trang 13Lịch sử phát triển kinh tế quốc tế thế giới cho đến nay đã có 3 kiểu phân công lao động quốc tế điển hình là: phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa, phân công lao động quốc
tế xã hội chủ nghĩa và phân công lao động toàn thế giới Do những biến động phức tạp trong đời sống chính trị - xã hội thế giới, kể từ sau năm 1991 với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, thế giới đương đại chỉ còn tồn tại và phát triển hai kiểu là phân công lao động xã hội và phân công lao động toàn thế giới
Nếu gạt bỏ những sắc thái riêng biệt nhất định, ngày nay ta dễ nhận thấy sự vận động, phát triển của cả hai kiểu phân công lao động quốc tế này đang có xu hướng tiến tới một thể thống nhất, mặc dù vẫn luôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp do tính đa dạng của nền kinh tế thế giới tạo ra Cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế thế giới, là những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế đạt tới trình độ sâu rộng chưa từng thấy Chuyên môn hoá càng phát triển thì quan hệ hiệp tác càng bền chặt, đó là đặc trưng cơ bản của phân công lao động quốc tế ngày nay
Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xã hội hoá lực lượng sản xuất, các nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệ thuộc vào nhau Sự giao lưu tư bản, trao đổi mậu dịch, do đó, ngày càng phong phú Sự phát triển của hệ thống thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin vi điện tử và sự phát triển của giao thông vận tải đã tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế gày càng phát triển, làm tăng quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và đời sống của các dân tộc Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống nhất của nền sản xuất thế giới
Quốc tế hoá nền sản xuất tất yếu dẫn tới các loại liên kết kinh tế Sự phát triển của khoa học - công nghệ cùng với sự chuyển dịch vốn, kỹ thuật từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển đã giúp cho nhiều nước trở thành nước công nghiệp mới có đủ tiềm lực kinh tế quay trở lại cạnh tranh với các nước công nghiệp phát triển Sự ra đời của hàng loạt các liên minh kinh tế Nhà nước ở các khu vực, các tổ chức kinh tế ở khắp các Châu lục, cũng như sự hiệp tác và liên minh kinh tế dưới nhiều hình thức khác đã đánh dấu sự phân công lao động sâu sắc và mở rộng quy mô phát triển chưa từng có
Hệ quả trực tiếp là sự tốc độ phát triển ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu của hầu hết các nước tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế đều đã tăng mạnh và liên tục trong các thập niên gần đây và hiện nay Năm 1950, tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới còn ở mức 59,7 tỷ USD nhưng đến năm 1990 nghĩa là 4 thập niên sau đã lên đến con số 3.332 tỷ USD, tăng 57,6 lần bình quân hàng năm tăng 10,5 % Điều lưu ý là suốt thời kỳ dài,
từ sau thế chiến thứ hai đến nay, nền kinh tế thế giới nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, mặc dù đã trải qua những bước thăng trầm trong sự phát triển, nhưng nhìn chung tốc
độ tăng của thương mại quốc tế đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản xuất thế giới
Lý giải về sự tăng nhanh của thương mại quốc tế có thể bằng nhiều nguyên nhân khác nhau, song phải thấy có một nguyên nhân cơ bản là nhờ đạt được hiệu quả kinh tế do quá trình phân công lao động quốc tế mang lại Thực tế cho thấy những lợi nhuận thu được từ thương mại quốc tế nhờ khai thác sự chênh lệch về giá cả tương đối giữa các nước, tuy rất
Trang 14quan trọng nhưng còn ít hơn nhiều so với lợi nhuận thu được nhờ tăng cường tính đa dạng và chuyên môn hoá theo nhãn hiệu của từng loại sản phẩm sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau Thương mại trong ngành không chỉ tạo ra các khả năng mở rộng tiêu dùng, thoả mãn nhu cầu của người mua, mà đã trở thành yếu tố cơ bản, quyết định động thái tăng trưởng kim ngạch ngoại thương hầu hết các nước thuộc mọi khu vực khác nhau trong nền kinh tế thế giới
Thương mại trong ngành là biểu hiện phát triển cao độ của sản xuất chuyên môn hoá trong giai đoạn hiện nay Nó không giải thích vì sao nước Anh xuất khẩu xe hơi sang Hông Kông nhưng lại có thể giải thích một hiện tượng thực tế nảy sinh mà David Ricardo đã không làm được là vì sao Anh xuất khẩu xe hơi (như Rovers, Jaguars ) sang Đức, nhưng lại nhập
xe hơi (như Mercedes, Andis ) từ Đức Điều dễ hiểu là mặc dù đều là xe hơi nhưng tất cả các loại xe hơi do Anh sản xuất đều có những đặc điểm khác so với tất cả các loại xe hơi do Đức sản xuất Tương tự như vậy, Nhật là cường quốc về sản xuất tivi chất lượng cao bởi các nhãn hiệu nổi tiếng như Sony, JVC, Sanyo nhưng vẫn không ít người Nhật thích dùng tivi với các nhãn hiệu khác của nước ngoài như Philip cuả Hà Lan, Sam Sung, Deawoo của Hàn Quốc Lý do chính khiến cho sự trao đổi thương mại giữa các nước về cùng một loại sản phẩm là sự đa dạng của các nhãn hiệu khác nhau về loại sản phẩm đó, sẽ mang lại những thoả mãn về nhu cầu của người tiêu dùng, do có sự khác nhau về hình thức, mẫu mã, giá cả Đối với cả người sản xuất với người tiêu dùng đều có thể tìm thấy những lợi ích cơ bản sau đây của việc phát triển thương mại trong ngành
* Thứ nhất, người tiêu dùng thoả mãn được nhu cầu lựa chọn trong số nhiều nhãn hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm trong ngành
* Thứ hai, thương mại trong ngành mang lại lợi thế kinh tế đáng kể nhờ mức độ mở rộng quy mô chuyên môn hoá sản xuất của mỗi quốc gia về một loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành, sau đó đem chúng trao đổi với nhau qua thương mại quốc tế, thay cho tình trạng trước đây, mỗi quốc gia đều phải cố gắng sản xuất những lượng nhỏ của tất cả các nhãn hiệu trong ngành
Trên đây, chúng ta đã thấy lợi ích của phát triển thương mại trong ngành là mang lại hiệu quả kinh tế nhờ quy mô mở rộng của chuyên môn hoá sản xuất về một loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành Đối với các nước có nền kinh tế mở, quy mô nhỏ (như Việt Nam), vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng Thông thường, ở các nước này, phạm vi hàng hoá, mà theo
đó họ có thể có được quy mô hiệu quả trong sản xuất bị giới hạn nhiều so với các nước có nền kinh tế quy mô lớn Do đó, các nước này bao giờ cũng có thể mang lại lợi ích kinh tế tương đối nhiều hơn so với việc chỉ lo tự cung tự cấp bằng cách sản xuất tất cả các loại sản phẩm, mỗi thứ một ít với chi phí cao
1.2.2 c tr ng c bản c a th ng mại qu c t
Thứ nhất, đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế là các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế
Trang 15Đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế là các quan hệ thương mại phát sinh giữa các quốc gia thực hiện ở phạm vi quốc tế hay nói một cách chính xác hơn là những mối quan
hệ xã hội phát sinh từ hoặc liên quan đến hoạt động thương mại vượt ra khỏi phạm vi một nước, liên quan đến ít nhất hai quốc gia Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia, với tư cách là chủ thể của hoạt động thương mại quốc tế có chủ quyền quốc gia, có thể tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội phát sinh từ nhiều hoạt động, nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực quốc phòng, lĩnh vực an ninh thế giới, các hoạt động chính trị liên quan đến bảo vệ lãnh thổ, nền độc lập chính trị, lĩnh vực kinh tế, các hoạt động thương mại…
Ở mỗi lĩnh vực hay hoạt động này, các quốc gia thường cùng nhau đàm phán để xây dựng những thỏa thuận quốc tế, những mối quan hệ trong từng lĩnh vực cụ thể Do đặc điểm của từng lĩnh vực hoạt động, các hoạt động thương mại quốc tế về từng lĩnh vực cũng có nhiều điểm khác nhau Chẳng hạn, những quan hệ quan hệ quân sự quốc tế khác với quan hệ chính trị hay quan hệ kinh tế
Thứ hai, phạm vi của các quan hệ thương mại quốc tế rộng hay hẹp tùy thuộc vào cách hiểu về hoạt động thương mại ở phạm vi quốc gia cũng như ở phạm vi quốc tế qua từng thời kỳ
Hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia được thực hiện dựa trên đường lối phát triển quan hệ đối ngoại của nước đó nói chung và dựa trên chính sách phát triển kinh tế đối ngoại, chính sách phát triển thương mại của nước đó trong từng kỳ nói riêng Đường lối, chính sách phát triển thương mại của mỗi nước thường được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về thương mại của nước đó Vì vậy, để hiểu về hoạt động thương mại quốc tế, trước hết cần hiểu rõ các quy định của pháp luật trong nước của từng nước về chính sách phát triển thương mại, về những quy định liên quan đến khái niệm thương mại hay hoạt động thương mại
Thứ ba, ngày nay hoạt động thương mại quốc tế được hiểu theo khái niệm hiện đại, khái niệm rộng và do đó đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp
Mặc dù luật của WTO, tức là các hiệp định của WTO, không đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại nhưng thực hiện hình thành và phát triển các quan hệ thương mại giữa các thành viên của WTO cho thấy thành phạm vi các mối quan hệ thương mại trong khuôn khổ của WTO được hiểu rất rộng, bao gồm các quan hệ thương mại phát sinh từ bốn lĩnh vực là: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Riêng trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, WTO quy định các thành viên tham gia Hiệp định GATS phải cam kết mở cửa thị trường dịch vụ theo 12 ngành và 155 phân ngành dịch vụ Đây là cách hiểu rộng, hiện đại về hoạt động thương mại cũng như các quan hệ thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh trong luật chơi của WTO
1.2.3 Các h nh thức và n i dung c a th ng mại qu c t
Các hình thức thương mại quốc tế
Trang 16Thương mại quốc tế về hàng hóa: là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán trao đổi các sản phẩm, hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình
Ví dụ trao đổi hàng nông sản (gạo, cà phê, sữa ) nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc… là những lĩnh vực quan trọng trong thương mại quốc tế về hàng hóa
Thương mại quốc tế về dịch vụ: Thương mại quốc tế về dịch vụ là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đồi các sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiện thông
qua các hoạt động của con người Một đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế hiện nay là vai trò ngày càng tăng của hoạt động thương mại dịch vụ, với những lĩnh vực đa dạng như: viễn thông, ngân hàng, tài chính, vận tải, bảo hiểm, du lịch, khách sạn, giải trí…
Thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư: Sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ gắn liền với hoạt động đẩu tư quốc tế Hình thức này ngày càng phổ biến với sự tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư quốc tế và đặc biệt là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia hiện nay Thương mại quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Hoạt động thương mại này có đối tượng là các sản sản phẩm trí tuệ Ví dụ quyền tác giả, tác phẩm, sáng chế, bí quyết công nghệ…
Nội dung của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế bao gồm nhiều nội dung khác nhau Với một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau dưới đây
là một số nội dung của thương mại quốc tế:
Một là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nguyên vật liệu máy móc, thiết bị, lương thực thực phẩm và các loại hàng hóa tiêu dùng Đây là nội dung chủ yếu giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Hai là các hoạt động dịch vụ thương mại quốc tế Dịch vụ thương mại quốc tế ngày càng
có tỉ trọng lớn phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự phát triển của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
Ba là gia công quốc tế Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và sự phát triển của phân công lao động ngày càng phát triển trên phạm vi toàn cầu thì gia công quốc tế thông qua hình thức nhận gia công cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công là cần thiết Hoạt động gia công mang tính chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công, thường rất ngắn có đầu vào và đầu ra gắn liền với thị trường nước ngoài
Bốn là tái xuất và chuyển khẩu Trong hoạt động sản xuất hỏi người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang nước thứ ba với điều kiện hàng hóa đó không qua gia công, chế biến Như vậy ở đây có cả hành động mua và hành động bán nên mức độ rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao Còn trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán ở đây chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh lưu kho lưu bản bảo quản hàng hóa… Bởi vậy mức độ rủi ro trong hoạt động truyền thống nói chung là thấp và lợi nhuận cũng không cao
Trang 17Năm là xuất khẩu tại chỗ Trường hợp này hàng hóa hoặc các hoạt động dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia, nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu đó là những công việc như cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các các ngoại Giao Đoàn, cho khách du lịch quốc tế
1.2.4 Vai tr c a th ng mại qu c t trong b i cảnh toàn c u h a inh t
Về vai trò của thương mại quốc tế Thương mại quốc tế có hai vai trò cơ bản sau đây: Một là, làm biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước thông qua việc xuất khẩu và nhập khẩu nhằm đạt tới cơ cấu có lợi cho nền kinh tế trong nước Vai trò này thể hiện việc thương mại quốc tế làm lợi cho nền kinh tế quốc dân về mặt giá trị sử dụng
Hai là, thương mại quốc tế góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, do việc mở rộng trao đổi mà khai thác được triệt để lợi thế của nền kinh tế trong nước trên cơ sở
sự phân công lao động quốc tế, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm Hai vai trò này của thương mại quốc tế có sự liên quan chặt chẽ với các nhân tố thúc đẩy
sự hình thành và phát triển của nó Căn cứ vào các nhân tố này người ta phân biệt thương mại quốc tế thành thương mại bù đắp và thương mại thay thế Thương mại bù đắp diễn ra do sự khác nhau về điều kiện điều kiện tự nhiên và do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thương mại thay thế diễn ra trên cơ sở sự phân công lao động quốc tế đã đạt tới trình độ phát triển cao, chuyên môn hoá vào những mặt hàng có ưu thế Thương mại bù đắp và thương mại thay thế có liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và thúc đẩy lẫn nhau phát triển Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá"
Trang 18mức vào việc xuất khẩu dựa trên tài nguyên Tự do hoá thương mại cũng cho phép giảm vớt
sự sai lẹch của giá cả Trong nhiều trường hợp, tự do hoá thương mại thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả hơn, là giam sự lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng Khái niệm toàn cầu hoá bao gồm một loạt các hiện tượng từ những hoạt động kinh tế cho tới sự quốc tế hoá văn hoá, giáo dục công nghệ và thị hiếu Toàn cầu hóa bao gồm cả sự hội nhập các nhân tố sản xuất của các nước khác nhau dưới sự bảo trợ hay quyền sở hữu của tập đoàn đa quốc gia và sự hội nhập của các thị trường sản phẩm và thị trường tài chính được dễ dàng nhờ tự do hoá
Do sự phát triển khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất trên quy mô thế giới, toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành xu hướng tất yếu thúc đẩy hầu hết các quốc gia thực hiện chính sách mở Khu vực hoá góp phần thúc đẩy tự do hoá thương mại đầu tư, dịch vụ trong phạm vi khu vực cũng như giữa các khu vực tạo lập những không gian rộng lớn với chính sách tiền tệ, tài chính, công nghệ, thị trường thống nhất giúp cho các quốc gia thành viên tiết kiệm chi phí, tạo môi trương kinh doanh có hiệu quả, tạo lợi thế trong hợp tác và cạnh tranh trên thị trương quốc tế Như vậy, muốn tận dụng được công nghệ, tiền vốn và thị trường để phát triển kinh tế thì các nước phải tích cực và chủ động mở cửa
Sức mạnh của mỗi nước phụ thuộc vảo một tập hợp các yếu tố như: thể chế chính trị, tiềm lực kinh tế, trình độ khoa học và công nghệ, sức mạnh quân sự, trình độ dân trí, truyền thống và bản sắc văn hoá, tài nguyên thiên nhiên Để giữ vững chủ quyền và đảm bảo sự phát triển nhanh của mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu, bản thân mỗi quốc gia phải có những chính sách hợp lý trong việc hợp tác song phương và đa phương trên cơ sở độc lập chủ quyền, trong đó bao hàm cả các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại, tạo điều kiện cho các quốc gia xích lại gần nhau, liên kết, phù hợp và xâm nhập vào nhau
Với sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO) tự do hoá thương mại đang phát triển ngày càng sâu rộng hơn Cỗn phải thấy rằng, sự phát triển của hoạt động thương mại một mặt đã góp phần tích cực trong quá trình tăng trưởng kinh tế, nhằm nâng cao mức sống
và thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân loại Mặt khác, các hoạt động thương mại cũng đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của con người ở mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới
Do vậy cần phải giải quyết một cách hài hoà mối quan hệ giữa môi trường và thương mại vấn đề bảo vệ môi trường đã được ghi nhận ngay từ lời nói đầu của hiệp định thương mạithế giới Sự quan tâm đến bảo vệ môi trường được nhắc đến nhiều trong hiệp định do WTO giám sát Việc phát triển thương mại tự do trên cơ sở bảo vệ môi trường không còn là vấn đề của một quốc gia mà là vấn đề của cả thế giới, là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước khi mà các yếu tố tài nguyên, các nguồn dự trữ cho phát triển ngày càng cạn kiệt, bị lãng phí và ô nhiễm trầm trọng cũng như trước sức ép về sự gia tăng dân số thế giới
Bản chất mối quan hệ giữa thương mại và môi trường
Trang 19Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường là một trong những nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường Phần lớn thiệt hại môi trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế Thương mại nói chung trong đó có thương mại quốc tế đóng vai trò ngày một lớn trong sự gia tăng các hoạt động kinh tế và vì thế là một trong những tác nhân quan trọng của những biến đổi môi trường Tuy nhiên, chỉ trong điều kiện tự do hoá thương mại, khi trao đổi sản phẩm và dịch vụ mang tính phổ biến vượt qua khuôn khổ quốc gia, sản xuất mang tính hàng loạt thì tác động qua lại giữa thương mại và môi trường mới trở nên rõ nét và cần thiết phải xem xét hơn bao giờ hết
Thương mại và môi trường có những mối liên hệ nhân quả Trước hết, môi trường là giá
đỡ của cuộc sống, chính vì vậy mọi hoạt động kinh tế, thương mại đều phải dựa trên nền tảng của môi trường Môi trường cung cấp mọi thứ nguyên liệu đầu vào như kim loại, sản phẩm rừng, thuỷ sản cũng như năng lượng cho các quá trình chế biến Môi trường cũng đồng thời
là nơi tiếp nhận chất thải của các hoạt động thương mại Thứ hai, các hoạt động thương mại cũng chịu những tác động mạnh mẽ của các yếu tố môi trường Những biện pháp và chính sách môi trường có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với thương mại tự do, thúc đẩy hoặc là tạo ra rào cản đối với thương mại
Thương mại ảnh hưởng đến môi trường, trước hết, bởi tính chất của hoạt động này Thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán, là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, do vậy vừa là nguyên nhân lây lan ô nhiễm vừa có thể phổ biến một cách nhanh nhất những sản phẩm và công nghệ thân thiện với môi trường
Ảnh hưởng tiếp theo của thương mại đối với môi trường là bởi tính quy mô của nó Thương mại quốc tế ngày nay mang tính toàn cầu Do đặc tính này mà thương mại có thể mở rộng quy mô của sản xuất thông qua sử dụng các phương pháp sản xuất ngày càng hiệu quả, sản xuất nhiều hàng hoá hơn trên cùng một đơn vị lao động, tài nguyên và công nghệ Như vậy thương mại góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Tăng quy mô thương mại cũng làm tăng nhu cầu bảo vệ môi trường sống của con người Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô sản xuất do tác động của thương mại tự do cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Một mặt, hoạt động này làm tăng các yếu tố đầu vào, khuyến khích khai thác và sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên, đặc biệt
là ở các nước đang phát triển Mặt khác, quy mô thương mại và sản xuất gia tăng sẽ làm tăng chất thải ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và tiêu dùng Điều này có thể thấy rất rõ về tình trạng rác thải và chất phát thải gây hiệu ứng nhà kính ở các nước phát triển
Một khía cạnh tác động khác của thương mại đối với môi trường là tính chất cơ cấu của
nó Thương mại có thể tạo ra thay đổi cơ cấu sản xuất của một nước theo nguyên tắc lợi thế
so sánh, tức là, tập trung sản xuất những mặt hàng có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá khác Nếu cơ cấu sản xuất chuyển sang những hàng hoá ít tổn hại đến môi trường hơn, khi đó thương mại có tác dụng tốt đối với môi trường Tuy nhiên, nếu một nước có khả năng cạnh tranh tốt đối với những sản phẩm dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc những hàng hoá khi sản xuất chúng có khả năng ô nhiễm cao thì thương mại lại làm cho nước đó bị gia tăng ô nhiễm môi trường, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 20Tóm lại, thương mại và môi trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Phát triển thương mại sẽ tạo ra động lực để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống và nhận thức của mỗi con người về môi trường cũng như làm tăng chi phí bảo vệ môi trường Ngược lại, môi trường với vai trò là giá đỡ của cuộc sống, bảo vệ môi trường, hạn chế khai thác quá mức, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên không tái tạo là cơ sở để phát triển kinh tế và thương mại một cách bền vững Mặt khác, thương mại có thể làm tổn hại đến môi trường, làm lây lan ô nhiễm, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tăng chất thải độc hại Các biện pháp và công cụ môi trường cũng có thể tạo ra rào cản hạn chế thương mại, bóp méo giá
cả, tạo bất bình đẳng trong thương mại quốc tế
1.3.2 T nh tất y u hách quan c a phát tri n th ng mại tr n c sở bảo vệ m i tr ng
Do yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và tổng thể trong quá trình phát triển và bảo vệ môi trường tức là bảo vệ các yếu tố tiềm năng cho phát triển, phân phối một cách có hiệu quả nguồn dự trữ tài nguyên cho các ngành kinh
tế, cho giai đoanh trước mắt và lâu dài theo hướng phát triển bền vững Tự do hoá thưong mại thúc đẩy sự phát triển kinh tế và chính sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường Ngược lại để bảo vệ môi trường thì buộc phải thực thi chiến lược phát triển bền vững và chỉ có như vậy thì quá trình tự do hoá thương mại mới đẩm bảo hiệu quả kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá
Thực hiện chiến lược con người và phát huy yếu tố con người trong mối quan hệ và môi trường
Trong hoạt động kinh tế nói chung và hoạt đông thương mại nói riêng, con người bao giờ cũng là chủ thể, là người tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng là người ban hành các luật lệ chính sách và là người thực hiện các chính sách thúc đẩy các hoạt động tăng trưởng, giữ gìn cảnh quan môi trường
Vì vậy, phải triệt để phát huy yếu tố con người trong suốt quá trình tự do hoá Thương mại và bảo vệ môi trường Thực hiện chiến lược con người nhằm để phát triển con người một cách toàn diện cả về tri thức, sức khoẻ, tâm hồn trong một xẫ hội dân chủ, công bằng và giàu tính nhân văn
Tự do hoá thương mại giúp con người mở tộng tầm nhìn ra bên ngoài, nâng cao tri thức Tuy nhiên, ở chừng mực nào đó, việc thị trường hoá tạo nên những tác động tiêu cực đến sự phát triển bản thân con người và cả cộng đồng Đó lầ sự phân hoá giàu nghèo, suy giảm ý thức cộng đồng, các tệ nạn xã hội (nghiện hút, tham nhũng, buôn lậu )
Hoà nhập nền kinh tế mỗi nước vào khu vực và thế giới thông qua các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, liên doanh, liên kết kinh tế thương mại và hợp tác quốc tế
Ngày nay các mối quan hệ kinh tế quốc tế đang phát triển ngày càng cao, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không chịu tác động qua lại của các mối quan hệ Trong mấy chục năm qua, thương mại quốc tế liên tục tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP Xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới được tăng cường Nó trở thành đặc điểm mới của
sự phát triển thương mại thế giới
Trang 21Tóm lại, tự do hoá thương mại và môi trường có mối quan hệ hữu cơ với nhau Tự do hoá thương mại phải trên cơ sở bảo vệ môi trường, tự do hoá thương mại phải tạo ra được tiền đề thuận lợi cho việc bảo vệ môi trường
1.3.3 Nguy n t c đảm bảo phát tri n th ng mại b n v ng
Kết thúc vòng đàm phán Uruguay, Quyết định cấp bộ trưởng về thương mại và môi trường
đã được thông qua (tháng 4/1994) và Uỷ ban về thương mại và môi trường (CTE) thuộc khuôn khổ WTO đã được thành lập Uỷ ban CTE ra đời với chức năng thống nhất mối quan
hệ giữa thương mại và môi trường để thúc đẩy sự phát triển bền vững, đồng thời đưa ra những đề xuất thích hợp sửa đổi một số những điều khoản của hệ thống thương mại đa phương liên quan đến môi trường Chương trình hành động của CTE được quy định trong Quyết định cấp bộ trưởng tại Singapore, diễn ra vào tháng 12/1996 với các điều khoản là:
i u 1 Mối quan hệ giữa các điều khoản của hệ thống thương mại đa phương về những
biện pháp thương mại vì mục đích bảo vệ môi trường, bao gồm cả những biện pháp phù hợp với những điều khoản của hiệp định môi trường đa biên (MEA)
i u 2 Mối quan hệ giữa các chính sách bảo vệ môi trường gắn liền với thương mại, các
biện pháp bảo vệ môi trường có tác động lớn đến thương mại và các điều khoản của hệ thống thương mại đa phương
i u 3 Mối quan hệ giữa các điều khoản của hệ thống thương mại đa phương:
a/ Mối quan hệ giữa các điều khoản của hệ thống thương mại đa phương với vấn đề thuế và phí vì mục đích môi trường
b/ Mối quan hệ giữa các điều khoản của hệ thống thương mại đa phương và những yêu cầu đối với tiêu chuẩn sản phẩm, quy định kỹ thuật, bao bì, nhãn mác và tái chế vì mục tiêu bảo
vệ môi trường
i u 4 Những điều khoản của hệ thống thương mại đa phương về tính minh bạch của
các biện pháp thương mại dịch vụ với mục tiêu bảo vệ môi trường và các biện pháp đáp ứng yêu cầu về mặt môi trường có ảnh hưởng lớn đến thương mại
i u 5 Mối quan hệ giữa cơ chế giải quyết tranh chấp trong hệ thống thương mại đa
phương và trong các hiệp định môi trường đa phương
i u 6 Ảnh hưởng của các biện pháp bảo vệ môi trường đối với sự thâm nhập thị trường,
đặc biệt đối với các nước đang phát triển, các nước kém phát triển nhất trong nhóm nước đang phát triển, những lợi ích về mặt môi trường của việc xoá bỏ những hạn chế và sự bóp méo thương mại
i u 7 Vấn đề xuất khẩu những mặt hàng cấm tiêu thụ trong nước
i u 8 Những điều khoản liên quan đến hiệp định về các vấn đề liên quan đến thương
mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs)
Trang 22i u 9 Chương trình làm việc dự trù trong quyết định về thuộc lĩnh vực dịch vụ và môi
trường
Như vậy, chương trình hành động của CTE bao gồm việc giải quyết các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa thương mại và môi trường ở cấp độ quốc tế Đây cũng chính là một trong những cơ sở để giải quyết các vấn đề thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ WTO nhằm đảm bảo tăng trưởng thương mại toàn cầu đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của nó đến môi trường, khắc phục những biện pháp môi trường hạn chế thương mại tự do
Từ quan điểm chung về phát triển bền vững, mối quan hệ giữa thương mại và môi trường trong bối cảnh tự do hoá thương mại triển thương mại bền vững là:
“Phát triển thương mại phải làm động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững Phát triển thương mại phải góp phần vào việc giảm đói nghèo, tăng thu nhập, giải quyết việc làm, chia sẻ một cách bình đẳng lợi ích thương mại; Phát triển thương mại theo hướng bảo vệ người tiêu dùng, bảo tồn và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học, hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường”
Các nguyên tắc đảm bảo phát triển thương mại bền vững:
(1) Các chính sách thương mại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phải tạo điều kiện để xử lý các vấn đề môi trường
(2) Các chính sách môi trường phải thúc đẩy phát triển thương mại, không tạo ra những rào cản trá hình đối với tự do thương mại và phát triển kinh tế thị trường
(3) Chính sách khuyến khích mở cửa thị trường phải đi kèm với các chính sách và biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia;
(4) Chính sách tăng trưởng xuất khẩu phải đi kèm với các chính sách và biện pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học;
(5) Chính sách bảo vệ môi trường trong nước phải tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ bằng cách đáp ứng các yêu cầu môi trường của các nước nhập khẩu;
1.4 C c c c ố u n hệ th n v t ờn
Tính chất toàn cầu của quá trình tự do hoá thương mại và bảo vệ môi trường là cơ sở nền tảng để phối hợp chính sách trong việc phát triển thương mại và bảo vệ môi trường Tính chất này thể hiện ở việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển thương mại và bảo vệ môi trường ở các cấp độ khác nhau, ở bình diện quốc tế cũng như trong khuôn khổ quốc gia và doanh nghiệp Giải quyết mối quan hệ này về thực chất là sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường cũng như các chính sách thương mại và chính sách môi trường
ở cả 3 cấp độ
1.4.1 Cấp đ qu c t
Trang 23Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường ở bình diện quốc tế được thể hiện trong việc giải quyết hài hoà giữa quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu và bảo vệ môi trường toàn cầu Bản chất của mối quan hệ này là ở chỗ các chính sách thương mại đa biên tạo thuận lợi cho quá trình tự do hoá phải tính đến lợi ích môi trường toàn cầu mà không tạo ra rào cản không cần thiết cho tự do thương mại và bất bình đẳng giữa các quốc gia trong việc chia sẻ lợi ích do thương mại mang lại Ngược lại, các chính sách môi trường đa biên với mục đích cuối cùng là bảo vệ môi trường toàn cầu, hạn chế các hoạt động kinh tế và thương mại có tính huỷ diệt môi trường, điều hoà lợi ích trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra những cản trở không cần thiết cho quá trình tự do hoá thương mại, làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong những thập kỷ gần đây chúng ta dễ dàng nhận thấy sự phối hợp trên bình diện quốc tế để xử lý các vấn đề môi trường toàn cầu và đẩy nhanh tự do hoá thương mại
Các chính sách thương mại đa biên điều chỉnh hoạt động thương mại toàn cầu đã có nhiều điều khoản liên quan đến môi trường Các điều khoản này tập trung chủ yếu trong các Hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới Trong số 46 điều khoản của WTO, có 9 điều khoản mô tả các khía cạnh thương mại liên quan đến môi trường Tuy nhiên, các khía cạnh môi trường của các hiệp định hiện có của WTO được thể hiện chủ yếu trong 5 hiệp định: Điều XX của GATT 1994; Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT); Hiệp định
về vệ sinh an toàn động thực vật (SPS); Hiệp định về các vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs); Hiệp định về các biện pháp trợ cấp và đền bù (SCM) Ngoài ra còn có một nguyên tắc, điều khoản khác liên quan đến môi trường như nguyên tắc không phân biệt đối xử; điều khoản ngoại lệ chung trong thương mại dịch vụ GATS
Những hiệp định đã đạt được trong các cuộc thảo luận về thương mại và môi trường trong GATT/WTO nêu trên cho thấy:
(1) Các thỏa thuận GATT/WTO đã tạo cơ hội cho việc xây dựng và thực thi những chính sách về bảo vệ môi trường quốc gia nhưng với điều kiện là không được tạo ra sự phân biệt đối xử;
(2) Những cơ hội tiếp cận thị trường là yếu tố cần thiết để bảo đảm giúp các nước đang phát triển có cơ hội thực hiện mục tiêu phát triển bền vững;
(3) Tăng cường sự hợp tác đa phương giữa các quốc gia là cần thiết để xem xét hài hoà những vấn đề về thương mại và môi trường
Bên cạnh những Hiệp định thương mại đa phương, người ta còn sử dụng các biện pháp thương mại để hạn chế ô nhiễm môi trường như các tiêu chuẩn về phương pháp sản xuất và chế biến (PPM), các quy định về bao bì và đóng gói, hệ thống nhãn môi trường và nhãn sinh thái, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các công cụ kinh tế như lệ phí và thuế
Các chính sách thương mại có vai trò quan trong trong việc thực hiện các hiệp định môi trường Những hiệp định môi trường đa biên (MEA) không bao gồm những biện pháp bắt buộc mà chủ yếu là dựa vào nguyên tắc tự nguyện, cho nên việc thực thi thường kém hiệu quả Còn trong hoạt động thương mại biện pháp để thực hiện nội dung của các hiệp định là
Trang 24bắt buộc Tính bắt buộc được biểu hiện thông qua các biện pháp hạn chế và trừng phạt thương mại Vì vậy người ta thường dùng các biện pháp thương mại để đạt được mục tiêu môi trường Việc dùng những hạn chế và trừng phạt thương mại là công cụ thích hợp ở những phạm vi nhất định để giải quyết mối lo ngại về môi trường
Các hiệp định môi trường đa biên cũng đã tính đến những vấn đề thương mại có ảnh hưởng đến môi trường, đồng thời cũng xem xét các vấn đề môi trường có ảnh hưởng đến tự
do thương mại nhằm điều hoà giữa mục đích bảo vệ môi trường và tăng trưởng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 140 hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường, trong số đó có khoảng 20 hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế Các biện pháp môi trường trong các hiệp định môi trường quốc
tế được áp dụng đối với việc vận chuyển buôn bán, trao đổi, khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường như chất thải độc hại, động vật hoang dã, các nguồn gien thực động vật, các chất phá huỷ tầng ôzôn
Những hiệp định/công ước môi trường quốc tế liên quan đến thương mại có thể được phân thành 3 nhóm chính:
- Các hiệp định/công ước kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi trường toàn cầu, ví dụ như Công ước Viên bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện Công ước trên, và Hiệp định khung về biến đổi khí hậu
- Các công ước bảo vệ các chủng loại bị đe doạ, các loài chim di trú, và các loại cá và động vật biển Ví dụ như Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) và Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi
Trong số các điều khoản của các công ước này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loại động vật hoang dã và cá
- Các công ước về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm và các chất nguy hiểm Ví dụ là công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và tiêu huỷ chúng, Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế
Như vậy cả hiệp định thương mại đa biên và hiệp định/công ước môi trường đa biên đã tập trung vào các vấn đề môi trường toàn cầu cấp bách hiện nay như phá huỷ tầng ôzôn, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ sức khoẻ người và động vật cũng như tạo ra môi trường thuận lợi cho tăng trưởng thương mại, hạn chế đến mức tối đa việc tạo ra các rào cản trong thương mại, những nguyên tắc trái với thương mại tự do
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cách giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa thương mại và môi trường trên phạm vi toàn cầu đang gặp phải những trở ngại không nhỏ Những cuộc tranh luận trong các hội nghị môi trường quốc tế như Hội nghị Môi trường và Phát triển 1992 (Rio
de Jannero), Hội nghị môi trường thế giới Johannesburg (2002) và các cuộc đàm phán thương mại tại các hội nghị thương mại và môi trường tại Singapore (1996), Manila (1998), Seattle (2000), Doha (2001) thể hiện tính phức tạp của chủ đề này Trở ngại lớn nhất hiện nay là vấn đề hoà hợp các chính sách thương mại và môi trường trên phạm vi quốc tế, điều
Trang 25hoà lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường giữa các nước, nhất là giữa các nước phát triển và đang phát triển, nơi đang còn thiếu nhiều điều kiện để thực hiện các chính sách thương mại
và môi trường theo quy định quốc tế nhằm đảm bảo phát triển thương mại tự do và bảo vệ môi trường toàn cầu
Mâu thuẫn giữa tự do hoá thương mại và bảo vệ môi trường thể hiện cả trong các hiệp định thương mại đa biên và hiệp định môi trường đa biên, trong chính sách của các quốc gia
Về chính sách, có nhiều nội dung của hiệp định thương mại đa biên mâu thuẫn với hiệp định môi trường đa biên Dễ nhận thấy nhất và tranh cãi nhiều nhất là Hiệp định TRIPs và Công ước đa dang sinh học (CBD), việc một số nước không ký kết các Hiệp định môi trường như
Mỹ cự tuyệt đối với CBD, Công ước Kyoto, ấn Độ đối với TRIPs
Đối với các nước phát triển, do tìm thấy lợi ích của mình trong vấn đề bảo vệ môi trường nên
đã ủng hộ quan điểm môi trường trong thương mại với ý nghĩa cơ bản là tăng trưởng thương mại phải gắn liền với việc bảo đảm môi trường sinh thái cho hiện tại và tương lai Tuy nhiên giữa các nước này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Một số nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật mặc dù có nguồn gây ô nhiễm công nghiệp lớn nhất và được dân chúng
và các nhà sinh thái học yêu cầu phải có biện pháp giảm thiểu mức độ ô nhiễm môi trường lại chưa tán thành các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường của hội nghị môi trường thế giới đưa ra, vì nó đụng chạm tới lợi ích của họ Trong khi đó các nước này lại đặt ra các tiêu chuẩn môi trường buộc các nước khác phải tuân thủ nhằm tạo thuận lợi cho việc cạnh tranh của hàng hóa của họ Nhiều trường hợp các nước phát triển lợi dụng các quy định về môi trường để áp đặt điều kiện đối với các nước đang phát triển
Các nước đang phát triển biểu hiện sự lo lắng song chưa thực sự quan tâm đến vấn đề môi trường trong chương trình thương mại đa phương Họ lo ngại rằng việc đưa các vấn đề môi trường vào chương trình thương mại sẽ làm giảm việc tiếp cận thị trường thông qua chủ nghĩa bảo hộ trá hình Mặt khác, việc tuân thủ các quy định về môi trường sẽ làm tăng chi phí sản xuất dẫn đến giảm tính cạnh tranh của hàng hóa và sở thích của người tiêu dùng, giảm cơ hội và lợi thế trong buôn bán đối với các nước phát triển Các nước đang phát triển cho rằng việc bảo vệ môi trường và chủ nghĩa bảo hộ thương mại gắn liền với nhau; các nước phát triển có thể dùng hàng rào kỹ thuật để ngăn cản sự tiếp cận của các nước đang phát triển vào thị trường các nước phát triển, và lợi dụng vấn đề này để bảo vệ lợi ích buôn bán hơn là đạt được những mục tiêu về môi trường
Thực tế cho thấy rằng, các quy định về môi trường trong thương mại được đặt ra không
“cân sức” giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển với phần lợi thuộc về các nước phát triển Tuy nhiên nếu đứng trên lợi ích toàn cầu thì những đòi hỏi quy định về môi trường đối với hàng hóa thương mại là cần thiết Đã đến lúc cần có sự phối hợp giữa các quốc gia để giải quyết các vấn đề môi trường và các biện pháp môi trường đang ngày càng có hiệu quả trong việc cân bằng giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường
1.4.2 Cấp đ qu c gia
Trang 26Vấn đề thương mại và môi trường ở cấp độ quốc gia được thể hiện tập trung nhất trong chính sách phát triển kinh tế và chính sách bảo vệ môi trường, trong mục tiêu tăng trưởng kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường của một nước
Quan điểm về tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường trong từng giai đoạn nhất định và
ở các nước có trình độ phát triển khác nhau thường không giống nhau Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, xu hướng tự do hoá thương mại đang là sức ép đối với các nước, nhất là các nước đang công nghiệp hoá, trong việc giải quyết hài hoà giữa kinh tế và môi trường Quá trình này khuyến khích sự khai thác nhanh hơn và sử dụng ngày càng nhiều hơn nguồn tài nguyên
để đạt được hiệu quả kinh tế Chính vì vậy, việc thực thi các quy định về môi trường còn gặp phải rất nhiều trở ngại do nhận thức khác nhau giữa những người làm công tác thương mại và những người làm công tác môi trường
Thực tế cũng cho thấy, ở các quốc gia đang phát triển người ta dành nhiều ưu tiên hơn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong ngắn hạn Chính vì vậy, trong chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề lồng ghép các mục tiêu kinh tế và mục tiêu môi trường thường bị xem nhẹ, sự phối hợp trong việc đề ra chính sách thương mại và chính sách môi trường chưa được coi trọng đúng mức Phần lớn các nước vẫn bị ảnh hưởng của quan điểm trước đây về phát triển bền vững là phải đạt được tăng trưởng về kinh tế và trên cơ sở
đó mới giải quyết các vấn đề về môi trường
Trở ngại lớn nhất đối với các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển hiện nay là làm thế nào để tận dụng được cơ hội của quá trình tự do hoá thương mại để phát triển kinh tế đồng thời hạn chế được những tác động tiêu cực của nó đối với các vấn đề xã hội và môi trường Trong bối cảnh như vậy cần thiết phải có sự phối hợp chính sách trong phát triển thương mại và bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá và tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau đây:
- Điều chỉnh các chính sách thương mại phù hợp với các chuẩn mực thương mại quốc tế nhằm tận dụng được những cơ hội của quá trình tự do hoá thương mại, phát huy lợi thế so sánh quốc gia để tăng trưởng kinh tế;
- Có các biện pháp hữu hiệu và kịp thời ngăn ngừa và đối phó với nguy cơ ô nhiễm môi trường qua biên giới do gia tăng trao đổi thương mại với các đối tác bên ngoài;
- Bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên không tái tạo khác, hạn chế
ô nhiễm do tăng trưởng nóng của nền kinh tế;
- Đáp ứng các yêu cầu môi trường đối với sản phẩm để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường khi các rào cản thương mại bị bãi bỏ;
- Quản lý chặt chẽ thị trường trong nước để hạn chế đến mức tối đa ảnh hưởng đối với môi trường của việc đẩy nhanh phát triển kinh tế thị trường
- Tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ/ngành, địa phương trong việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển thương mại và bảo vệ môi trường
Trang 27Những xung đột giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường thể hiện rõ nét nhất ở cấp độ này Về cấp độ sản phẩm hàng hoá, đó là mâu thuẫn về giá cả giữa những sản phẩm hàng hoá mà trong giá thành của nó có chứa các các chi phí môi trường với các sản phẩm bỏ qua chi phí này (sự bóp méo về giá cả) Về cấp độ doanh nghiệp, đó là mâu thuẫn giữa những doanh nghiệp chấp hành các quy định môi trường trong quá trình sản xuất và kinh doanh với các doanh nghiệp khác Kết quả là tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp và thiệt hại chung cho xã hội
Các lý thuyết về kinh tế môi trường đã chứng minh rằng việc bỏ qua các chi phí về môi trường trong sản xuất sẽ làm xuất hiện ngoại ứng tiêu cực và kết quả là thiệt hại chung cho xã hội, cả người sản xuất và người tiêu dùng Việc không tính đến các chi phí về môi trường và tuân thủ nhưng quy định về môi trường giúp doanh nghiệp có được lợi thế trong cạnh tranh Chính vì vậy, xu hướng chung là các doanh nghiệp đều tìm mọi cách để bỏ qua các chí phí môi trường và những quy định về môi trường của Chính phủ Điều này cũng lý giải một tình trạng khá phổ biến ở các nước đang phát triển là những quy định pháp luật về môi trường không được tuân thủ và thực hiện một cách triệt để (Banerjee,1998) Chính vì vậy, các chính sách thương mại và chính sách môi trường cần được xây dựng theo hướng đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích họ áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất thân thiện với môi trường
Như vậy, trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa thương mại và môi trường ở 3 cấp độ quốc tế, quốc gia và sản phẩm có thể đưa ra nhận xét ban đầu là cần có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường ở cả 3 cấp độ
Cơ sở khoa học khách quan của kết luận này xuất phát từ tính tất yếu của quá trình tự do hoá thương mại và vấn đề bảo vệ môi trường toàn cầu Tự do thương mại sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia, các doanh nghiệp có cơ hội để phát triển và môi trường toàn cầu đảm bảo
là giá đỡ cho mọi hoạt động kinh tế và tồn tại của con người
Trang 28CHƯƠNG II CÁC HIỆP ĐỊNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU
2.1 Sự c n th t c u n lý t ờn t n c u
2.1.1 Suy thoái tài nguy n thi n nhi n
2.1.1.1 Khái niệm suy thoái tài nguyên thiên nhiên
Suy thoái tài nguyên thiên nhiên hay suy giảm tài nguyên thiên nhiên (Degradation of Natural Resources) là sự suy giảm về cả về số lượng và chất lượng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không thể hồi phục lại, giảm sức tải của môi trường gây ảnh hưởng đến môi trường và các điều kiện sống, tồn tại và phát triển của con người
Theo nghiên cứu do Mạng lưới Dấu chân sinh thái toàn cầu (Global Footprint Network - GFN) ước tính đến năm 2019, trung bình mỗi công dân trên hành tinh đã tiêu thụ một lượng tài nguyên gấp 1,6 lần so với mức cần thiết “Con người hiện đang sử dụng nhiều hơn 60% tài nguyên sinh vật so với khả năng Trái đất có thể tái tạo, nhiều như thể chúng ta sống trên 1,6 hành tinh, và đang trên đà cần đến tài nguyên của hai Trái đất trước năm 2050”
Các tổ chức này cảnh báo để đáp ứng như cầu của nhân loại, mỗi năm loài người cần tiêu thụ lượng tài nguyên gấp 1,7 lần khả năng đáp ứng của Trái Đất và đi kèm với thực tế này là rất nhiều hậu quả như tình trạng thiếu nước, sa mạc hoá, xói mòn đất, suy giảm năng suất nông nghiệp, suy giảm nguồn dự trữ hải sản, rừng cạn kiệt, nhiều loài động vật biến mất
Trang 29B u ồ 2.1 N ỡn t êu dùn t n uyên th ên nh ên c t t
Nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta hiện nay đang bị thu hẹp cả về số lượng và chất lượng Nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng hiện này một phần là do hoạt động khai thác một các bừa bãi, cùng với việc sử dụng tài nguyên lãng phí, và do công tác quản lý yếu kém của các cấp chính quyền địa phương
Cụ thể như là tài nguyên rừng đang bị thu hẹp theo từng ngày, diện tích rừng tự nhiên che phủ giảm dần do khai thác trái phép, đất rừng bị chuyển qua đất nông công nghiệp, các loài sinh vật quý hiếm thì đứng trước nguy cơ tuyệt chủng rất cao
Khoáng sản như sắt, thép, nhôm, cacbon, silic, kẽm và đồng gia tăng trong những năm qua, do công nghiệp hóa, nhưng do nhu cầu lớn trong các ngành công nghiệp hiện đại, trữ lượng tự nhiên của các loại quặng này cũng dần dần cạn kiệt do hoạt động khai thác quá mức
Dầu là một nguồn tài nguyên thiên nhiên là một nguồn tài nguyên không thể tái tạo, tốc
độ tiêu thụ như hiện tại, lượng dự trữ dầu trên toàn thế giới sẽ tiếp tục giảm và các nguồn dầu
có thể chỉ đủ trong 30-40 năm nữa Dầu là một nguồn tài nguyên thiên nhiên là một nguồn tài nguyên không thể tái tạo Với tốc độ tiêu thụ như hiện tại, lượng dự trữ dầu trên toàn thế giới
sẽ tiếp tục giảm và các nguồn dầu có thể chỉ đủ trong 30-40 năm nữa
Than là một trong những loại nhiên liệu hóa thạch được sử dụng rộng rãi và là nguồn tài nguyên rẻ nhất, không tái tạo được Hơn thế, than đá là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí nhưng lại được nhiều người sử dụng
Không khí là tài nguyên thiên nhiên đang bị đe dọa nặng nề bởi sự ô nhiễm không khí đáng báo động như hiện nay Việc đốt các nhiên liệu hóa thạch, khí thải từ các nhà máy và các ngành công nghiệp, khai thác mỏ, khói và hóa chất độc hại là một số nguyên nhân hàng
Trang 30đầu gây ô nhiễm không khí Chúng ta cần tự bản thân có ý thức hơn để bảo vệ không khí, bảo
vệ nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt này
2.1.1.2 Nguyên nhân của vấn đề suy thoái tài nguyên thiên nhiên
Thứ nhất: Xem xét trên khía cạnh về khả năng tái tạo của tài nguyên, tài nguyên thiên
nhiên gồm hai nhóm, tài nguyên có khả năng tái tạo và tài nguyên không có khả năng tái tạo Những tài nguyên có khả năng tái tạo như tài nguyên sinh vật (hải sản tôm cá, rừng…) chúng
có chu trình sinh học và tái tạo sau một thời gian nhất định nếu đảm bảo môi trường và thời gian cho chúng tồn tại và phát triển Khai thác quá mức để đáp ứng nhu cầu, hoạt động khai thác không được quản lý là những nguyên nhân dẫn đến suy thoái các nguồn tài nguyên này mặc dù chúng có khả năng tái tạo Những tài nguyên không có khả năng tái tạo là những tài nguyên là những tài nguyên có những điều kiện hình thành rất đặc biệt cụ thể là thời gian hình thành rất dài, trong điều kiện địa chất đặc biệt (than đá, dầu mỏ…), tài nguyên này một khi đã sử dụng là số lượng sẽ giảm dần, không có qui trình hay phương pháp nào hoàn trả lại
do vậy số lượng (trữ lượng tài nguyên này suy giảm theo thời gian cùng với quá trình khai thác và sử dụng của con người
Thứ hai: Xem xét về nguyên nhân gây ra sự suy giảm tài nguyên do tự nhiên và do con
người Nguyên nhân do tự nhiên xuất phát từ những biến đổi bất thường của môi trường tự nhiên như động đất, núi lửa hoạt động, biến đổi thời tiết… gây ra sự suy giảm hoặc thậm chí tình trạng tuyệt chủng một số loài động thực vật Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu là từ các hoạt động phát triển của con người, con người tiến hành khai thác quá mức các nguồn tài nguyên vượt quá khả năng phục hồi của các nguồn tài nguyên Theo một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra, hoạt động của con người đã làm cho rất nhiều loài bị tuyệt chủng Kể từ năm
1600 đến nay khoảng 21% các loài động vật và 1,3% các loài chim trên thế giới đã bị tuyệt chủng Tốc độ tuyệt chủng của các loài trở nên ngày càng cao Những loài còn sống sót thì cũng có nguy cơ đứng bên bờ của sự tuyệt chủng Hơn 99% những sự tuyệt chủng thời cận đại là do con người gây ra
2.1.1.3 Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và suy thoái tài nguyên thiên nhiên
Thương mại quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến việc khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngược lại Mối quan hệ này được thừa nhận ảnh hưởng này được hệ thống hóa trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, cho phép các ngoại lệ đối với các nghĩa
vụ của hiệp ước đối với các biện pháp "liên quan đến việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt", thúc đẩy Công ước về Thương mại Quốc tế các Loài Nguy cấp và làm cơ sở cho Công ước về Đa dạng sinh học
Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên được thể hiện thông qua cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực Một mặt, điều kiện tự do hóa thương mại cần cam kết bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên (Bảo tồn nguồn lợi, duy trì đa dạng sinh học)
từ đó ảnh hưởng tích cực đến sự thay đổi về thể chế quản lý của các quốc gia xuất khẩu Mặt khác, tự do hóa thương mại làm thay đổi giá cả tương đối của hàng hóa thâm dụng nhiều tài nguyên, làm tăng nỗ lực xuất khẩu và điều này chính là nguyên nhân cơ bản của việc khai
Trang 31thác tài nguyên không có kiểm soát (Review of Environmental Economics and Policy 4(1):103-121 Copyright 2010, Oxford University Press)
Sinh viên đọc thêm: Báo cáo của Ủy ban tài nguyên quốc tế UNEP (2015), International Trade in Resources: A Biophysical Assessment, Report of the International Resource Panel
2.1.2 nhi m m i tr ng uy n bi n gi i
2.1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường xuyên biên giới
Ô nhiễm xuyên môi trường xuyên biên giới là ô nhiễm bắt nguồn từ một quốc gia nhưng
có thể gây ra thiệt hại trong môi trường của quốc gia khác, bằng cách vượt qua biên giới thông qua các con đường như nước hoặc không khí
Ô nhiễm có thể được vận chuyển qua hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km Do môi trường
có tính mở (luôn luôn có sự trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin) do vậy vấn đề ô nhiễm môi trường trong ranh giới quốc gia chỉ có tính tương đối Nó lý giải tại sao các vấn
đề môi trường nói chung, ô nhiễm môi trường nói riêng hiện nay là các vấn đề môi trường của khu vực, vấn đề môi trường toàn cầu
2.1.2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường xuyên biên giới
Ô nhiễm của một quốc gia nhanh chóng có thể và thường xuyên xảy ra, trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế và môi trường của một quốc gia khác Một trong những vấn đề đối với ô nhiễm xuyên biên giới là quá trình này có thể mang ô nhiễm ra khỏi nơi phát thải ra nó và chuyển nó vào một quốc gia có thể mức độ ô nhiễm thấp hoặc thậm chí là không ô nhiễm Thực tế là tình trạng ô nhiễm nặng nề hiện rõ ở các nước phát triển cũng trở nên rõ ràng ở các vùng sâu vùng xa của các nước láng giềng Và bởi vì vấn đề bắt nguồn từ một quốc gia khác nên việc giải quyết nó trở thành vấn đề của ngoại giao và quan hệ quốc tế
Trong những năm gần đây, ô nhiễm xuyên biên giới là một hiện tượng phổ biến ở châu
Á Tại đây, ô nhiễm xuyên biên giới từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một trong những nền kinh tế lớn nhất châu lục, đang gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng cho các quốc gia nhỏ hơn khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước láng giềng khác Người Trung Quốc hiện đang mở rộng nền kinh tế của họ bằng cách đặt môi trường vào tình trạng nguy hiểm Hàn Quốc và Nhật Bản có những bảo cáo cho rằng mưa tình trạng mưa axit được tạo ra bởi khí thải lưu huỳnh và nitơ oxit từ các nhà máy đốt than ở miền bắc Trung Quốc Họ cũng phàn nàn rằng những cơn gió mang theo lưu huỳnh và oxit nitơ cũng hút các kim loại nặng
và chất gây ung thư và thải chúng ra đất nước của họ Các trường hợp tử vong do cát vàng gây ra các bệnh tim mạch và hô hấp đã được báo cáo ở Hàn Quốc Ngay cả các trường học ở miền nam Nhật Bản và Hàn Quốc cũng đã bị buộc phải đình chỉ các hoạt động do khói hóa chất độc tạo ra từ các nhà máy của Trung Quốc và bão cát hoặc bụi từ sa mạc Gobi
2.1.2.3 Thương mại quốc tế và ô nhiễm môi trường xuyên biên giới
Trong những năm gần đây, ô nhiễm xuyên biên giới là một hiện tượng phổ biến ở châu
Á Tại đây, ô nhiễm xuyên biên giới từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một trong những nền
Trang 32kinh tế lớn nhất châu lục, đang gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng cho các quốc gia nhỏ hơn khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước láng giềng khác Người Trung Quốc hiện đang mở rộng nền kinh tế của họ bằng cách đặt môi trường vào tình trạng nguy hiểm Hàn Quốc và Nhật Bản có những bảo cáo cho rằng mưa tình trạng mưa axit được tạo ra bởi khí thải lưu huỳnh và nitơ oxit từ các nhà máy đốt than ở miền bắc Trung Quốc Họ cũng phàn nàn rằng những cơn gió mang theo lưu huỳnh và oxit nitơ cũng hút các kim loại nặng
và chất gây ung thư và thải chúng ra đất nước của họ Các trường hợp tử vong do cát vàng gây ra các bệnh tim mạch và hô hấp đã được báo cáo ở Hàn Quốc Ngay cả các trường học ở miền nam Nhật Bản và Hàn Quốc cũng đã bị buộc phải đình chỉ các hoạt động do khói hóa chất độc tạo ra từ các nhà máy của Trung Quốc và bão cát hoặc bụi từ sa mạc Gobi
Tài liệu sinh vi n đọc th m:
- Phân tích vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới trong thương mại Trung Quốc - Hoa
Kỳ (https://www.mdpi.com/2071-1050/11/22/6252/htm)
- Công ước Espoo về đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới
2.1.3 Vấn đ bi n đ i h hậu
2.1.3.1 Khái niệm biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi mô hình thời tiết và những thay đổi liên quan đến đại dương, bề mặt đất và các tảng băng, xảy ra theo thời gian với quy mô hàng thập kỷ hoặc lâu hơn Biến đổi khí hậu là sự thay đổi dài hạn trong điều kiện thời tiết được xác định bởi những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, gió và các chỉ số khác Biểu hiện chính của là các hình thái môi trường cực đoan: bão, tố lốc, hạn hán, băng giá, nước biển dâng…
2.1.3.2 Nguyên nhân biến đổi khí hậu
Sự hình thành ngày càng nhiều các khí thải nhà kính (GHG – Greenhouse gase như carbon dioxide (CO2), Metan (CH4), Nito oxit (NO), khí flo, là nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính Chúng tạo một lớp màng bao quanh trái đất giữ nhiệt của mặt trời ngăn không cho chúng tán ngược lại không gian
Hoạt động của con người là nguyên nhân chính tạo ra khí nhà kính Các hoạt động chính của con người tạo ra như việc sử dụng tài nguyên hóa thạch như than đá, dầu mỏ; tình trạng rừng nguyên sinh bị chặt phá để lấy gỗ hoặc để trồng các cây công nghiệp khiến hạn chế khả năng hấp thụ khí CO2; việc gia tăng hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
đã ra lượng lớn khí thải như khí metan được tạo ra trong quá trình phân hủy chất thải động vật, việc sử dụng phân đạm tạo ra một lượng lớn Nitro oxit, sử dụng chất CFC trong công nghiệp làm lạnh gây phá hủy tầng Ozone …
2.1.3.3 Biến đổi khí hậu và thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế và biến đổi khí hậu có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau, một mặt thương mại quốc tế có thể tác động đến lượng phát thải khí nhà kính thông qua việc thay
Trang 33đổi lợi thế so sánh của các quốc gia và dẫn đến dịch chuyển trong cơ cấu thương mại quốc tế, giúp giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hỗ trợ các nước thích ứng với biến đổi khí hậu, mặt khác thương mại quốc tế nếu không được kiểm soát tốt các tác động đến môi trường thì có thể làm trầm trọng hơn hậu quả của biến đổi khí hậu từ đó ảnh hưởng tiêu cực trở lại đến hoạt động thương mại như quốc gia phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp có thể sẽ bị giảm lượng xuất khẩu do khí hậu nóng lên và sự gia tăng tần suất của thiên tai
Tài liệu sinh viên tham khảo và đọc thêm: Dellink, R et al (2017), “International trade consequences of climate change”, OECD Trade and Environment Working Papers, 2017/01, OECD Publishing, Paris http://dx.doi.org/10.1787/9f446180-en
2.1.4 Sự c m i tr ng trong hoạt đ ng th ng mại qu c t
2.1.4.1 Khái niệm sự cố môi trường
Điều 3, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2020: “Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng”
2.1.4.2 Nguyên nhân sảy ra các sự cố môi trường
Có 3 nguyên nhân gây sự cố môi trường: do thiên nhiên gây ra, do con người gây ra, do
cả thiên nhiên và con người kết hợp gây ra
Sự cố môi trường do thiên nhiên gây ra
Là các tai biến tự nhiên như: động đất, bão, sóng thần, cháy rừng Thiên tai là SCMT gây
ra bởi quá trình tự nhiên, thường được coi là bất khả kháng, con người cần sống hoà hợp với chúng Việc lựa chọn phương án phòng chống thiên tai tập trung vào lựa chọn cách sống và
né tránh những ảnh hưởng không mong đợi
Sự cố môi trường do con người gây ra
Là những hoạt động của con người như xả thải chất ô nhiễm hoặc sự cố kỹ thuật như cháy, nổ nhà máy lọc dầu, vỡ ống dẫn khí, rò rỉ hoá chất nguy hại …
Sự cố môi trường do cả con người và thiên nhiên gây ra
Là hậu quả do các hoạt động của con người và quá trình tự nhiên như hiện tượng mưa acid Hiện tượng này có nguyên nhân là do con người đã thải ra các khí Cl2, SO2 … phát tán lên bầu khí quyển và tạo ra mưa a xít HCl hay H2SO4 …
Phân biệt nguyên nhân gây ra sự cố môi trường có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân hoặc tổ chức có liên quan
2.1.4.3 Sự cố môi trường và hoạt động thương mại quốc tế
Sự cố môi trường trong hoạt động thương mại quôc tế có thể đến từ bất kể khâu nào trong chuỗi cung ứng thương mại quốc tế, từ hoạt động nghiên cứu phát triển, sản xuất vận chuyển,
Trang 34phân phối, tiêu dùng và thải bỏ các sản phẩm Các quốc gia xuất khẩu hạn chế những rủi ro
từ những sự cố môi trường trong quá trình sản xuât, vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, đối với các quốc gia nhập khẩu có thể ảnh hưởng từ quá trình vận chuyển, phân phối và tiêu dùng Chính vị vậy, đối với các quốc gia, công tác phòng ngừa các sự cố môi trường trong hoạt động động thương mại quốc tế là rất quan trọng
Ví dụ về nguy cơ sảy ra các sự cố môi trường trong hoạt động bốc xếp và lưu giữ hàng nguy hiểm tại cảng biển tại Việt Nam
Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế cảng biển, là các cửa ngõ để Việt Nam trao đổi hàng hóa thương mại với thế giới và giữa các vùng miền trong cả nước Bên cạnh những lợi ích về phát triển kinh tế từ sự tăng trưởng sản lượng hàng hóa thông qua cảng thì các nguy cơ ô nhiễm môi trường từ hoạt động này cũng ngày một tăng Hàng nguy hiểm đã được Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) xếp vào nhóm cần được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình vận chuyển cũng có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây tại các cảng biển Việt Nam
Công tác bảo vệ môi trường và kiểm soát, ngăn ngừa sự cố liên quan đến hàng nguy hiểm tại cảng biển Việt Nam có những điểm mạnh như:
Hệ thống luật pháp: Các quy định về bảo vệ môi trường trong quá trình vận chuyển và lưu giữ hàng nguy hiểm được thể hiện đầy đủ trong các luật, bộ luật: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Hóa chất, Bộ luật Hàng hải… Việt Nam cũng là thành viên của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), do vậy các công ước quốc tế liên quan đến vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường biển được áp dụng tại Việt Nam như: Công ước Marpol 73/79, Bộ luật quốc tế
về vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường biển (IMDG Code)… Đây là cơ sở thuận lợi trong việc kiểm soát quá trình vận chuyển và lưu giữ hàng hóa chất độc hại tại cảng biển Việt Nam
Nhận thức về bảo vệ môi trường biển: Công tác bảo vệ môi trường biển đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng và đầu tư Việc hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hàng hải cũng góp phần nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường trong hoạt động hàng hải tại Việt Nam
Bộ máy quản lý: Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý giao thông, bảo vệ môi trường và an toàn lao động đã được hoàn thiện từ Trung ương đến các địa phương và các ngành có liên quan Tại các đơn vị khai thác cảng cũng đã có bộ phận an toàn và môi trường Các công cụ quản lý môi trường: Nhiều công cụ quản lý đã và đang được áp dụng để quản lý môi trường tại Việt Nam nói chung và quản lý môi trường cảng biển nói riêng như: Luật pháp và chính sách, kinh tế, kỹ thuật và tuyên truyền giáo dục…
Khoa học công nghệ: Các công nghệ hiện đại trong vận chuyển, xếp dỡ và lưu giữ hàng hóa đang được áp dụng mạnh mẽ tại các cảng biển Việt Nam, điều này sẽ giúp cho việc kiểm soát hàng nguy hiểm được chặt chẽ và giảm thiểu các nguy cơ rủi ro
Trang 35Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều thách thức đặt ra, nếu không kiểm soát tốt sẽ gây thiệt hại rất lớn nếu sảy ra những sự cố về môi trường
Cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường yếu kém: Các cảng biển Việt Nam đều có quy mô nhỏ nên hầu hết không được đầu tư cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường đầy đủ như hệ thống tiếp nhận chất thải từ tàu, hệ thống kiểm soát ô nhiễm từ tàu, hệ thống ứng phó sự cố môi trường…Thiếu nguồn nhân lực: Tại hầu hết các cảng biển đều thiếu nhân lực có chuyên môn
về an toàn và môi trường, đặc biệt là chuyên môn về quản lý hàng nguy hiểm và hóa chất độc hại theo yêu cầu của IMDG Code
Thiếu các tiêu chuẩn hướng dẫn chuyên ngành an toàn về vận chuyển, bốc xếp và lưu giữ hàng nguy hiểm bằng đường biển theo quy định Việt Nam nên phải áp dụng hướng dẫn của IMDG Code Tuy nhiên, do thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn nên việc áp dụng chưa đầy
đủ
Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý còn yếu: Việc kiểm soát hàng nguy hiểm tại các cảng biển còn chưa hiệu quả một phần là do thiếu sự phối hợp giữa cảng vụ hàng hải, cơ quan quản lý môi trường địa phương và cơ quan quản lý an toàn hóa chất
Nguồn tài chính: Việc đầu tư cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường, phòng ngừa và ứng phó sự
cố trong hoạt động hàng hải đòi hỏi nguồn kinh phí lớn Trong khi đó tại các cảng biển Việt Nam, nguồn kinh phi cho hoạt động bảo vệ môi trường còn khá hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác bảo vệ môi trường nói chung và ứng phó với các sự cố môi trường đối với hàng nguy hiểm
Các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển, hội nhập đối với công tác kiểm soát, ngăn ngừa sự cố liên quan đến hàng nguy hiểm tại cảng biển Việt Nam có những điểm mạnh như: Hợp tác quốc tế: Hoạt động hàng hải là hoạt động mang tính quốc tế cao, do vậy việc tham gia các công ước quốc tế về hàng hải và hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực này là xu hướng ngày một gia tăng Việc tham gia các công ước quốc tế và hợp tác quốc
tế sẽ là cơ hội cho Việt Nam nâng cao năng lực về quản lý môi trường và ứng phó sự cố môi trường trong hoạt động hàng hải, trong đó có sự cố do hàng nguy hiểm gây ra
Sự phát triển của khoa học công nghệ: Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ tự động hóa hóa giúp cho quá trình bốc xếp, lưu giữ hàng hóa tại cảng biển được nhanh chóng và an toàn hơn Việc áp dụng công nghệ hiện đại vào quá trình kiểm soát ô nhiễm và phòng ngừa, ứng phó sự cố cũng giúp cho việc quản lý môi trường biển được hiệu quả
Sự phát triển của hệ thống cảng biển và gia tăng về khối lượng hàng hóa trên thế giới đòi hỏi hệ thống cảng biển Việt Nam phát triển rất nhanh để đáp ứng sự gia tăng nhu cầu lưu chuyển hàng hóa bằng đường biển của Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ khác Việc gia tăng khối lượng hàng hóa qua cảng biển nói chung và hàng nguy hiểm nói riêng sẽ làm gia tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ quá trình bốc xếp và lưu giữ hàng nguy hiểm tại các cảng biển Việt Nam
Trang 362.2 C c h ệ ịnh t ờn ên (MEAs)
Hiện nay, một trong những công cụ mang tính pháp lý quốc tế để các quốc gia hợp tác trong một loạt các thách thức môi trường toàn cầu là các công ước và hiệp ước quốc tế về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, còn được gọi là Hiệp định Môi trường Đa phương - Multilateral environmental agreements (MEAs)
MEAs được thiết lập giữa ba hoặc nhiều quốc gia với mục đích đạt được mục tiêu môi trường MEAs là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận và cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác trong các nước thành viên MEAs có hiệu lực trọn vẹn với các nước thành viên, nhưng cũng có tác động rất lớn đối với các nước trong khu vực chưa tham gia công ước
Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường và khoảng 300 công cụ môi trường được thiết lập theo nhiều mục tiêu khác nhau nhưng về cơ bản là mục tiêu bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
2.2.1 Các c ng c bảo vệ tài nguy n thi n nhi n
2.2.1.1 Các công ước về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học
Thế giới bắt đầu quan tâm tới vấn đề bảo tồn nói chung từ những năm 1960, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực cụ thể như bảo vệ di sản văn hoá, suy giảm trữ lượng cá ngừ, các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng và vùng đất ngập nước Đến những năm 1990, sự quan tâm của toàn cầu chuyển sang các lĩnh vực được gắn kết với nhau bởi vấn đề đa dạng “sinh học” như các loài, khí hậu, hệ sinh thái, nước và đất
Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước, Công ước về di sản thế giới và Công ước
về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES) đều được thông qua trong những năm 1970 Các Công ước này đều quy định về việc bảo tồn và
sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cụ thể
B ểu ồ 2.2: C c c n ớc v tồn v sử dụn n v n d n s nh học
Công ước Liên Hợp Quốc về đa dạng sinh học là hiệp định điều chỉnh toàn diện về đa dạng sinh học Công ước được thông qua tại Hội nghị Rio năm 1992 và có cách tiếp cận tổng thể, hướng tới phát triển bền vững
Trang 37Nghị định thư Cartagena năm 2000 về an toàn sinh học bổ sung cho Công ước đa dạng sinh học, điều chỉnh các sinh vật biến đổi gen (Living Modified Organisms, gọi tắt là LMO) được tạo ra từ công nghệ sinh học
Nghị định thư Nagoya năm 2010 điều chỉnh việc tiếp cận các nguồn gen và sự chia sẻ công bằng, hợp lý những lợi ích có được từ việc sử dụng những nguồn gen này Danh sách
20 Mục tiêu đa dạng sinh học Aichi đã được thông qua tại Hội nghị lần thứ 10 các Bên tham gia Công ước đa dạng sinh học (COP 10) và là một phần của Kế hoạch chiến lược về đa dạng sinh học 2011-2020 hướng tới mở rộng các chiến lược và kế hoạch của các thành viên theo hướng toàn diện hơn, bao quát nhiều chủ đề liên ngành và trên cơ sở đó kết hợp các hiệp định
có liên quan với nhau về biến đổi khí hậu, hệ sinh thái biển, sa mạc hoá và các loài có nguy
cơ tuyệt chủng Kế hoạch chiến lược về đa dạng sinh học 2011-2020 được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và nhiều hiệp định liên quan tới đa dạng sinh học ủng hộ
B ểu ồ 2.3: C c c n ớc v tồn v sử dụn n v n d n s nh học
Sáu Hiệp định chính mà Việt Nam đã phê chuẩn đại diện cho những nỗ lực toàn cầu to lớn nhằm giải quyết những vấn đề liên quan tới bảo tồn (còn gọi là luật xanh) Việc thực thi các hiệp định này ở cấp độ quốc gia bao gồm xây dựng một hệ thống các quy định và tiêu chuẩn để điều chỉnh việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học Hệ thống này có thể bao gồm các khuôn khổ pháp lý thống nhất; các thiết chế mạnh; các cơ chế và thủ tục tư pháp
và một hệ thống cho phép sự tham gia của cộng đồng từ những giai đoạn đầu nhằm củng cố toàn bộ hệ thống và bảo đảm ý thức trách nhiệm
1.Công ước năm 1992 về Đa dạng sinh học
2.Nghị định thư Cartagena năm 2000 về An toàn sinh học
3.Nghị định thư Nagoya năm 2010 về Tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp
lý các lợi ích
Trang 384.Công ước năm 1973 về Buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng
5.Công ước Ramsar năm 1971 về Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước
6.Công ước năm 1972 về Bảo vệ các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới
2.2.1.2 Các công ước về quản lý đất
Một số các Hiệp định Đa phương về Môi trường có các điều khoản về quản lý đất Ngoài Công ước Liên Hợp Quốc năm 1994 về chống sa mạc hóa được nhắc tới trong phần này còn
có Công ước năm 1992 về Đa dạng sinh học và Thỏa thuận Paris năm 2015
Công ước đa dạng sinh học cũng có các quy định liên quan đến vấn đề sử dụng đất bền
vững được gián tiếp điều chỉnh thông qua một số cơ chế và văn bản:
- Thuật ngữ “sử dụng bền vững đa dạng sinh học và các thành tố của nó” về mặt khái niệm có liên quan mật thiết tới các yếu tố sử dụng đất bền vững
- “Cách tiếp cận hệ sinh thái” là một chiến lược quản lý tổng thể đất, nước và sinh vật nhằm thúc đẩy bảo tồn và phát triển bền vững
Thỏa thuận Paris năm 2015 cũng có những quy định và cơ chế khác nhau liên quan tới
sử dụng đất:
- Thỏa thuận Paris dẫn chiếu cụ thể tới vấn đề sử dụng đất, tái khẳng định khuôn khổ hành động (giảm phát thải do phá rừng và suy giảm diện tích rừng) được thông qua theo Công ước về biến đổi khí hậu
- Các chiến lược giảm nhẹ chi tiết, được tất cả các thành viên xây dựng theo cam kết Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDCs), được kỳ vọng sẽ bao gồm cả việc sử dụng rừng
và đất
- Các kế hoạch và biện pháp thích ứng được quy định trong Hiệp định nhằm bảo vệ các
hệ sinh thái và do đó có liên quan tới việc sử dụng đất
Công ước Liên Hợp Quốc năm 1994 về chống sa mạc hoá ở những quốc gia đang chịu hạn hán và/hoặc sa mạc hoá nghiêm trọng, đặc biệt là ở Châu Phi
2.2.1.3 Các công ước về quản lý nguồn nước
Nguồn nước nói chung, hệ thống sông ngòi nói riêng vốn đã được điều chỉnh bởi luật quốc tế từ trước vì chúng thường được dùng làm biên giới tự nhiên giữa các Quốc gia và thường chảy qua lãnh thổ của nhiều Quốc gia
Điều chỉnh pháp lý về môi trường đối với sông ngòi đã được phát triển tương đối sớm với bản Quy tắc Helsinki năm 1966 phản ánh luật tập quán tại thời điểm đó liên quan tới sử dụng công bằng Quyền của các quốc gia ven bờ là những vấn đề cần điều chỉnh vì về mặt chính trị
Trang 39rất khó để các Quốc gia thượng nguồn nhượng bộ trong các chính sách về sông ngòi của họ
vì lợi ích của các Quốc gia hạ nguồn nếu như điều này được xem là tạo ra gánh nặng cho người dân và lợi ích kinh tế của Quốc gia
Phần lớn các thoả thuận về sông quốc tế thường được áp dụng cho các khu vực sông đơn
lẻ, bên cạnh đó, các thoả thuận ở cấp khu vực và thậm chí toàn cầu cũng đã được ký kết nhằm thúc đẩy việc quản lý bền vững các đường thuỷ nội địa xuyên biên giới
Uỷ ban luật pháp quốc tế của Liên Hợp Quốc đã soạn thảo Công ước năm 1997 về việc
sử dụng các nguồn nước quốc tế vào mục đích phi giao thông thuỷ với nhiều quy định tham vọng
Sông, hồ, nước ngầm ngày nay được hiểu là các lưu vực thoát nước phức tạp, có thể bao gồm nước ngầm thông với nước bề mặt, Năm 2008, Uỷ ban luật pháp quốc tế Liên Hợp Quốc đã hoàn thành bản Dự thảo Công ước về các tầng đất ngậm nước xuyên biên giới (draft articles of the Law of Transboundary Aquifers), nhằm điều chỉnh nước ngầm không thông với nước bề mặt và có thể được so sánh với các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang được chia
sẻ hợp pháp hiện nay như các vỉa dầu và khí xuyên biên giới
Các quy định này được nêu cụ thể tại Công ước năm 1997 về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế vào mục đích phi giao thông thủy
2.2.2 Các c ng c bảo vệ m i tr ng
2.2.2.1 Công ước bảo bệ môi trường biển và quản lý biển
Có rất nhiều văn kiện quốc tế điều chỉnh các khía cạnh khác nhau liên quan đến bảo vệ môi trường biển và quản lý biển Trong số đó văn kiện quan trọng nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982- văn kiện này đã phải mất gần 12 năm mới có hiệu lực và được xem là „hiến chương về đại dương‟ Do Công ước không cho phép bảo lưu nên tất cả các Quốc gia thành viên bắt buộc phải chấp nhận toàn bộ Công ước UNCLOS xác lập một khuôn khổ pháp lý cho tất cả các hoạt động trên đại dương điều chỉnh tất cả các khía cạnh của không gian biển, như vấn đề phân định biển, kiểm soát môi trường, nghiên cứu khoa học biển, các hoạt động thương mại và kinh tế, chuyển giao công nghệ và giải quyết tranh chấp liên quan tới biển Công ước còn được bổ sung thêm nhiều quy phạm tập quán quốc tế
Bên cạnh UNCLOS, có rất nhiều các văn kiện khác điều chỉnh vấn đề ô nhiễm biển Trong khi UNCLOS được điều hành bởi Tiểu banLuật biển và các vấn đề đại dương (Division of Ocean Affairs and Law of the Sea) của Liên Hợp Quốc đặt tại New York, các văn kiện khác được quản lý bởi Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đặt tại Luân Đôn Có khoảng 50 Công ước IMO được chia thành các công ước về an toàn hàng hải, công ước về ô nhiễm biển và các công ước về trách nhiệm và bồi thường
Trang 40Trong số các công ước điều chỉnh ô nhiễm biển, Công ước năm 1973 về Ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu biển, được sửa đổi theo Nghị định thư năm 1978 (MARPOL 73/78) có giá trị vượt trội Công ước có sáu phụ lục; và Việt Nam là thành viên của tất cả các phụ lục này Trong các loại ô nhiễm biển khác nhau, ô nhiễm từ nguồn trên đất liền chiếm khoảng 82% trong khi các hoạt động ngoài biển chỉ gây ra các ô nhiễm nhỏ
02 Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển: Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật Biển và Công ước quốc tế về Ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu biển 1973/78
2.2.2.2 Công ước về biến đổi khí hậu
Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu
Đây là một hiệp ước quốc tế về môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc
về Môi trường và Phát triển (UNCED), thường được gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất diễn ra tại Rio de Janeiro từ ngày 3 đến 14 tháng 6 năm 1992 Mục tiêu của Hội nghị là ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Công ước khung có hiệu lực từ ngày 21/03/1994, với số thành viên phê chuẩn là 197 nước Việt Nam phê chuẩn Công ước từ ngày 16/11/1994 Cơ quan đầu mối thực thi Công ước là Bộ Tài nguyên và Môi trường
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC, Công ước khung) xác lập một khuôn khổ chung cho các nỗ lực chống biến đổi khí hậu toàn cầu và đã được cụ
thể hóa thông qua nhiều quyết định của Hội nghị các Bên
Mục tiêu