1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Kỹ thuật tạo ảnh số dùng trong công tác thư viện " pdf

10 326 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 551,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuẩn này được hầu hết các máy ảnh và các thiết bị quét ảnh hỗ trợ và tương thích với mọi chương trình quản lý và xử lý hình ảnh, cho phép người sử dụng nén ảnh từ 10 đến 20 lần, hoặc có

Trang 1

KY THUAT THO ARH 36

DUNG TRORG CONG TAC THY VIER

nước ta đang là xu thế phát triển

và là thách thức của bất kỳ một thư

viện nào Trên thế giới, việc số hoá tài

liệu đã diễn ra khá lâu, từ những năm 90

của thế kỷ XX, hiện vẫn đang được thúc

đẩy một cách mạnh mẽ hơn, đặc biệt có

sự tham gia của Google với tham vọng

số hoá toàn bộ nguồn tri thức nhân loại,

thêm vào đó là sự quan tâm đặc biệt của

Thư viện Quốc hội Mỹ, Thư viện Anh,

Thư viện Quốc gia Trung Quốc với các

khoản kinh phí khổng lồ lên đến hàng tỷ

đô la

> hoá nguồn tài nguyên thông tin ở

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của

máy tính, các thiết bị thu nhận ảnh và sự

ra đời của Internet thì việc tìm một

phương pháp nén ảnh để giảm bớt

không gian lưu trữ thông tin và truyền

thông tin trên mạng nhanh chóng đang

là một yêu cầu cần thiết Trong những

năm gần đây, có rất nhiều phương pháp

đã và đang được nghiên cứu rộng rãi để

thực hiện nén ảnh Tất cả đều với một

mục đích chung là làm thế nào để biểu

diễn một ảnh với dung lượng nhỏ nhất để

có thể tối thiểu hoá dung lượng kênh

truyền và không gian lưu trữ trong khi

vẫn giữ được tính trung thực của ảnh

Nén (Compression): Trong thực tế

nếu như dung lượng ảnh lớn sẽ gây khó

khăn cho việc xử lý của máy tính và

mạng máy tính Hiện nay người ta sử

dụng rất nhiều các kỹ thuật nén để giảm

bớt kích thước tệp ảnh số, tạo điều kiện

LÊ ĐỨC THẮNG

Thư viện Quốc gia Việt Nam

cho việc lưu trữ, xử lý và chuyển tải Song dùng bất kỳ kiểu nén gì và mức độ nén như thế nào ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng ảnh Một số chỉ được sử dụng với ảnh màu, một số với ảnh đen trắng, ảnh xám Nhìn chung tất

cả các kỹ thuật nén đều dựa trên các

thuật toán phức tạp, chuyên biệt để rút gọn các chuỗi mã số nhị phân của một

ảnh chưa nén thành ký hiệu toán học

Có thể chia thành 2 loại kỹ thuật nén

chính

Nén khéng mat (lossless compres-

sion): Một số hệ thống nén có các thông tin được lặp dưới dạng một thuật toán để

có thể được đọc ngược (hay giải nén —

decompressed) một cách chính xác với

bản gốc Loại nén này được gọi là nén không mất vì không có một thông tin nào

đó bị bỏ đi trong quá trình nén

Nén mất: (lossy compression): Các

hệ thống nén khác sử dụng một phương

tiện nào đó để xác định thông tin nào không quan trọng và có thể bị dung hòa

hoặc loại bỏ mà ảnh hưởng không đáng

kể đến chất lượng ảnh Ví dụ mắt thường nhạy cảm với các thông tin về quang hơn các thông tin về màu Loại kỹ thuật nén này được gọi là nén mất, vì ảnh đã được nén không còn giống hệt ảnh gốc nữa Nén mất được sử dụng trong kỹ thuật

quét xám và màu, đặc biệt với những

ảnh phức tạp đến mức việc rút gọn thông tin gần như không có ý nghĩa trong việc

thu nhỏ tệp

Tap chi THU VIEN VIET NAM

Trang 2

Những định dạng ảnh thường được sử

dụng trong việc lưu trữ, bảo quản và phổ

biến nguồn tài nguyên ở dạng ảnh cũng

như tạo lập sách điện tử (e-book):

1 JPEG (.jpeg, jpg .ipe)

Chuẩn JPEG được tổ chức Joint

Photographic Experts Group (Hiệp hội

các chuyên gia hình ảnh) đưa ra và phát

triển Chuẩn này được hầu hết các máy

ảnh và các thiết bị quét ảnh hỗ trợ và

tương thích với mọi chương trình quản lý

và xử lý hình ảnh, cho phép người sử

dụng nén ảnh từ 10 đến 20 lần, hoặc có

thể lên đến 80 lần mà vẫn giữ được chất

lượng hình ảnh Do tỷ lệ nén ảnh cao,

dung lượng nhỏ, rất có lợi thế trong việc

truyền dữ liệu trên mạng internet và tiết

kiệm không gian lưu trữ, tiết kiệm chỉ phí

cho các thiết bị phần cứng và hạ tầng

công nghệ Tuy nhiên, hệ số nén càng

cao thì hình ảnh sau khi giải nén sẽ càng

bị sai lệch nhiều hơn, nó chỉ gần giống

như ban đầu chứ không đạt hoàn toàn

như hình ảnh gốc

Công nghệ nén ảnh JPEG là một

trong những công nghệ nén ảnh hiệu

quả, cho phép làm việc với các ảnh có

nhiều màu và kích cỡ lớn JPEG cho

phép bạn chọn lựa giữa kích thước tập tin

và chất lượng hình ảnh JPEG chia ảnh

ra thành những ô vuông 8x8 điểm ảnh,

và được nén độc lập Đầu tiên các ô

vuông này tự hiển thị theo ô lưới xung

quanh viền các chỉ tiết trên ảnh, nếu bạn

tăng cấp độ nén, những ô vuông sẽ lộ ra

gây suy giảm chất lượng ảnh

Hệ số nén rất cao có thể lên đến 80:1,

hay có thể lớn hơn (ở JPEG2000), nhưng

tỷ lệ nén càng cao thì chất lượng ảnh

càng giảm, đó là điều đương nhiên vì

JPEG sử dụng công nghệ nén mất

(lossy compression), thông tin sẽ bị mất

dần theo tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nén, tuy

nhiên bạn có thể hoàn toàn chủ động lựa

chọn tỷ lệ nén phù hợp với mục đích sử

dụng của mình, ở đây là cân nhắc giữa

dung lượng ảnh (đỡ tốn bộ nhớ và đường

truyền) với mức độ toàn vẹn thông tin (sự

mất thông tin của ảnh), từ đó hãy có

phương án thích hợp trong các chương

trình số hoá của đơn vị

Thông thường các ảnh màu hiện nay

dùng 8 bít (1 byte dữ liệu) hay 256 màu thay cho từng mức cường độ của các màu RGB (Red-đỏ, Green-xanh lá cây,

Blue-xanh da trời Như thế mỗi điểm

ảnh cần 3 byte dữ liệu để lưu mã màu

(lớn hơn 24 lần ảnh đen trắng cùng 08)

me wl

| Ao JPEG: 487 x 23.80 | Anh JPEG: 487 x 23.8

| BB phin gi 48 bit-Coloe,600 dpi

- Độ phân gil: 48 bit-Color, 300 dpi

|

|

i

i

| - Dung lượng; 8 KB } - Dung lượng 264 KB (còn 1/3)

| Riga ¡ - Ghế lượng ịth giảm không đíng KẾ —_

| Ảnh EEG:48.7x23.8 mm Ị | james yet ton

|-Độ phân gi 48 bit Color, 50 dpi

| - Dung lượng: ci 168 KB (gidm 140)

Jenginh giimrbr@t Anh bi vba

| Destine 48 bit-Color , 100 dpi

|-Dang neg chi 3.78 KB (giảm 1/20)

|: lượn

Va JPEG2000 (.jp2,.jpf,.j2k,.j2c,.jpc)

Như đã trình bày ở trên, kỹ thuật nén JPEG sẽ làm mất thông tin lúc giải nén, càng nén với hệ số cao thì thông tin càng

mất nhiều Vì vậy để giải quyết vấn đề

nay, thang 12/1999 một bản phác thảo

tiêu chuẩn nén hình ảnh theo công nghệ

mới JPEG2000 ra đời và đến tháng

8/2000, bản phác thảo này đã được lưu

hành trong giới chuyên gia hình ảnh

Sau đó nó đã được công nhận là tiêu

chuẩn quốc tế vào tháng 12/2000 và

được lSO hợp thức hóa để cho phép ứng

dụng vào các hệ xử lý ảnh

Với JPEG2000 kỹ thuật xử lý hình ảnh

sẽ đạt được những kết quả rất ngoạn

mục vì có thể nén nhỏ từ 100-200 lần mà

hình ảnh không sai sót bao nhiêu so với

hình ảnh gốc Nhưng đâu là điểm nổi bật

ctia JPEG2000 so véi JPEG?

Trang 3

1 Nén một lần, giải nén nhiều lần

2 Hiệu quả nén cao

3 Chuyển đổi màu sắc mà không làm

mất thông tin

4 Nén mất dữ liệu và không mất dữ

liệu trong cùng một giải thuật

5 Có khả năng tự phục hồi từ lỗi

6 Sử dụng mã trực quan

7 Xử lí cả những ảnh đa thành phần

8 Nén cả ảnh nhị phân và ảnh contin-

uos-tone (tông màu liên tục)

9 Xử lí ảnh đa chế độ (ảnh màu)

Tuy nhiên JPEG2000 - định dạng tiếp

theo của JPEG không hiểu sao đã

không được sử dụng một cách phổ biến

sau một thời gian ngắn xuất hiện mặc dù

nó có chất lượng nén tốt hơn JPEG2000

hiện chỉ được sử dụng ở một số thị

trường chuyên dụng nhỏ như rạp chiếu

phim kỹ thuật số, hình ảnh y học, bản đồ

hay các hệ thống thông tin địa lý và có

quá ít các trình duyệt ảnh và xử lý ảnh hỗ

trợ định dạng ảnh này

2 TIFF (.tiff, tif)

TIFF: (Tagged Image File Format):

cũng giéng nhu JPEG, định dạng ảnh

TIFF được sử dụng khá phổ biến và được

hỗ trợ bởi hầu hết các ứng dụng xử lý và

quản lý hình ảnh Công nghệ nén ảnh

của TIFF là phương pháp nén không mất

(lossless compression), đây là định dạng

chủ yếu để lưu trữ ảnh, bao gồm cả đồ

thị lẫn hình ảnh Đầu tiên được xây dựng

bởi hãng Aldus kết hợp với Microsoft để

dùng cho kỹ thuật in PostScript TIFF là

định dạng thông dụng cho các ảnh có

dải tần màu rộng và sâu, phát triển song

song với các máy quét ảnh do đó ngày

càng trở thành 1 định dạng hữu dụng

Trong khi JPEG chỉ hỗ trợ ảnh lớp đơn

(single layer) RGB va 8-bit/kénh mau,

định dạng TIFF hỗ trợ dén 48-bit mau, cd

nghĩa là 16-bitkênh màu (trong không

gian RGB) với ảnh đa lớp (multi layer)

CMYK, vi thé, dinh dang TIFF cé thé tai hiện đến 281 triệu giá trị màu sắc Hiện nay, hầu hết các máy scanner và máy

ảnh đều hỗ trợ độ phân giải 24-bit hoặc 48-bit Với đặc điểm trên, TIFF được ứng

dụng rộng rãi trong các lĩnh vực in ấn và

xuất bản và nhất là trong lĩnh vực lưu trữ

của các thư viện trong các chương trình

số hoá do có những ưu điểm và khả năng bảo toàn gần như nguyên vẹn thông tin từ bản gốc, nhưng có một nhược điểm đáng kể đó là dung lượng quá cao so với JPEG Phiên bản gần

nhất của TIFF là 6.0

- Anh JPEG: 53.8 + 62.1 mm

- Độ phân giải: 48 bit-Color , 300 đpi

+ Dung lượng 39 1 KB

~ Anh TIFF: 53.8 x 62.1 mm

- Độ phần gidi 48 bit-Color , 300 dpi

- Dung lượng, 2.66 MB _

3 BMP (.bmp)

Trong đổ hoa may tinh, BMP (Bitmap), còn được biết đến với tên tiếng

Anh khác là Windows bitmap, là một định dạng tập tin hình ảnh khá phổ biến,

được hỗ trợ bởi hầu hết các phần mềm

đồ họa chạy trên Windows và cả một số

ứng dụng chạy trên MS-DOS Ngay từ Windows 3.1, Microsoft đã cho ra đời

phần mềm PaintBrush, một phần mềm

hỗ trợ vẽ hình ảnh đơn giản và lưu hình ảnh được vẽ dưới dạng BMP 16 hay 256 màu Các tập tin đồ họa lưu dưới dạng

BMP thường có đuôi là BMP hoặc DIB

(Device Independent Bitmap) Đặc điểm

nổi bật nhất của định dạng BMP là tập

tin hình ảnh thường không được nén bằng bất kỳ thuật toán nào Số bit trên mỗi điểm ảnh (bit per pixel), thường được

ký hiệu bởi n Một ảnh BMP n-bit có 2n

Tap chi THU VIEN VIET NAM

Trang 4

màu Giá trị n càng lớn thì ảnh càng có

nhiều màu, và càng rõ nét hơn Giá trị

tiêu biểu của n là 1 (ảnh đen trắng), 4

(ảnh 16 màu), 8 (ảnh 256 màu), 16 (ảnh

65536 màu) và 24 (ảnh 16 triệu màu)

Ảnh BMP 24-bit có chất lượng hình ảnh

trung thực nhất Tuy nhiên, do kích thước

tập tin ảnh BMP quá lớn, định dạng BMP

không phù hợp để trao đổi hình ảnh qua

mạng Internet (do hạn chế về tốc độ

truyền dữ liệu)

4 GIF (.gif)

GIF - Graphics Interchange Format -

định dạng trao đổi hình ảnh: thuật toán

nén ảnh 8-bit được giới thiệu bởi

CompuServe vào năm 1987, và nhanh

chóng được sử dụng rộng rãi trên

internet cho đến tận ngày nay Ảnh GIF

còn hỗ trợ hoạt hình, và là một định dạng

tập tin hình ảnh bitmap cho các hình ảnh

dùng ít hơn 256 màu sắc khác nhau và

các hoạt hình dùng ít hơn 256 màu cho

mỗi khung hình

GIF cũng sử dụng thuật toán nén mất

dữ liệu, cho phép giảm kích thước của

ảnh nhưng lại không ảnh hưởng đến hình

ảnh của ảnh so với nguyên gốc Khác

với JPEG là dữ liệu dạng nén mất và

được dùng cho các ảnh chụp và ảnh

quét với độ phân giải cao, nhưng khi nén

lại làm giảm chất lượng rõ rệt đối với các

ảnh có các chỉ tiết ít màu, tạo nên những

chỗ nhoè, vỡ màu thay vì các đường sắc

nét, đồng thời độ nén cũng thấp cho các

hình vẽ ít màu Như vậy, GIF thường

được dùng cho sơ đổ, hình vẽ và các

hình ít màu, còn JPEG được dùng cho

ảnh chụp, ảnh quét với độ phân giải cao

Điểm yếu của ảnh GIF là chỉ hỗ trợ

256 màu, điều đó làm cho định dạng này

không phù hợp cho các hình chụp

(thường có nhiều màu sắc), nhưng lại

làm việc rất hiệu quả với các ảnh biểu

tượng, đồ thị, kí tự Một vấn đề nữa, thuật

toán nén GIF là có bản quyền, đã được đăng ký sở hữu trí tuệ bởi Unisys, và những ai muốn viết chương trình để tạo

ra hoặc hiển thị tập tin GIF phải trả tiền

bản quyền Tiêu chuẩn định dạng PNG

đã ra đời để thay thế GIF, giảm các hạn chế luật pháp và hạn chế công nghệ

Nay giấy phép sở hữu trí tuệ của Unisys

đã hết hạn, nhưng PNG vẫn được ưa chuộng do có nhiều tính năng kỹ thuật

vượt trội, và đã trở thành định dạng phổ

biến thứ 3 trên mạng

5 PNG (.png) PNG - Portable Network Graphics:

cũng là một chuẩn nén ảnh khác, và

cũng sử dụng phương pháp nén không

mất dữ liệu PNG được tạo ra với mục đích cải tiến và thay thế chuẩn GIF, đưa

ra một định dạng ảnh không yêu cầu bản quyền khi sử dụng Chuẩn PNG được hỗ trợ bởi một thư viện LIBPNG, cung cấp

các hàm C để xử lí ảnh PNG Những tập

tin PNG thường có phần mở rộng là

-PNG (chữ in) hoặc png (chữ thường) và

đã được gán kiểu chuẩn MIME là

image/png (được công nhận vào ngày

14 tháng 10 năm 1996) PNG giờ đây là

một chuẩn quốc tế (ISO/IEC 15948:2003), và cũng được công bố như

một khuyến nghị của W3C vào ngày 10 tháng 11 năm 2003

Có 2 loại PNG: định dạng PNG-8, có

thể lưu giữ được 8-bit thông tin màu

(tương đương với GIF nhưng nén tốt hơn

GIF), và định dạng PNG-24, hỗ trợ bảng

màu 24-bit (tương đương với JPEG), độ xám, và ảnh RGB PNG được thiết kế

nhằm mục đích phân phối các ảnh trên

mạng internet, tuy nhiên, không dùng để

lưu trữ ảnh

So sánh với GIF, trong hầu hết các trường hợp, thì PNG có tỈ lệ nén tốt hơn,

hỗ trợ độ sâu màu cao hơn, tuy nhiên lại không hỗ trợ hoạt hình

Trang 5

PNG-8 bit mau

PNG-1 en tring) ` _.#NG-24 bit máu

6 RAW

Chúng ta đã làm quen với các định

dạng ảnh trên như JPEG hay TIFF,

GIF đó là những định dạng ảnh có

hoặc không làm mất dữ liệu khi xử lý

nhưng chất lượng của sản phẩm đầu ra

lại phụ thuộc rất lớn vào những nhà cung

cấp các thiết bị thu nhận ảnh, tất cả

chúng ít nhiều đã xử lý một cách tự động

để cho ra những hình ảnh tốt nhất đến

người sử dụng Nhưng với định dạng

RAW thì khác RAW lưu trữ dữ liệu ở

dạng nguyên gốc, chưa qua bất kỳ công

cụ xử lý ảnh nào

Vậy RAW Ia gi? RAW khong phai

ghép từ các ký tự đầu của chữ viết tắt

nào, mà chính xác mang nghĩa là thô sơ,

nguyên gốc (raw data - dữ liệu thô: dữ

liệu chưa được xử lý hoặc chưa định

khuôn thức, nó chưa được sắp xếp, biên

tập hay sửa chữa) RAW cũng là tên

chung cho nhiều định dạng tập tin ảnh

riêng của các nhà sản xuất như: CRW,

.CR2 của Canon, MRW của Minolta hay

.NEF của Nikon

Có thể nói tập tin RAW chứa toàn bộ

dữ liệu mà bộ cảm biến trong các máy

ảnh số ghi được khi chụp Mỗi hãng có

một phương pháp mã hóa dữ liệu bộ cảm

ứng thành tập tin ảnh 'thô' khác nhau

nhưng trong tất cả trường hợp, thông tin

trong tập tin RAW đều được giữ nguyên

gốc Máy ảnh số sử dụng nhiều công

nghệ khác nhau để xử lý, chuyển đổi

thông tin nhưng hầu như mọi máy cho

phép chụp RAW đều sử dụng bộ cảm

bién dang ‘tranh ghép’ (mosaic sensor),

còn gọi là cảm biến dạng mảng lọc màu (color filter array CFA) dang 2 chiéu Trong đó, mỗi ô đơn vị biểu diễn một

điểm ảnh (pixel) trên tấm ảnh Nhưng tế

bào cảm quang chỉ có nhiệm vụ qui đổi

lượng photon ánh sáng tiếp nhận được

thành tín hiệu điện nên thông tin mà tập

tin thô nhận được từ mảng lọc màu chỉ là

dạng sắc độ xám (grayscale)

Không chỉ có dữ liệu ghi nhận thông

tin điểm ảnh, tập tin RAW còn chứa dữ

liệu dạng metadata của bức ảnh chụp Metadata, về mặt ngữ nghĩa là 'dữ liệu

về dữ liệu' (siêu dữ liệu), được máy ảnh

tạo ra mỗi khi chụp Trong metadata, cả

hai định dạng JPEG và RAW đều có phần EXIF (Exchangeable Image Format-dinh dang ảnh có thể trao đổi)

chứa những thông tin về thao tác chụp

ảnh như kiểu máy ảnh, số sêri của máy, tốc độ, khẩu độ, tiêu cự, chế độ flash

Ngoài mỗi giá trị trong thang xám của

từng điểm ảnh, đa số định dạng RAW

còn chứa một vòng giải mã (decoder ring) trong metadata để chuyển thông tin

sắp xếp các bộ lọc màu trong cảm biến cho bộ chuyển đổi (RAW converter)

Nhờ đó, bộ chuyển đổi RAW có thể

chuyển ảnh từ dạng ghi thô thang độ

xám thành một ảnh màu bằng cách “điều chế” nội suy các màu bị thiếu từ các điểm

ảnh lận cận với những thuật toán chuyển

màu đặc trưng riêng của từng hãng máy

ảnh Tiến trình này được gọi là 'rã ghép" (demosaicing), nhiệm vụ chủ chốt của

bộ chuyển dạng, nhưng chưa phải là đã hoàn tất Quá trình chuyển dạng RAW

có thêm các bước sau:

* Can bang trang (white balance) ma

bạn xác lập trên máy ảnh số khi chụp không có bất kỳ tác động nào lên điểm

ảnh khi chụp ở chế độ RANW, thông tin này chỉ được ghi nhận vào trong metadata Nhiều bộ chuyển đổi dùng

thông tin này để gọi chế độ cân bằng

trắng mặc định nhưng có một số tự phân

Tap chi THU VIEN VIET NAM

Trang 6

tích lại ảnh để chọn cân bằng trắng tối

ưu

+ Diễn giải thước đo màu (colorimetric

interpretation) Méi diém ảnh trong tập

tin RAW lưu một bộ trị số biểu diễn độ no

màu đỏ, lục, lam Có nhiều bộ lọc màu

được sử dụng trên các máy ảnh nên bộ

chuyển dạng RAW phải gán màu chính

xác với thước màu qui ước; ví dụ, thước

CIE YXZ được thiết lập theo khả năng

cảm nhận màu của con người

+» Hiệu chỉnh gamma Ảnh lưu theo

dạng RAW có gamma tuyến tính (linear

gamma) rất khác với sắc độ trên film nên

bộ chuyển dạng RAW phải hiệu chỉnh

gamma cho phù hợp với khả năng cảm

nhận mắt người

Vậy JPEG khác RAW ở điểm nào?

Khi bạn chụp ảnh với định dạng UPEG

thì bộ chuyển dạng RAW trong máy ảnh

số sẽ thực thi tất cả các bước trên để

biến ảnh thô thành ảnh màu và nén lại

theo chuẩn nén JPEG Thế nhưng khi

chụp với định dạng RAW bạn có được sự

kiểm soát gần như toàn bộ khả năng

diễn giải từ các thông tin ảnh Khi chụp

RAW, may ảnh chỉ chỉ phối duy nhất đến

ISO Moi thir con lai déu nam dưới sự

kiểm soát của bạn: cân bằng trắng, độ

phân bố màu, sắc độ, độ bén, mịn hạt

của các chỉ tiết, bù sáng Hầu hết các

máy ảnh chụp RAW đều ghi nhận được

12-bit màu (tương đương 4.096 sắc độ

màu) cho mỗi điểm ảnh; trong khi JPEG

giới hạn 8-bit cho mỗi kênh Vì thế khí

chụp JPEG, bộ chuyển dạng của máy

ảnh để loại bỏ khá nhiều thông tin có ích

Tương quan giữa định dạng JPEG và

RAW cũng tương tự film âm bản màu với

phim slide JPEG gidng film slide vi ghi

nhận chính xác ngay lúc chụp và hạn

chế trong khả năng chỉnh sửa về sau

RAW thì giống film âm bản vì cho phép

chỉnh sửa độ no màu, cân bằng màu

sau khi chụp RAW còn ẩn tàng nhiều

tiềm năng lớn căn cứ theo những cải tiến

bộ chuyển dạng của các nhà sản xuất máy ảnh số Nhiều người đã gọi định dạng RAW là định dạng ảnh số của

tương lai

Từ RAW đến DNG?

Rõ ràng khả năng ứng dụng và phát triển của RAW là rất lớn và trong thực tế thì RAW đã ngày càng trở nên phổ biến

do chất lượng hình cao hơn hẳn cũng

như những triển vọng ứng dụng trong

tương lai Nhưng một khó khăn khác là

mỗi một hãng chế tạo lại đưa ra một định

dạng RAW hoàn toàn khác nhau, thậm

chí trong ngay cùng một hãng chế tạo,

và cho đến nay vẫn chưa có một chuẩn

mực chung nào cho định dạng ảnh này

Từ thực tế trên, tập đoàn Adobe Systems

Incorporated trong tháng 9 năm 2004 đã

không che giấu tham vọng “thống nhất mọi định dạng RAW” khi công bố một

định dạng chung cho mọi loại RAW:

được gọi là Âm bản kỹ thuật số (DNG -

Digital Negative), di xa hơn nữa Adobe

cũng đã chuẩn bị và cung cấp miễn phí phần mềm Adobe DNG Converter để

chuyển đổi tất cả định dạng RAW sang

định dạng mới DNG

Vậy Âm bản kỹ thuật số (DNG -

Digital Negative) la gi? Theo thuat ngữ

truyền thống của nhiếp anh, néu JPEG được xem như là tấm ảnh đã tráng rọi (rửa) hoàn chỉnh, thì chất liệu gốc để tạo

ra tấm ảnh ấy chính là “âm bản” Mỗi lần bạn xử lý cùng một chất liệu thô này

nhưng lại áp dụng các xác lập khác nhau

cho giả thuật cân bằng trắng, đặc tả màu, sắc, hiệu chỉnh gamma, giảm hạt, làm bén chí tiết hay bất kỳ một trong nhiều

thuộc tính khác của RAW thì bạn lại có

một ảnh hoàn toàn khác Chỉ với phần

mềm chuyên biệt bạn mới có thể thâm

nhập được các thông số quí giá trong

RAW, tương tự như việc bạn có thể in từ 1 tấm film duy nhất ra nhiều kiểu ảnh khác

Trang 7

nhau, với những hiệu ứng khác nhau vậy

Một lý do khác đó là nhu cầu hết sức

cấp thiết cho ảnh số là việc lưu trữ lâu

dài, có hệ thống các ảnh chụp dạng

RAW Không giống như JPEG và TIFF,

RAW chỉ chứa các dữ liệu “nguyên chất"

Thế nhưng với các định dạng RAW hiện

nay, vốn chỉ gắn liền với từng loại máy

ảnh, hay từng nhà chế tạo, người chụp

ảnh không thể nào lưu trữ theo hệ thống

được Và không có gì để đảm bảo là định

dạng RAW hôm nay sẽ còn được hỗ trợ

sau 10, 20 năm nữa, hay liệu hãng chế

tạo máy ảnh sẽ còn sản xuất kiểu máy

này nữa không? Adobe đã cam kết với

người dùng là định dạng RAW mới DNG

sẽ giúp người chụp ảnh có khả năng lưu

trữ toàn vẹn ảnh gốc của mình một cách

dài lâu, cho cả các thế hệ mai sau Định

dạng DNG cũng sẽ được tích hợp trong

mọi phần mềm xử lý đồ họa của Adobe

(Photoshop CS, Elements, ) Và trong

thực tế thì Adobe đã phát hành Camera

Raw plug-in mới nhất có hỗ trợ định

dạng DNG — đó là một bước phát triển

có ý nghĩa nhằm giúp cho việc lưu trữ

ảnh dạng RAW cho tương lai Bạn có thể

tải xuống plug-in mới nhất (Camera Raw

hiện nay cập nhật đến phiên bản 4.3.1 —

hỗ trợ thêm nhiều kiểu máy ảnh)

Những ưu điểm của DNG

Vận hành độc lập: Với từng định dạng

RAW riéng hiện hành, các chương trình

phần mềm muốn xử lý phải biết các

thông tin đặc biệt về loại máy ảnh đã

chụp bức ảnh đó Cứ mỗi kiểu máy ảnh

mới tung ra thị trường, công ty phần

mềm iại phải cập nhật định dạng RAW

mới Nhưng với DNG thì siêu dữ liệu

(metadata) công khai nên các trình xử lý

kèm theo như Adobe Camera Raw plug-

in không còn cần các thông tin riêng của

máy ảnh để giải mã nữa

Khả năng lưu trữ Các nhà chế tạo

máy ảnh thường bỏ rơi đứa con RAW

Tap chi THU VIEN VIET NAM

của mình sau chỉ vài năm khi không còn

sẵn xuất kiểu máy ảnh đó nữa Và nếu

không còn được phần mềm chuyên dùng của hãng chế tạo hỗ trợ thì ảnh đã lưu trữ

dưới dạng RAW đó vô giá trị Với DNG

thì khác, do công khai nên trong tương

lai sẽ có nhiều phần mềm đọc được định

dạng này

Tương thích với TIFF: DNG là phiên

- bản tiếp nối định dạng TIFF 6.0 và cũng tương thích với chuẩn TIFF-EP, nghĩa là

người dùng có 1 tập tin RAW cùng lúc

đáp ứng cả chuẩn của DNG lẫn TIFF-EP

Nhu vay, dinh dang RAW là định dạng

tốt nhất cho việc xử lý ảnh sau chụp va

là công cụ sắc bén cho việc xử lý ảnh kỹ thuật cao Nhưng vì RAW là một file ảnh thô, lại không được chuẩn hóa, mỗi nhà sản xuất có một loại RAW khác nhau, nên nó mang lại khá nhiều phiền phức cho người sử dụng và không phải ai cũng nắm bắt được nó một cách hoàn hảo Mặt khác, tuy nhỏ hơn file TIFF, nhưng

để lưu trữ, file RAW cũng còn rất lớn Ví

dụ: cùng một bức ảnh, JPEG ở mức nén

trung bình là 3,5 MB; RAW sẽ là 17 MB

và TIFF là 23 MB

7 HD Photo đe doa sự tồn lại của

JPEG?

Ngay 10/3/2007 vua qua tai Las Vegas, Microsoft đã đưa ra một định

dạng ảnh mới cho tiêu chuẩn quốc tế Định dạng này hứa hẹn cho chất lượng rất cao mà dung lượng nén lại rất nhỏ và chỉ bằng một nửa dung lượng ảnh JPEG Định dạng ảnh mới này được gọi là

JPEG XR Định dạng JPEG XR bắt đầu

được phát triển với với cái tên Windows

Media Photo, nhưng đến năm 2006, Microsoft hy vọng có thể mở rộng phạm

vi ứng dụng của định dạng này nên

quyết định đổi tên thành JPEG XR nhằm

tạo cảm giác quen thuộc hơn với người

dùng

HD Photo được phát triển theo một

Trang 8

10

hướng đi hoàn toàn khác so với công

nghệ được sử dụng trong định dạng ảnh

JPEG trên cả phương diện không gian

và chuyển đổi màu Định dạng ảnh

JPEG XR thu nhận nhiều thông tin thô từ

các bức ảnh giúp cho việc trình diễn,

chỉnh sửa và nén một cách tốt hơn

"Hình ảnh so sénh JPEG va HD Photo trén trang web cha Microsoft (www microsoft.com)

Microsoft cho rang, dinh dang nén HD

Photo sẽ cho một bức ảnh có dung lượng

nhỏ đi rất nhiều nhưng chất lượng lại rất

cao Một bức ảnh theo dinh dang HD

Photo có kích cỡ bằng một nửa bức ảnh

có định dạng JPEG Tuy JPEG là định

dạng phổ thông nhất, nhưng giới chuyên

môn cũng thừa nhận, khi nén ảnh theo

định dạng này một phần chất lượng ảnh

sẽ mất đi, nhưng nếu nén theo chuẩn

mới HD Phofo, ảnh sẽ nhẹ hơn mà chất

lượng rất cao và hình ảnh không hề giảm

sút vì JPEG XR lưu trữ 16 hoặc 32-bit dữ

liệu màu trên mỗi pixel Bên cạnh đó,

nếu nén theo chuẩn mới này, người sử

dụng có thể can thiệp được về cân bằng

màu, các cài đặt về ánh sáng, độ tương

phản điều mà trước đây chỉ có ở định

dạng ảnh chuẩn TIFF hay RAW Để đưa

định dạng này triển khai trong thực tiễn

Microsoft đã tích hợp định dạng này

trong Windows Vista và Adobe cũng đã

chính thức công bố plug-in cho

Photoshop CS2, CS3 để hiển thị và lưu

các tệp với chuẩn HD Photo và có thể tai

miễn phí trên website của Microsoft Và

để bảo đảm tính tương thích với các hệ

thống đang tồn tại, định dạng HD Photo

sẽ vẫn sử dụng công nghệ TIFF bao

gồm cả hướng công nghệ ứng dụng

thông tin metadata

Microsoft cho biết hãng hy vọng định

dạng này sẽ được công nhận là chuẩn

với cái tên JPEG XR vào giữa năm 2008

Không biết trong thời gian tới nếu được

công nhận chuẩn thì định dạng HD

Photo có thực sự là cuộc cách mạng

trong việc nén ảnh số hay không hay chỉ

dừng lại như định dạng JPEG2000 Chúng ta hãy chờ xeml

Kết luận:

Số hoá tài liệu theo dạng ảnh có tầm

quan trọng rất lớn trong các chương trình

số hoá Từ công tác này tài liệu sẽ được

chuyển hoá thành dữ liệu số Hiện nay

có rất nhiều định dạng anh, có độ nén

khác nhau cùng với các hãng công nghệ

có những kỹ thuật mã hoá hình ảnh khác nhau như trên đã giới thiệu (JPEG, JPEG2000, TIFF, GIF ) Tuy nhiên lựa

chọn các định dạng nào phù hợp với

mục tiêu chung của đơn vị trong công

tác lưu trữ và phổ biến tài liệu số hoá đó,

cũng như phù hợp với công nghệ và hạ

tầng công nghệ thông tin hiện tại là những vấn đề cần tính đến Còn kỹ thuật

số hoá là một trong những yếu tố vô

cùng quan trọng khác trong công tác số

hoá tài liệu có lẽ chúng ta sẽ bàn đến vấn đề này sau

Gợi ý khổ mẫu sử dụng:

Trước hết cần xác định rõ:

- Tệp số chủ (digital master): dùng

cho lưu trữ

- Tệp phái sinh: dùng cho phổ biến

thông tin số hóa trên mạng

1 Sử dụng định dạng ảnh TIFF cho việc lưu trữ, bảo quản ảnh số, có thể quét hoặc chụp với độ phân giải từ 300 —

600 dpi (RAW cũng đang khá phổ biến,

và là một trong những sự lựa chọn đầu

tiên của những chương trình số hóa lớn,

Trang 9

mặc dù dung lượng file ảnh rất lớn nhưng

công nghệ ngày càng rẻ đi - rất thuận lợi

cho việc lưu trữ)

- Lý do sử dụng:

+ Định dạng nén ảnh không mất

+ Đảm bảo giữ được đầy đủ thông tin

gốc

+ Là định dạng ảnh phổ biến

+ Rất thuận lợi cho việc xử lý ảnh

+ Định dạng này có thể làm việc với

vùng màu lớn

+ Nhiều chương trình số hoá lớn trên

thế giới đã sử dụng định dạng ảnh này

làm tệp số chủ (digital master) Thư viện

Quốc hội Mỹ cũng sử dụng định dạng

ảnh này cho công tác lưu trữ, bảo quản

+ Khó khăn: dung lượng ảnh khá lớn,

tốn không gian lưu trữ

2 Sử dụng định dạng ảnh JPEG

cho việc phổ biến, đảm bảo cho việc

hiển thị ảnh và tốc độ truyền tải trên

mạng Đây là bản phái sinh (bản copy

của tệp số chủ), dùng các chương trình

convert ảnh để thực hiện công tác này

Tùy theo mục đích sử dụng, tùy thuộc

vào phần mềm quản lý dữ liệu số hỗ trợ

có thể convert từ JPEG sang định dạng

PDF để tạo thành sách điện tử (e-book)

- Lý do sử dụng:

+ Đây là định dạng ảnh rất phổ biến,

được hầu hết các trình duyệt ảnh và xử

lý ảnh hỗ trợ

+ Dung lượng ảnh nhỏ, không tốn

không gian lưu trữ, tiết kiệm băng thông,

đảm bảo thuận lợi cho việc truyền tải

thông tin trên mạng

+ Chất lượng ảnh tùy thuộc vào nhu

cầu sử dụng, thay đổi theo kiểu nén và

mức độ nén

Các ứng dụng hỗ trợ hiển thị và xử

lý ảnh

http://download.microsoft.com/down- load/2/e/4/2e4ff28a-bfaa-4563-be83-

5639d7fb4a0d/HD%20Photo%20Photos hop%20Plug-in.msi

2 DNG:

http://www.adobe.com/products/dng/

3 Plug-in DNG cho Photoshop

http:/Awww.adobe.com/cameraraw

4 Các ứng dụng hỗ trợ DNG là DNG

Camera Raw va DNG Converter tai: http://download.adobe.com/pub/adobe/p hotoshop/cameraraw/win/4.x/DNG Ca mera_Raw 4 3 1.zip

5 EXIF (Exchangeable Image File

Format- Định dạng ảnh có thể trao đổi)

http://www.exif.org/:

http://www batchconverter.com/- phan

mềm hỗ trợ chuyển đổi qua lại đến 90

định dạng ảnh phổ biến Phiên bản hiện

tại v3.9 7.LeadToolsJPEG2000: http://www leadtools.com

TAI LIEU THAM KHAO

1 Digital Imaging for Libraries and Archives: Anne R Kenney and Stephen Chapman (June 1996)

2 Công nghệ nén dữ liệu: IPMAC Informatic Technology J.S.C

3 HD Photo: http:/Avww microsoft.com

4 Định dạng file ảnh mới JPEG 2000: http://diendan.thienantech.com/

5 Format Descriptions for Still Images:

http:/www.digitalpreservafion.gov

6 JPEG: http:/www.jpeg.org

Trang 10

12

7 JPEG : www.dpreview.com

8 TIFF: www.dpreview.com

9 JPEG2000: www.jpeg.org/jpeg2000

10 RAW - định dạng ảnh số chuyên

nghiép: PCWorld VN

11: DNG: www.adobe.com

ý và ph bến ải lậu số hóa ong thư

viện

images th the digital wo4d howadays such

as JPEG, GIF, BMP, TIFF, PNG, RAW,

ing digitalised library materials :

THONG TIN CUA TO CHỨC

(Tiếp theo trang 17)

London: Library Association Publishing, pp

39-64.,

13 Schwartz, Peter (1993) The capital-

Australian pp 38-40

14 Shanks, G and Darke, P (1998, November) Understanding data quality in a

data warehouse The Australian Computer Journal v 30 no 4 pp 122-127

15 Speh, M (1997) Knowledge manage- ment In A Scammell (Ed.), Handbook of

special librarianship and information work,

7th edn (pp 145-157) London: Aslib

16 Sprout, Alison L (1995, November

27) The Internet inside your company

Fortune pp 161-168 (not continuous)

17 Willard, Nick (1993, May)

Information resources management Asiib

Information pp 201-205

Ngày đăng: 19/03/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w