Bài viết Quản lý nhà nước cấp địa phương về bảo hiểm xã hội trong bối cảnh môi trường pháp lý thay đổi: Nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng nghiên cứu tình huống tại Đà Nẵng để nhận diện các vấn đề tồn tại của quản lý cấp địa phương trong bối cảnh này.
Trang 184 Trần Thị Quý Thanh, Nguyễn Hiệp
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP ĐỊA PHƯƠNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG
BỐI CẢNH MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ THAY ĐỔI:
NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LOCAL STATE MANAGEMENT OF SOCIAL INSURANCE
IN THE NEW LEGISLATIVE ENVIRONMENT: A STUDY IN DA NANG CITY CONTEXT
Trần Thị Quý Thanh 1 , Nguyễn Hiệp 2
1 Bảo hiểm xã hội quận Hải Châu, TP Đà Nẵng; tranquythanh83@gmail.com
2 Đại học Đà Nẵng; nguyenhiep@due.edu.vn
Tóm tắt - Từ khi Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực, yêu cầu đổi mới
quản lý nhà nước cấp địa phương là rất lớn Bài báo này nghiên
cứu tình huống tại Đà Nẵng để nhận diện các vấn đề tồn tại của
quản lý cấp địa phương trong bối cảnh này Bằng phương pháp
thống kê với dữ liệu sơ cấp từ khảo sát khách thể quản lý, nghiên
cứu cho thấy, mặc dù môi trường mới tạo điều kiện thuận lợi hơn
cho hoạt động quản lý, vẫn còn nhiều vấn đề cấp thiết cần khắc
phục mới đáp ứng được mục tiêu đổi mới của ngành Cải tiến quy
trình, nâng cao vai trò quản lý cấp trung gian của đơn vị sử dụng
lao động và tranh thủ sự hỗ trợ từ các cơ quan thuộc bộ máy hành
chính địa phương là các hàm ý chính Nghiên cứu này có ý nghĩa
thực tiễn đối với chủ thể quản lý thuộc bối cảnh nghiên cứu, đồng
thời gợi ý yêu cầu cần có lý luận sâu hơn về vai trò cấp trung gian
trong quản lý bảo hiểm xã hội trong bối cảnh mới
Abstract - Since the Law on Social Insurance went into effect, the
pressure on local governments to upgrade the state management of local social insurance systems has got more and more intensive This research takes Danang city as a case study to understand current issues revelant to the management in this context Using statistical tools and data from a survey of employees and staff in charge of social insurance in employer organizations for analysis, this study finds that although the new context has facilitated the management, there is still much room for further improvement in the management system at the local administration level to get aligned with the whole system Rationalizing administrative procedures, leveraging the role
of employer organizations as interim management level and taking advantage of further support from entities in the local administrative system are among the recommendations This study is therefore a good implication for local administrators Besides, it hints the need for examining further theoretical background of managerial roles of employers in the social insurance management of Vietnam
Từ khóa - quản lý nhà nước; bảo hiểm xã hội; quản lý cấp địa
phương; bối cảnh pháp lý; Đà Nẵng Key words - state management; social insurance; local management level; legislative context; Da Nang city
1 Đặt vấn đề
Từ năm 2006, khi Luật Bảo hiểm xã hội đầu tiên được
ban hành, hoạt động bảo hiểm xã hội (BHXH) tại Việt Nam
có nhiều thay đổi lớn có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã
hội Đặc biệt, khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 được
Quốc hội Việt Nam thông qua (năm 2014) và có hiệu lực
(năm 2016), hoạt động quản lý nhà nước về BHXH chịu áp
lực lớn của yêu cầu đổi mới vì mục tiêu tạo lập một hệ thống
BHXH hiệu quả, hiệu lực và bền vững trong bối cảnh hội
nhập Cùng với những đổi mới của hoạt động quản lý Nhà
nước trong toàn hệ thống, quản lý BHXH ở cấp địa phương
đã và đang có những chuyển biến trên nhiều mặt Để phục
vụ cho mục đích này, từng địa phương cần các thông tin về
đối tượng quản lý mang đặc trưng riêng của địa phương
mình và về các diễn biến của môi trường quản lý một cách
đầy đủ, chính xác, kịp thời và tin cậy Các địa phương cũng
cần được đầu tư, phân bổ thêm các nguồn lực đặc thù để triển
khai thực hiện đổi mới, đặc biệt là nguồn lực con người Và
trên hết, yêu cầu này cũng đòi hỏi hoạt động quản lý của địa
phương phải được rà soát và cải thiện thường xuyên hơn với
các thông tin phục vụ quản lý mang tính đa chiều hơn
Thành phố Đà Nẵng được biết đến là địa phương đi đầu
trong đổi mới quản lý nhà nước, đặc biệt là quản lý hành
chính trong hầu hết các lĩnh vực, trong đó có BHXH Tuy
nhiên, những bất cập của hoạt động BHXH nói chung và
quản lý BHXH nói riêng tại địa phương vẫn còn lớn Tham
khảo các báo cáo của địa phương và Trung ương về thực
trạng tại Đà Nẵng cho thấy hiện tượng các đơn vị nợ đọng
bảo hiểm còn lớn (hơn 14% đơn vị nợ đọng trên 3 tháng vào năm 2016) với số tiền nợ đọng tương đối cao (gần 100
tỷ đồng) Có nhiều phản ánh về thực trạng nhận thức còn hạn chế của một bộ phận chủ sử dụng lao động và người lao động về BHXH, về tình trạng ngày càng phổ biến hơn các hiện tượng cố ý vi phạm pháp luật về BHXH cũng như những bất cập trong bộ máy quản lý Cơ quan quản lý nhà nước của địa phương đã và đang có nhiều nỗ lực để xử lý các vướng mắc này Tuy nhiên, cơ sở của nó vẫn còn chưa vững chắc và vì thế hiệu quả vẫn chưa như mong đợi Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu nhận diện các vấn
đề của quản lý BHXH cấp địa phương nhằm đưa ra các hàm ý chính sách phù hợp, lấy bối cảnh nghiên cứu là địa bàn thành phố Đà Nẵng trong điều kiện nêu trên Thông qua việc kết hợp các thông tin tổng hợp thứ cấp mà cơ quan quản lý chuyên ngành công bố, với các thông tin sơ cấp thu thập được từ khảo sát các khách thể quản lý về các nội dung trực tiếp liên quan đến hoạt động quản lý quan trọng, bài báo sử dụng các phương pháp thống kê để phân tích, đánh giá phục vụ mục tiêu nêu trên Kết quả nghiên cứu của bài báo này được mong đợi vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với địa phương thuộc bối cảnh nghiên cứu, vừa có ý nghĩa lý luận liên quan đến quản lý BHXH cấp địa phương trong bối cảnh thay đổi môi trường quản lý
2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Theo Luật BHXH 2014, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ
Trang 2ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(117).2017 85
bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên
cơ sở đóng vào quỹ BHXH BHXH là nhu cầu khách quan,
đa dạng và phức tạp, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng
hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê
mướn lao động phát triển đến mức nào đó Kinh tế càng
phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế, có
thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không
vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước (Hồ Sĩ Sà, 2000)
Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là một
trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về
kinh tế (Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu, 2008) Đây là
quá trình nhà nước sử dụng các công cụ quản lý trong phạm
vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh
vào các quan hệ nảy sinh trong hoạt động BHXH, nhằm
đảm bảo cho hoạt động BHXH diễn ra theo đúng quy định
của pháp luật và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của
BHXH Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là một
quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật về BHXH; tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính
sách pháp luật về BHXH; tổ chức thực hiện chiến lược, chế
độ, chính sách về BHXH đến việc tổ chức bộ máy thực hiện
cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về
BHXH (Hoàng Mạnh Cừ và Đoàn Thị Thu Hương, 2011)
Với bản chất này, quản lý nhà nước về BHXH có vai trò
rất quan trọng, phân định trách nhiệm của người sử dụng
lao động, người lao động trong việc đóng quỹ bảo hiểm
cũng như trách nhiệm của Nhà nước đối với ngành BHXH,
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
khi tham gia BHXH
Quản lý nhà nước về BHXH ở cấp địa phương cũng có
các nét riêng, do phân cấp quản lý trong hệ thống bộ máy
quản lý nhà nước và do đặc thù chủ thể, đối tượng và môi
trường quản lý của từng địa phương Trong nghiên cứu này,
thực trạng nội dung quản lý nhà nước được xem xét ở năm
khía cạnh sau đây, dựa trên nội dung quy định tại Luật
BHXH 2014 có điều chỉnh cho phù hợp với phạm vi quản
lý cấp địa phương: (i) Cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các
quy định pháp luật, chiến lược, chính sách BHXH; (ii)
Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, thực hiện
công tác thống kê, thông tin về BHXH; (iii) Quản lý thu và
phát triển quỹ BHXH; (iv) Quản lý chi và bảo toàn quỹ
BHXH; và (v) Thanh tra, kiểm tra; giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm trong chấp hành pháp luật về BHXH
Khi đánh giá kết quả các nội dung quản lý bao gồm đặc
điểm môi trường hoạt động quản lý, đặc trưng đối tượng
quản lý và năng lực quản lý nhà nước, đây được xem xét
như là các yếu tố ảnh hưởng Về môi trường quản lý, hệ
thống pháp luật về BHXH và điều kiện kinh tế - xã hội của
địa phương là nội dung được quan tâm Trong các yếu tố
thuộc đối tượng quản lý, nhận thức của chủ sử dụng lao
động và người lao động về một số nội dung liên quan đến
hệ thống điều hành BHXH là yếu tố then chốt Về năng lực
quản lý nhà nước, nghiên cứu này quan tâm cụ thể đến các
khía cạnh về chất lượng nhân lực, quy trình tổ chức quản
lý và năng lực phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong
hệ thống quản lý
Các phân tích, đánh giá trong nghiên cứu này được triển
khai bằng phương pháp thống kê, cụ thể là so sánh, đối chiếu
bằng các chỉ số thống kê mô tả quy mô, tốc độ thay đổi, xu hướng trung tâm, và phân bố tần suất Dữ liệu phục vụ phân tích gồm dữ liệu thứ cấp và sơ cấp Dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ nguồn của BHXH thành phố Đà Nẵng Ngoài những quan sát, nguồn dữ liệu sơ cấp còn được thu thập trực tiếp bằng khảo sát riêng của nghiên cứu này Đối tượng khảo sát gồm người lao động và những nhân viên phụ trách BHXH tại các đơn vị sử dụng lao động thuộc diện quản lý Bảng hỏi được thiết kế để hỏi về mức độ đồng ý của các đáp viên liên quan đến các nhận định theo mục tiêu nghiên cứu, trong đó mức 1 là hoàn toàn không đồng ý và mức 5 là hoàn toàn đồng ý Quy mô mẫu khảo sát mục tiêu là trên 150 quan sát, được tính toán dựa trên quy
mô tổng thể hơn 200 nghìn người, độ tin cậy 95% và sai số cho phép là ±8% Nội dung khảo sát gồm 23 câu hỏi liên quan đến các khía cạnh quản lý mà nghiên cứu quan tâm, được thiết kế theo cách tiếp cận các mối quan hệ theo cấp quản lý và được chia thành 4 phần: thông tin đáp viên, nhận thức về về BHXH, đánh giá thực hiện chính sách BHXH của người lao động và đánh giá của chuyên viên thực hiện chính sách BHXH của đơn vị sử dụng lao động Khảo sát được triển khai trong tháng 6/2017 theo hình thức gửi thư điện tử
và điền trực tuyến Tổng số địa chỉ được chọn gửi là 435, số hồi đáp là 165, số hợp lệ là 160 Số đáp viên có độ tuổi từ 18-30 chiếm 50,6%, nữ chiếm 55,6%, nhân viên (không phải cán bộ quản lý cấp phó phòng trở lên) chiếm 73% Đáp viên làm việc tại doanh nghiệp có vốn nhà nước chiếm 20,6%, doanh nghiệp FDI 19,4%, cơ quan hành chính sự nghiệp và đoàn thể là 19,4%, còn lại thuộc doanh nghiệp khu vực tư nhân trong nước Đặc trưng mẫu như vậy đáp ứng tốt nhu cầu dữ liệu phục vụ phân tích
3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Thực trạng công tác cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật, chiến lược và chính sách BHXH
Theo các báo cáo của BHXH thành phố Đà Nẵng, hằng năm cơ quan quản lý này đều ban hành công văn hướng dẫn một cách đầy đủ về việc thực hiện các quy định mới theo các thay đổi về chính sách BHXH của Nhà nước và chủ động phối hợp triển khai các chủ trương, chính sách,
kế hoạch công tác của chính quyền địa phương liên quan đến công tác an sinh ở địa phương Để đánh giá hiệu quả công tác này, các khía cạnh như tính kịp thời của việc thông báo các văn bản hướng dẫn, tính thường xuyên trong tương tác và trong kiểm tra việc thực hiện, cũng như tần suất của công tác tập huấn hướng dẫn được đưa vào nội dung khảo sát nhân viên phụ trách BHXH của đơn vị sử dụng lao động Kết quả khảo sát được trình bày ở Bảng 1
Kết quả khảo sát trên cho thấy tính kịp thời và tính thường xuyên của các nội dung trên được cảm nhận là chưa cao Các giá trị trung bình chỉ nằm ở mức 3 và các nhận định còn phân tán cho thấy hoạt động này chưa có sự đồng đều đối với các đơn vị sư dụng lao động khác nhau Bên cạnh đó, BHXH Đà Nẵng trong thời gian qua có thể đã nỗ lực triển khai công tác để cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật, chính sách BHXH một cách nhiệt tình nhưng cách thức thực hiện còn chưa đảm bảo tính hiệu quả cao Điều này gợi ý rằng, cần thiết phải rà soát lại độ bao phủ của hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, tập huấn cũng
Trang 386 Trần Thị Quý Thanh, Nguyễn Hiệp như hình thức triển khai thông qua nội dung văn bản thuần
túy hiện nay
3.2 Thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến chính
sách, pháp luật, thống kê, thông tin về BHXH
Có thể nhận định từ nội dung báo cáo hàng năm của cơ
quan BHXH thành phố Đà Nẵng rằng công tác tuyên truyền
đã được tăng cường với cường độ ngày càng tăng qua các năm Biểu hiện rõ là sự tăng nhanh tổng kinh phí phân bổ cho công tác tuyên truyền (Bảng 2) Đặc biệt, sau thời điểm ban hành Luật BHXH mới, kinh phí này tăng vọt Hoạt động tuyên truyền được triển khai ở diện rộng, có sự phối hợp với hầu hết các cơ quan chức năng của bộ máy chính quyền địa phương cùng với các cơ quan thông tấn báo chí
Bảng 1 Đánh giá công tác hỗ trợ hướng dẫn thực hiện chính sách BHXH
sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
1 Đơn vị của Anh (Chị) nhận được các văn bản hướng dẫn để thực
2 Đơn vị của Anh (Chị) rất thường xuyên được BHXH liên hệ
3 Đơn vị của Anh (Chị) rất thường xuyên được BHXH đến kiểm
4 Đơn vị của Anh (Chị) rất thường xuyên được BHXH mời tham
(Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu khảo sát của tác giả)
Bảng 2 Kinh phí công tác tuyên truyền tại BHXH Đà Nẵng qua các năm
Năm
(Nguồn: Báo cáo tình hình kết quả hoạt động qua các năm của BHXH TP Đà Nẵng)
Bên cạnh đó, các kênh truyền thông trực tiếp với người
tham gia bảo hiểm cũng được mở rộng như đối thoại trực
tiếp hay giải đáp các thắc mắc qua thư Với giả định hiểu
biết của người tham gia BHXH có ảnh hưởng chủ yếu từ
công tác tuyên truyền, nghiên cứu này đánh giá mức độ đạt
được mục tiêu của công tác tuyên truyền thời gian qua, dựa
trên chính đánh giá của người lao động về hiểu biết của họ
trong việc yêu cầu bắt buộc tham gia BHXH, quyền được
chủ sử dụng lao động đóng BHXH, quyền được phép giữ
sổ BHXH, cách thức kiểm tra đơn vị tuyển dụng có đóng
BHXH cho mình hay không và các loại chế độ, điều kiện hưởng các chế độ đó Dữ liệu thống kê ở Bảng 3 cho thấy,
đa số người lao động đã nhận thức được việc tham gia BHXH là bắt buộc khi có hợp đồng lao động phát sinh và được chủ sử dụng đóng Tuy nhiên, các thông tin còn lại nhiều người tham gia vẫn chưa biết hoặc biết nhưng chưa
rõ Điều này cho thấy công tác tuyên truyền vẫn còn có các hạn chế nhất định, trong đó có cả việc tuyên truyền nâng cao động cơ tự tìm hiểu của người lao động
Bảng 3 Nhận thức của người lao động về quy định BHXH
sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
1 Anh (Chị) biết rất rõ quy định khi đã ký hợp đồng lao động thì người
2 Anh (Chị) biết rất rõ quy định khi hợp đồng lao động được ký kết,
3 Anh (Chị) biết rất rõ quyền của người lao động là được phép giữ sổ
BHXH của mình để kiểm tra, đối chiếu quá trình tham gia BHXH
4 Anh (Chị) biết rất rõ cách thức kiểm tra đơn vị có đóng BHXH cho
5 Anh (Chị) biết rất rõ về các chế độ được hưởng (thai sản, ốm đau,
nghỉ dưỡng sức, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp 1 lần,
hưu trí, tử tuất) khi tham gia BHXH
6 Anh (Chị) biết rất rõ về điều kiện để được hưởng các loại chế độ
(thai sản, ốm đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất) 160 3,16 1,258 1 5
(Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu khảo sát của tác giả)
Trong công tác thống kê, báo cáo số liệu thu, chi, giải
quyết chế độ, báo cáo tình hình hoạt động hàng tháng và
báo cáo tổng kết năm theo quy định về BHXH Việt Nam, BHXH Đà Nẵng thực hiện đúng theo yêu cầu Tuy nhiên,
Trang 4ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(117).2017 87 vẫn còn nhiều trở ngại do các phần mềm liên quan công tác
quản lý thu, quản lý chi, công tác giải quyết chế độ còn bất
cập Nhận định của những cán bộ chuyên trách báo cáo cho
thấy, cơ sở dữ liệu liên kết toàn quốc chưa được hoàn thiện,
thông tin về BHXH để người lao động khai thác tìm hiểu
chưa chi tiết, các biểu mẫu báo cáo điều chỉnh chưa được
cập nhật kịp thời trong hệ thống trực tuyến… khiến cho
công tác thống kê, báo cáo chưa được hỗ trợ tốt nhất
3.3 Thực trạng quản lý thu và phát triển quỹ BHXH
Thống kê ở Bảng 4 phản ánh các kết quả chính của thu
BHXH trong thời gian qua tại Đà Nẵng Các chỉ tiêu chính
như số đơn vị mới khai thác hằng năm, số người tham gia
BHXH năm, tổng số thu và số thu ở tất cả các loại hình bảo
hiểm đều tăng qua các năm Nguyên nhân một phần do các
quy định mới của Luật về mở rộng đối tượng, về thu bảo
hiểm tự nguyện một lần cho nhiều năm sau…, một phần
lớn do kết quả của nỗ lực quản lý thu
Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế ở hai chỉ tiêu là tốc
độ gia tăng số đơn vị khai thác mới và nợ BHXH Tuy số
lượng đơn vị này có gia tăng từng năm nhưng mức tăng
còn thấp, chưa giúp đạt được mức bao phủ theo kỳ vọng
So với số đơn vị đang hoạt động có đăng ký thuế năm 2016
là 20.688 đơn vị (Chi Cục Thuế Đà Nẵng, 2016), con số đơn vị tham gia hiện còn thấp Nợ BHXH vẫn ở mức cao trong giai đoạn 2011- 2016 Trong công tác quản lý thu, có những sự vụ nghiêm trọng nhưng chưa kịp thời phát hiện, điển hình là tại Trường THPT Trần Phú Ngoài hiện tượng
cố tình sai phạm, vẫn có trường hợp chây ỳ, lách luật Nguyên nhân có thể do công tác kiểm tra chưa được thường xuyên (Bảng 1) nên chưa phát huy được vai trò, chế tài xử
lý nợ chậm đóng BHXH chưa nghiêm, dữ liệu quản lý người tham gia đóng BHXH chưa liên thông, gây khó khăn cho việc phát hiện, xử lý sớm các trường hợp vi phạm Qua khảo sát về mong muốn của nhân sự phụ trách chính sách BHXH của đơn vị sử dụng lao động về hình thức hỗ trợ của
cơ quan BHXH, 53% đáp viên mong muốn được ưu tiên phổ biến kịp thời các văn bản hướng dẫn khi có những thay đổi về chính sách BHXH và 45% mong muốn được ưu tiên hướng dẫn chi tiết cho đơn vị khi thực hiện quy định về BHXH Điều này cho thấy hoạt động hướng dẫn chưa tương xứng như mong đợi
Bảng 4 Các chỉ tiêu thu BHXH qua các năm
Năm
(Nguồn: Báo cáo tình hình kết quả hoạt động qua các năm của BHXH TP Đà Nẵng)
3.4 Thực trạng quản lý chi và bảo toàn quỹ BHXH
Năm 2016, BHXH thành phố Đà Nẵng quản lý 45.384
người hưởng chế độ BHXH thường xuyên, tăng 6,5% so
với năm 2015 Công tác quản lý, chi trả các chế độ BHXH,
bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) trong
những năm qua được đánh giá là kịp thời, đảm bảo an toàn,
thực hiện theo đúng các quy định Các chỉ tiêu chi BHXH chủ yếu được phản ánh trong Bảng 5 Kết quả trên phản ánh ưu tiên nỗ lực dành cho quản lý chi thời gian qua Tuy nhiên, cơ quan quản lý có các nhận định rằng, các bất cập
có thể nằm ở mối quan hệ giữa đơn vị sử dụng lao động và người lao động
Bảng 5 Các chỉ tiêu chi BHXH qua các năm
Năm
Trong đó: Chi BHXH từ nguồn NSNN 378.557 452.019 518.027 537.309 551.998 541.197
(Nguồn: Báo cáo tình hình kết quả hoạt động qua các năm của BHXH TP Đà Nẵng)
Để tìm hiểu rõ hơn nội dung này, nghiên cứu thực hiện
khảo sát đánh giá của người lao động (không tính người lao
động là người phụ trách BHXH tại đơn vị) về mức độ đơn
vị sử dụng lao động hỗ trợ, hướng dẫn người tham gia bảo
hiểm về chính sách BHXH và đảm bảo chi trả đúng quyền
lợi người tham gia Kết quả thống kê tại Bảng 6 cho thấy, giá trị trung bình của các đánh giá đều dưới mức 4 và có sự phân tán lớn trong đánh giá, cho thấy vẫn còn hiện tượng đơn vị sử dụng lao động hướng dẫn chưa tốt và chi trả chế
độ cho người lao động chưa kịp thời
Trang 588 Trần Thị Quý Thanh, Nguyễn Hiệp
Bảng 6 Đánh giá việc hướng dẫn, giải thích và thực hiện chi trả của đơn vị sử dụng lao động
sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
1 Anh (Chị) được đơn vị hướng dẫn rất rõ thủ tục để được hưởng các
2 Anh (Chị) được đơn vị giải thích rất rõ về quyền lợi của bản thân
3 Anh (Chị) được đơn vị chi trả kịp thời sau khi cơ quan BHXH đã
giải quyết và thanh toán các chế độ (thai sản, ốm đau, nghỉ dưỡng
(Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu khảo sát của tác giả)
3.5 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong chấp hành pháp
luật về BHXH
Dữ liệu thống kê ở Bảng 7 cho thấy có sự cải thiện trong
các hoạt động này Số vụ việc, thanh tra, kiểm tra đạt ở mức
cao Công tác theo dõi, giám sát thực hiện sau kiểm tra
được chú trọng hơn, nên số tiền thu hồi sau kiểm tra so với
số tiền đề nghị gia tăng Tuy nhiên, việc xử lý vi phạm sau
kiểm tra chưa thực sự đạt hiệu quả cao, số tiền thu hồi sau kiểm tra còn thấp so với số tiền đề nghị thu hồi sau kiểm tra Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại của người tham gia được chú trọng theo hướng không để tình trạng đơn thư kéo dài không giải quyết Điều này có được là do các quy trình xử lý hồ sơ khiếu nại được quy chuẩn hơn, công cụ trực tuyến được cải tiến trong điều kiện các quy định pháp luật minh bạch và cụ thể hơn
Bảng 7 Các chỉ tiêu phản ánh công tác kiểm tra và giải quyết khiếu nại qua các năm
Năm
(Nguồn: Báo cáo tình hình kết quả hoạt động qua các năm của BHXH TP Đà Nẵng)
4 Kết luận và hàm ý chính sách
Có thể nhận định từ kết quả nghiên cứu rằng quản lý
nhà nước cấp địa phương có vai trò quan trọng đối với hiện
trạng cải thiện vượt bậc của hoạt động BHXH trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng Những thay đổi môi trường pháp luật
có liên quan đến BHXH tại Việt Nam vừa qua đã tạo áp lực
và động cơ đổi mới hoạt động quản lý cấp địa phương để
bắt kịp yêu cầu của toàn bộ hệ thống Bên cạnh đó, những
thay đổi của hệ thống BHXH Việt Nam cũng đã tạo môi
trường thuận lợi cho hoạt động quản lý cấp địa phương
Các báo cáo của cơ quan quản lý BHXH tại Đà Nẵng cho
thấy do áp lực đổi mới, cơ quan này đã thay đổi điều kiện
tổ chức và nhân lực cũng như đổi mới quy trình các hoạt
động chức năng để công tác quản lý được hữu hiệu và hiệu
quả hơn Đặc biệt, qua phân tích, thấy rằng kênh trung gian
là đơn vị sử dụng lao động được đặt dưới áp lực phải có vai
trò cao hơn và các cơ quan hỗ trợ BHXH thuộc hệ thống
chính quyền địa phương ngày càng có vai trò rõ ràng hơn
Vì thế, công tác quản lý nếu tận dụng được các kênh này
sẽ giúp cho hoạt động quản lý tốt hơn
Tuy nhiên, phân tích của nghiên cứu này cũng cho thấy
những bất cập của hoạt động BHXH có gắn với tác nhân
quản lý cấp địa phương Những bất cập này có liên quan
chủ yếu đến khâu triển khai hoạt động quản lý, đặc biệt là
ở khâu hướng dẫn, tuyên truyền và khâu thanh tra, kiểm
tra, thực thi pháp luật BHXH Trong các nội dung này, bất
cập cũng nằm ở cả 3 loại mối quan hệ: quan hệ giữa cơ
quan quản lý nhà nước với người lao động, giữa cơ quan
quản lý nhà nước với đơn vị sử dụng lao động và giữa đơn
vị sử dụng lao động và người lao động Trong các mối quan
hệ trên, vai trò thụ động của cơ quan sử dụng lao động trong
hệ thống BHXH Việt Nam chỉ như là một đối tượng bị quản
lý mà chưa thể hiện rõ vai trò cùng tham gia quản lý, cần
có nghiên cứu và giải pháp chuyên sâu hơn
Có thể nói, những bất cập được nghiên cứu này phát hiện là những hạn chế đặc trưng thường thấy trong thời kỳ đầu của đổi mới hệ thống quản lý Vì thế, các hàm ý chính sách liên quan trực tiếp đến các nội dung quản lý sau đây
có thể sẽ phù hợp với yêu cầu hiện nay Trong công tác cụ thể hoá và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật, chiến lược, chính sách BHXH, nên tìm hiểu và cải tiến để rút ngắn thời gian chuyển nội dung hướng dẫn đến các đơn vị sử dụng lao động Việc ban hành văn bản hướng dẫn cũng nên có kênh thu nhận ý kiến phản hồi để kịp thời điều chỉnh Trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, thực hiện công tác thống kê, thông tin về BHXH, cần tìm hiểu
để biết kênh tuyên truyền nào có khả năng vận dụng được trong điều kiện đối tượng quản lý Khảo sát của nghiên cứu này cho thấy hầu hết người tham gia biết thông tin liên quan đến BHXH thông qua người quen, bạn bè, đồng nghiệp (41%), qua báo chí, truyền thanh, truyền hình (26%) và qua mạng internet (26%) Kênh thông qua chuyên viên phụ trách thực hiện chính sách BHXH của đơn vị, kênh hỗ trợ người lao động tự chủ nghiên cứu, tìm hiểu cũng như kênh
tư vấn thường trực tại cơ quan quản lý nhà nước BHXH chưa cho thấy có nhiều vai trò Vì thế, các kênh này nên
Trang 6ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(117).2017 89 được xem xét xúc tiến đối với các nhóm thông tin tuyên
truyền phù hợp Bên cạnh đó, lồng ghép tuyên truyền trong
các hoạt động của các đơn vị trong bộ máy chính quyền địa
phương cũng là kênh đáng quan tâm Về công tác quản lý
thu và phát triển quỹ BHXH, nâng cao năng lực dự toán nguồn
thu và nắm rõ cơ sở nguồn thu là điều kiện tiên quyết phục
vụ hiệu quả khâu khai thác thu Chủ động phát triển nguồn
thông tin chuyên biệt của BHXH địa phương và phát triển
các mối quan hệ chiến lược với các cơ quan hữu quan khác,
đặc biệt là cơ quan thuế, cần được yêu cầu xem xét Trong
khai thác thu, cần có các công cụ quản lý phù hợp nhằm
phân loại theo nhóm đối tượng quản lý và nắm bắt tình hình
tại từng nhóm và từng đơn vị sử dụng lao động một cách
kịp thời Trong công tác quản lý chi và bảo toàn quỹ BHXH,
khâu dự toán nên được tăng cường Để làm tốt điều này, cần có
kênh dự báo các nội dung liên quan đến BHXH trong kế hoa ̣ch
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương một cách chính
xác hơn Ngoài ra, việc chi trả chế độ qua dịch vụ bưu chính
đang ẩn chứa nhiều rủi ro, cần có quy trình quản lý phù
hợp, trong đó, tăng cường quan hệ 3 bên giữa cơ quan quản
lý BHXH, bưu điện và chính quyền cấp phường nên là một
lựa chọn ưu tiên Trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử
lý vi phạm trong chấp hành pháp luật về BHXH, các chế
tài xử lý vi phạm được pháp luật quy định nghiêm minh
hơn và vì thế công tác này cũng thuận lợi hơn Để làm tốt
công tác này, nên chăng có cơ chế liên kết chặt chẽ hơn nữa
với các bên hữu quan như Sở Lao động, Thương binh và
Xã hội, Liên đoàn Lao động, Công an, Chi cục thuế địa phương trong cung cấp, đối chiếu thông tin cũng như phối hợp thực hiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng, Báo cáo số: 15/BC-BHXH ngày
10/1/2012, Tình hình kết quả hoạt động năm 2011 và phương hướng
nhiệm vụ công tác năm 2012, 2012
[2] Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng, Báo cáo số: 02/BC-BHXH ngày
04/1/2013, Tình hình thực hiện công tác năm 2012 và nhiệm vụ công
tác năm 2013, 2013
[3] Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng, Báo cáo số: 05/BC-BHXH ngày
05/1/2014, Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2013 và phương
hướng nhiệm vụ năm 2014, 2014
[4] Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng, Báo cáo số: 08/BC-BHXH ngày
05/1/2015, Tình hình thực hiện công tác năm 2014 và nhiệm vụ công
tác năm 2015, 2015
[5] Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng, Báo cáo số: 10/BC-BHXH ngày
05/1/2016, Tình hình thực hiện công tác năm 2015 và nhiệm vụ công
tác năm 2016, 2016
[6] Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng, Báo cáo số: 2155/BC-BHXH ngày
31/12/2016, Kết quả công tác năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ
năm 2017, 2016
[7] Chi Cục Thuế Đà Nẵng, Báo cáo tổng hợp số lượng đơn vị kê khai
thuế, 2016
[8] Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu, Giáo trình Quản lý nhà nước về
kinh tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2008
[9] Hoàng Mạnh Cừ và Đoàn Thị Thu Hương, Giáo trình Bảo hiểm xã
hội, NXB Tài chính, 2011
[10] Hồ Sĩ Sà, Giáo trình Bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2000.
(BBT nhận bài: 16/8/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 25/8/2017)