GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ BẢO TRÌ CÔNG NGHIỆP ThS NGUYỄN PHƯƠNG QUANG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ******************* ThS NGUYỄN PHƯƠNG QUANG Giáo trình QUẢN[.]
Trang 1GIÁO TRÌNH
QUẢN LÝ BẢO TRÌ CÔNG NGHIỆP
ThS NGUYỄN PHƯƠNG QUANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*******************
ThS NGUYỄN PHƯƠNG QUANG
Giáo trình QUẢN LÝ BẢO TRÌ CÔNG NGHIỆP
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
--
Nếu như bạn thường xuyên khám sức khỏe định kỳ theo một kế hoạch hợp lý thì bạn có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền để duy trì sức khỏe của mình luôn ở trạng thái tốt sẵn sàng phục vụ cho công việc Trong sản xuất ở các nhà máy xí nghiệp cũng vậy: để duy trì một “trạng thái cần” của máy móc thiết bị giúp nhà máy luôn vận hành bình thường với chi phí tối thiểu, bạn cần có một kế hoạch hợp lý trong công tác bảo trì Kế hoạch hợp lý trên sẽ có được khi ứng dụng tốt công tác quản lý bảo trì
Theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển, vai trò của khâu bảo trì tại các nhà máy không kém phần quan trọng so với bộ phận sản xuất Do đó, trong các nhà máy được quản lý tốt, việc quản lý bảo trì luôn được đặt lên hàng đầu vì họ luôn quan tâm tới “5 M” trong thực tiễn sản xuất được viết theo thứ tự quan trọng từ trên xuống như sau:
Money (tiền)
Man (con người)
Method (phương thức quản lý)
Machine (máy móc)
Material (vật tư)
Như vậy, quản lý chỉ đứng sau yếu tố con người và tiền vốn Tuy nhiên tiền không phải muốn là có! Hiện nay nhiều nơi trên thế giới kiện tụng nhau vì chiếm dụng vốn của nhau, Việt Nam cũng không ngoại lệ Các doanh nhân Việt Nam thường có câu cửa miệng “Tiền lời là phù du, Tiền thu mới thực tế!”, nghĩa là khi lên dự án có khi thấy tiền lời là rất nhiều nhưng ngày nào chưa thu được tiền về xem như ngày đó chưa có lời! (vì mình đang gồng lưng trả lãi ngân hàng giùm họ - đang bị chiếm dụng vốn) có thể dễ dàng tìm thấy nhiều ví dụ thực tế khác chứng tỏ muốn có số tiền lớn để kinh doanh không phải dễ! Có lúc là bất khả thi
Có lẻ ai cũng biết khi có một đội ngũ nhân viên giỏi (yếu tố thứ hai: MAN) thì chắc chắn công ty sẽ phát triển mạnh! Điều này chưa hẳn đã đúng trong mọi trường hợp Trên thực tế khi thuê người giỏi chắc chắn chúng ta sẽ tốn nhiều tiền, do đó quỹ lương cao nhưng đôi khi ta không cần quá giỏi như vậy (thực tế tại các nhà máy trong khu chế xuất số lượng kỹ sư, thợ bậc cao rất ít, chủ yếu là lao động phổ thông)! Dù có đầy những người giỏi nếu không quản lý tốt thì kết quả đôi khi còn tệ
Trang 4hơn vì thường “tài đi đôi với tật”, có những đội bóng đá có rất nhiều ngôi sao nên người ta gọi là “dẫy ngân hà” có năm không có lấy một chiếc cúp
bỏ túi… Chính vì những lý do trên, hiện nay người ta thường đầu tư tập trung cho quản lý bảo trì thay vì bằng mọi giá đi vay vốn (MONEY), thuê người tài (MAN), đầu tư mua sắm công nghệ mới (MACHINE) hay tìm mọi giá để đặt nhà máy gần vùng có nguyên liệu (MATERIAL) Tài liệu này viết riêng cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh Mục tiêu của tài liệu nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về Quản lý bảo trì Do đó, nội dung trình bày trong giáo trình không sâu Để có thể hiểu sâu hơn những kiến thức
về quản lý bảo trì người đọc có thể tìm hiểu thêm trong các tài liệu tham khảo Để ứng dụng được đòi hỏi phải hiểu đúng, thực hành đúng và các hoạt động tích hợp của ứng dụng đó Nhưng do yêu cầu của đề cương môn học, phần thực hành chưa được đề cập nhiều trong tài liệu Đây chính là một khiếm khuyết của tài liệu! Rõ ràng, dù có hiểu rõ đó là gì nhưng để ứng dụng được còn tùy thuộc vào chúng được sử dụng như thế nào, các công cụ tương tự có thể tạo ra các kết quả khác biệt rõ rệt Ví dụ một con dao để làm bếp được sử dụng không đúng cách có thể biến thành một công cụ giết người (hình 0)! Điểm yếu này có thể tránh được nếu giảng viên vận dụng tốt khi giao đề tài báo cáo chuyên đề dạng bài tập ứng dụng cho sinh viên
Hình 0: Dao làm bếp khi dùng sai chức năng
Kiến thức nhân loại là vô hạn, tuổi thọ con người là hữu hạn… do
đó thế giới hiện nay rất quan tâm đến phương thức dạy học theo dạng
“Tiếp cận năng lực thực hiện” (Approche Par Compétence – APC: tiếng Pháp) mà Canada là nước đang thành công rực rỡ trong lĩnh vực này Phương pháp này yêu cầu chỉ dạy và học những kiến thức thực tế mà nhu cầu người học cần, xã hội cần, theo xu hướng phát triển, không phải dạy những thứ thầy biết… Do đó trong giáo trình tác giả đã nêu rất rõ mục đích, yêu cầu của từng chương ở ngay đầu chương giúp người đọc dễ
Trang 5dàng hơn trong quá trình xác định động cơ học tập đối với từng chương của môn học
Do có ít tài liệu phù hợp với tình hình quản lý bảo trì tại Việt Nam, người viết phải tham khảo nhiều nguồn từ Internet, do đó có khả năng trích dẫn từ nguồn tài liệu nào đó nhưng do thời gian viết giáo trình này khá dài (hơn 5 năm) nên quên đưa vào trong Tài liệu tham khảo, mong quý vị lượng thứ! Do khan hiếm tài liệu, đặc biệt là các thuật ngữ về bảo trì chưa được Việt Nam hóa và thống nhất do đó tác giả xin chân thành cảm ơn các tác giả của các đầu sách trong phần Tài liệu tham khảo! Nhờ vào nguồn tài liệu quý báu đó mà đầu sách này mới có ngày hoàn thành Tài liệu này đầu tiên được viết dành cho các lớp bồi dưỡng về quản
lý cho các giám đốc ngành In… do đó kiến thức quản lý cũng nhiều hơn kiến thức kỹ thuật Đây cũng là chủ ý của tác giả vì sinh viên kỹ thuật chủ yếu cần nhiều kiến thức về mảng này Dù có nhiều kinh nghiệm đứng lớp trong môn học này, từng giảng dạy nhiều lớp quản lý bảo trì cho các dự án, nhà máy, xí nghiệp,… nhưng do đây là lần đầu tiên xuất bản, thời gian có hạn, đề cương cũng yêu cầu trình bày không sâu nên tài liệu chắc chắn sẽ còn nhiều sai sót, mong nhận được những đóng góp quý báu của độc giả để giúp giáo trình hoàn thiện hơn!
Tác giả
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 3
Mục lục 7
Chương 1: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 15
1.1 DẪN NHẬP 15
1.1.1 Khái niệm về quản lý 15
1.1.2 Khái niệm về bảo trì 17
1.2 LỊCH SỬ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO TRÌ 19
1.2.1 Bảo trì không theo kế hoạch 22
1.2.2 Bảo trì dự phòng (Preventive maintenance) 23
1.2.3 Bảo trì phụ thuộc vào tình trạng (Condition based maintenance) 24
1.2.4 Bảo trì tác động trở lại quá trình thiết kế (DOM: Design-Out Maintenance) 24
1.2.5 Phương thức bảo trì năng suất toàn diện - TPM (Total Productive Maintenance) 25
1.2.6 Bảo trì từ bên thứ ba và nguồn lực bên ngoài (Third Party Maintenance and Outsourcing) 26
1.3 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BẢO TRÌ THEO CHUẨN DIN 31051 (ĐỨC) 27
1.3.1 Thuật ngữ trong tiêu chuẩn DIN 31051 27
1.3.2 Ý nghĩa các thuật ngữ 27
1.4 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BẢO TRÌ THEO CHUẨN CHÂU ÂU 30
1.4.1 Theo tiêu chuẩn Anh (BS 38112) 30
1.4.2 Thuật ngữ trong tiêu chuẩn châu Âu prEN 13306 và EN 13306 32
1.5 TRIỂN VỌNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO TRÌ THẾ GIỚI 33
1.6 TÌNH HÌNH BẢO TRÌ TẠI VIỆT NAM 36
TÓM TẮT 39
CÂU HỎI ÔN TẬP 40
Trang 8Chương 2: CHIẾN LƯỢC BẢO TRÌ 41
2.1 DẪN NHẬP 41
2.2 TRIẾT LÝ TRONG CHIẾN LƯỢC BẢO TRÌ 42
2.2.1 Khái niệm 42
2.2.2 Triết lý bảo trì từ quan điểm kinh tế 43
2.3 CÁC CHIẾN LƯỢC BẢO TRÌ 44
2.3.1 Bảo trì theo sự cố 45
2.3.2 Bảo kì định kỳ 45
2.3.3 Bảo trì theo tình trạng 46
2.3.4 Bảo trì đưa vào trong quá trình thiết kế (DOM) 47
2.3.5 Bảo trì lợi dụng cơ hội 47
2.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC BẢO TRÌ 47
2.4.1 Nguyên lý chung 48
2.4.2 Dựa vào MTBF (Mean Time Beetween Failures) 48
2.4.3 Dựa vào hệ số rủi ro ưu tiên của hỏng hóc (RPN: Risk Priority Number) 50
2.5 LẬP KẾ HOẠCH BẢO TRÌ 51
2.5.1 Các công việc của lập kế hoạch bảo trì 51
2.5.2 Cơ sở và liên kết chính để thực hiện lập kế hoạch bảo trì 52
2.6 LỢI ÍCH CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH CÔNG VIỆC BẢO TRÌ 53
2.6.1 Các thiệt hại do bảo trì không kế hoạch 53
2.6.2 Những lợi ích của việc lập bảo trì 55
2.7 CÁC LOẠI KẾ HOẠCH BẢO TRÌ CẦN LẬP 55
2.7.1 Kế hoạch chiến lược bảo trì 55
2.7.2 Kế hoạch nhân sự 56
2.7.3 Kế hoạch phương tiện hoạt động 57
2.7.4 Kế hoạch vật tư 57
2.7.5 Kế hoạch tài chính 57
2.7.6 Kế hoạch tư vấn trong các lĩnh vực khác 58
Trang 92.7.7 Kế hoạch chi phí 58
2.7.8 Kế hoạch đầu tư 58
2.7.9 Kế hoạch chương trình bảo trì 59
2.7.10 Kế hoạch thời gian và tổng năng lực 59
2.7.11 Kế hoạch số lượng 60
2.7.12 Thiết lập kế hoạch công tác bảo trì 61
TÓM TẮT 62
CÂU HỎI ÔN TẬP 62
Chương 3: QUẢN LÝ THEO TUỔI BỀN THIẾT BỊ - LCPM (Life Cycle Period Management) 63
3.1 ĐỊNH NGHĨA QUẢN LÝ THEO TUỔI BỀN THIẾT BỊ - LCPM 63
3.2 CHI PHÍ TUỔI THỌ (LIFE CYCLE COST - LCC) CỦA THIẾT BỊ 67
3.2.1 Định nghĩa về chi phí tuổi thọ thiết bị (LCC) 67
3.2.2 Các yếu tố quan trọng trong chi phí tuổi thọ thiết bị 68
3.3 TÍNH TOÁN CHI PHÍ TUỔI THỌ THIỀT BỊ 75
3.3.1 Công thức tính 75
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu tính toán 77
3.3.3 Ứng dụng việc tính toán LCC trên máy móc thiết bị 77
3.3.4 Các ví dụ tính toán điển hình 78
TÓM TẮT 81
BÀI TẬP CỦNG CỐ 82
Chương 4: KINH TẾ THIẾT BỊ (ECONOMIC PLANT) 83
4.1 KHÁI NIỆM 83
4.2 TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ BẢO TRÌ ĐẾN TÍNH KINH TẾ TRONG SỬ DỤNG THIẾT BỊ 86
4.3 QUẢN LÝ TÀI SẢN VÀ PHƯƠNG TIỆN 90
4.4 HỆ SỐ OEE 91
Trang 104.4.1 Định nghĩa OEE 91
4.4.2 Phân loại OEE 92
4.4.3 Các dạng sự cố trong OEE 93
4.4.4 Cách tính OEE 94
4.4.5 Ví dụ về cách tính OEE 97
4.4.6 Ý nghĩa của hệ số OEE 99
BÀI TẬP CỦNG CỐ 100
Chương 5: QUẢN LÝ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG 101
5.1 KHÁI NIỆM 101
5.2 PHÂN TÍCH ABC – PARETO 102
5.2.1 Khái niệm 102
5.2.2 Tổng quan về 7 công cụ thống kê 102
5.2.3 Phân tích ABC-Pareto qua một ví dụ điển hình 113
5.3 TRIẾT LÝ KAIZEN 116
5.3.1 Khái niệm 116
5.3.2 Đặc điểm 119
5.3.3 10 nguyên tắc của Kaizen 119
5.3.4 Các chương trình Kaizen 123
5.4 CÔNG CỤ 5S 123
5.4.1 Khái niệm 123
5.4.2 Quan niệm về 5S 124
5.4.3 Nội dung 5S 127
5.4.4 Tiến hành 5S 128
5.4.5 Lưu ý khi tiến hành 5S 133
5.5 SẢN XUẤT TINH GỌN (LEAN MANUFATORY) 134
5.5.1 Các khái niệm cơ bản 134
5.5.2 Các khái niệm trong Lean 135
5.5.3 Các lợi ích khi sản xuất tinh gọn 143
Trang 115.5.4 Các công cụ, phương pháp trong sản xuất tinh gọn 144
5.5.5 Các bước triển khai Lean và các công cụ, kỹ thuật cơ bản 152
TÓM TẮT 154
CÂU HỎI ÔN TẬP 155
Chương 6: QUẢN LÝ PHỤ TÙNG TỒN KHO 157
6.1 KHÁI NIỆM 157
6.2 TÌNH HÌNH PHỤ TÙNG TỒN KHO TRÊN THẾ GIỚI 159
6.2.1 Vấn đề 1: Sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị 159
6.2.2 Vấn đề 2: Nhà cung cấp ngưng cung ứng 160
6.2.3 Thay đổi chiến lược kinh doanh 161
6.3 THUẬT NGỮ TRONG QUẢN LÝ TỒN KHO 161
6.3.1 Phụ tùng chiến lược 161
6.3.2 Tiêu chuẩn hoá các thiết bị, phụ tùng lưu kho 162
6.3.3 Dự toán chi phí tồn kho phụ tùng hàng năm 163
6.3.4 Đánh số phụ tùng 164
6.4 QUẢN LÝ PHỤ TÙNG TỒN KHO HIỆU QUẢ 165
6.4.1 Các dạng tồn kho phụ tùng 166
6.4.2 Các biện pháp để giảm số lượng hàng tồn kho 166
6.4.3 Phân tích ABC-Pareto trong phân loại hàng hóa tồn kho 167
TÓM TẮT 168
CÂU HỎI ÔN TẬP 169
Chương 7: QUẢN LÝ BẢO TRÌ NĂNG SUẤT TOÀN DIỆN (TPM-TOTAL PRODUCTIVE MAINTENANCE) 171
7.1 KHÁI NIỆM 171
7.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN 172
7.3 TRIẾT LÝ CỦA TPM 173
7.4 MỤC TIÊU CỦA TPM 175
Trang 127.5 TÁM TRỤ CỘT TRONG TPM 176
7.5.1 Bảo trì tự quản (Autonomous Maintanance) 176
7.5.2 Bảo trì có kế hoa ̣ch (Planned Maintenance) 176
7.5.3 Quản lý chất lượng (Quality Management) 176
7.5.4 Cải tiến có tro ̣ng điểm (Focus Improvement) 176
7.5.5 Huấn luyê ̣n và đào ta ̣o (Train & Education) 177
7.5.6 An toàn và sức khoẻ (Safety & Healt) 177
7.5.7 Hê ̣ thống hỗ trợ (Support systems) 177
7.5.8 Quản lý từ đầu (Initial Phase Management) 177
7.6 QUY TRÌNH THỰC HIỆN TPM 178
7.6.1 Các giai đoạn 178
7.6.2 Tổ chức thực hiện TPM 179
7.7 NHỮNG LỢI ÍCH VÀ GIỚI HẠN TPM 180
7.7.1 Những lợi ích của TPM 180
7.7.2 Những giới hạn của TPM 180
TÓM TẮT 181
CÂU HỎI ÔN TẬP 181
Chương 8: CƠ CẤU TỔ CHỨC HỆ THỐNG QUẢN LÝ BẢO TRÌ 183
8.1 KHÁI NIỆM 183
8.1.1 Phân biệt giữa quản lý và lãnh đạo 183
8.1.2 Cấu trúc hệ thống bảo trì trong công ty 184
8.1.3 Cơ cấu tổ chức cơ bản trong quản lý bảo trì 185
8.2 CƠ SỞ LỰA CHỌN CẤU TRÚC QUẢN LÝ BẢO TRÌ 185
8.2.1 Triết lý lựa chọn 185
8.2.2 Các bước lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý bảo trì 185
8.3 PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC TẬP TRUNG VÀ PHÂN TÁN 186
8.3.1 Phương thức quản lý bảo trì loại tổ chức bảo trì tập trung và riêng biệt 187
Trang 138.3.2 Phương thức quản lý bảo trì loại tổ chức bảo trì tập trung và
kết hợp 187
8.3.3 Phương thức quản lý bảo trì loại tổ chức bảo trì phân tán và riêng biệt 188
8.3.4 Phương thức quản lý bảo trì loại tổ chức bảo trì phân tán và kết hợp 188
8.4 CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC BẢO TRÌ 188
8.4.1 Tổ chức theo tuyến 189
8.4.2 Tổ chức theo tuyến có tham mưu 190
8.4.3 Tổ chức theo nhóm nghề 191
8.4.4 Tổ chức theo nhóm dự án 192
8.4.5 Tổ chức theo ma trận 194
TÓM TẮT 196
CÂU HỎI ÔN TẬP 196
Chương 9: HỆ THỐNG QUẢN LÝ BẢO TRÌ BẰNG MÁY TÍNH (COMPUTERIZED MAINTENANCE MANAGEMENT SYSTEM) 197
9.1 KHÁI NIỆM 197
9.2 CÁC CHỨC NĂNG CỦA CMMS 199
9.3 CÔNG VIỆC CỦA CMMS 200
9.4 NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CMMS 200
9.4.1 Lơ ̣i ích kỹ thuâ ̣t: Tối đa thời gian hoạt động của thiết bị 200
9.4.2 Lơ ̣i ích về tài chính 201
9.4.3 Lơ ̣i ích về quan điểm và tổ chức 201
9.5 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CMMS CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 202
9.6 NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY RA THẤT BẠI KHI ỨNG DỤNG CMMS 202
9.7 NHỮNG YẾU TỐ TẠO NÊN THÀNH CÔNG KHI ỨNG DỤNG CMMS 203
Trang 149.8 GIỚI THIỆU PHẦN MỀM QUẢN LÝ THIẾT BỊ VÀ BẢO
TRÌ: VIETSOFT ECOMAINT 205
9.8.1 Ưu điểm của phần mềm 205
9.8.2 Đặc điểm của phần mềm 205
9.8.3 Nội dung của phần mềm 206
TÓM TẮT 211
CÂU HỎI ÔN TẬP 211
Chương 10: DIỄN TIẾN HƯ HỎNG VÀ TRÌNH TỰ BẢO TRÌ 213
10.1 KHÁI NIỆM 213
10.2 HƯ HỎNG VÀ DIỄN BIẾN HƯ HỎNG 213
10.2.1 Khái niệm hư hỏng 213
10.2.2 Nguyên nhân 216
10.2.3 Phân loại hư hỏng 217
10.2.4 Các dạng hư hỏng điển hình 218
10.3 GIẢI PHÁP BẢO TRÌ 224
10.4 TRÌNH TỰ BẢO TRÌ 225
10.4.1 Các bước thực hiện 225
10.4.2 Phân tích ví dụ điển hình 227
TÓM TẮT 228
CÂU HỎI ÔN TẬP 228
PHỤ LỤC 229
A GIỚI THIỆU GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ 229
B BIỂU MẪU BẢO TRÌ 235
TÀI LIỆU THAM KHẢO 242
Trang 15Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Chương 1 trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản như khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ, thực trạng,… về quản lý bảo trì công nghiệp nhằm giúp sinh viên dễ dàng hơn trong quá trình tiếp cận các chương nội dung sau Tuy đây chỉ là những kiến thức cơ bản nhưng chương này rất cần thiết đối với sinh viên kỹ thuật vì cách nhìn nhận vấn đề của sinh viên khối xã hội và kỹ thuật khác nhau, trong khi kiến thức môn học này chủ yếu liên quan đến kiến thức xã hội
- Hoạch định quá trình xác định mục tiêu của tổ chức, xây dựng chiến lược tổng thể để đạt mục tiêu và đề ra các kế hoạch phối hợp hỗ trợ chiến lược
- Tổ chức xác định công việc cần làm, thành lập các bộ phận đảm nhận công việc, phân công công việc và xác định quyền hạn và trách nhiệm cho các cá nhân
- Điều khiển quá trình tuyển dụng và đào tạo nhân sự, truyền đạt thông tin trong nội bộ, lãnh đạo và động viên nhân viên để đảm bảo đạt mục tiêu của doanh nghiệp Điều khiển giúp cho nhân viên có kiến thức,
kỹ năng và động lực để nỗ lực thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp
- Kiểm tra chức năng đảm bảo công việc của tổ chức đúng hướng
và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Để kiểm tra cần xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra, đo lường kết quả thực tế, so sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn và phát hiện sai lệch và điều chỉnh sai lệch
Trang 16 Vai trò quản lý
Hình 1.1
Nguồn: Tổ chức InWent và I.F.F (Đức)
Hình 1.1 minh họa một con bò có một sức lực rất dồi dào nhưng vẫn không giúp ích được gì vì nó bị trói vào gốc cây Tuy nhiên trong hình 1.2 nó sinh công hữu ích vì người chủ của nó biết cách quản lý con
bò sao cho nó làm việc hữu ích nhất
Hình 1.2
Nguồn: Tổ chức InWent và I.F.F (Đức)
Rõ ràng muốn nâng cao hiệu quả hệ thống cần phải có quản lý Quản lý sẽ nâng cao hiệu quả lẫn hiệu suất quá trình Cụ thể: hiệu quả đo lường bằng kết quả thực hiện so với mục tiêu đề ra và hiệu suất đo lường bằng kết quả thực hiện so với chi phí đầu vào
Tính khoa học và nghệ thuật của quản lý
Để phân biệt “Lãnh đạo (leader)” và quản lý (manager)” người ta thường dùng câu “Leader make right things, manager make things right” nghĩa là người lãnh đạo phải luôn sáng tạo để tìm ra những hướng đi mới giúp công ty nhanh chóng về đích còn người quản lý chỉ cần điều hành mọi người trong công ty thực hiện đúng những quy chế có sẵn trong công
ty, giúp công ty luôn đi đúng hướng mà người lãnh đạo đã đặt ra Tuy
Trang 17nhiên nếu dựa vào câu nói này mà gọi quản lý là những công việc được định sẵn theo những công thức cố định và mọi người chỉ làm theo mà không cần sáng tạo lại là sai! Tuy mức độ sáng tạo ở người quản lý không cao như người lãnh đạo nhưng quản lý vẫn là một nghệ thuật Nghĩa là bên cạnh những quy luật, công thức,… có sẵn (tính khoa học trong quản lý) thì người quản lý cần có những sáng tạo giúp việc vận dụng quy luật, công thức,… trên một cách uyển chuyển, có hiệu quả… mang nặng tính nghệ thuật
1.1.2 Khái niệm về bảo trì
1 Định nghĩa của Afnor (Tiêu chuẩn công nghiệp Pháp):
“Bảo trì là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoặc phục hồi một tài sản ở tình trạng nhất định hoặc bảo đảm một dịch vụ xác định”
Ý nghĩa của định nghĩa trên là tập hợp các hoạt động, các phương tiện, các biện pháp kỹ thuật để thực hiện công tác bảo trì
Duy trì: phòng ngừa các hư hỏng có thể xảy ra để duy trì tình trạng hoạt động của tài sản (máy móc, thiết bị)
Phục hồi: sửa chữa hay phục hồi lại trạng thái ban đầu của tài sản (bao gồm tất cả các thiết bị, dụng cụ sản xuất, dịch vụ )
2 Định nghĩa của BS 3811: 1984 (British Standard = Tiêu chuẩn Anh quốc):
“Bảo trì là tập hợp tất cả các hành động kỹ thuật và quản trị nhằm giữ cho thiết bị luôn ở một tình trạng nhất định hoặc phục hồi nó về một tình trạng trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu Chức năng yêu cầu này có thể định nghĩa như là một tình trạng xác định nào đó”
3 Định nghĩa của Total Productivity Development AB (Thụy Điển):
Trang 18“Bảo trì bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện nhằm giữ cho thiết bị ở một tình trạng nhất định hoặc phục hồi thiết bị về tình trạng này.”
4 Định nghĩa của Dimitri Kececioglu (Mỹ):
“Bảo trì là bất kì hành động nào nhằm duy trì các thiết bị không bị
hư hỏng ở một tình trạng đạt yêu cầu về mặt độ tin cậy và an toàn và nếu chúng bị hư hỏng thì phục hồi chúng về tình trạng ban đầu”
5 Định nghĩa của DIN 31051 (Deutsche Industrie Norm: Tiêu chuẩn công nghiệp Đức):
Bảo trì gồm các hoạt động sau: bảo dưỡng, kiểm định, sửa chữa và thêm vào đó là các biện pháp theo trình tự được kê khai sau đây:
- “Để duy trì tình trạng lý tưởng (Tình trạng cần)”
- “Để kiểm tra và đánh giá tình trạng thực”
- “Để tái tạo lại tình trạng lý tưởng” của máy móc và thiết bị” Trong các định nghĩa này, điểm quan trọng nằm ở ranh giới của các biện pháp và cách thức nhìn nhận khác nhau về các dự án kế hoạch bảo trì giữa các nước Dễ dàng tìm thấy trong các tài liệu hàng loạt các quan điểm và sự nhìn nhận khác nhau về bảo trì, triết lý về bảo trì, chiến lược bảo trì và các biện pháp bảo trì, kế hoạch bảo trì,… Đặc biệt là khi so sánh các nguyên tắc của Đức, châu Âu, Hoa Kỳ hoặc của Nhật Bản sẽ thấy một sự đa dạng phong phú về các khái niệm Thậm chí trong cùng một quốc gia cũng có nhiều quan điểm “mới” và khác biệt nhau tồn tại trong cuộc sống và được diễn tả theo số đông người dùng theo từng vùng miền, thí dụ tại Việt Nam thuật ngữ “bảo trì” theo phương ngữ miền Nam
sẽ tương đương với “bảo dưỡng sửa chữa” của phương ngữ miền Bắc… Vấn đề cơ bản ở đây nằm ở thói quen sử dụng thuật ngữ mà thôi! Tài liệu này sẽ được viết theo định nghĩa của Đức, Bảo trì (Maintenance) gồm 3 hoạt động: Bảo dưỡng (servicing); Kiểm định (inspection) và Sửa chữa, thay thế (repair, replacement)
6 Định nghĩa mới nhất của người Đức
Theo quan điểm của người Đức: tất cả các hoạt động bảo trì được tóm tắt dưới ba khái niệm chính:
- Bảo dưỡng: là biện pháp để bảo đảm trạng thái cần của các thiết
bị trong một hệ thống
- Kiểm định: là biện pháp xác định, đánh giá trạng thái thực của các
thiết bị kỹ thuật trong một hệ thống
Trang 19- Sửa chữa, thay thế: là biện pháp phục hồi, tái tạo trạng thái cần
của các thiết bị trong một hệ thống
Từ đây có thể suy ra bảo trì là các biện pháp để duy trì và tái tạo trạng thái cần cũng như xác định và đánh giá trạng thái thực của các phương tiện kỹ thuật trong một hệ thống Dưới góc độ các quan niệm về kinh tế có thể đưa ra một phác họa đơn giản khác về triết lý bảo trì được
mô tả như sau:
- Giảm thiểu các chi phí dừng máy không chú ý tới vấn đề kinh tế của chi phí bảo trì
- Các hao tổn kinh tế cho bảo trì tương quan tới chi phí dừng máy móc thiết bị
- Giảm thiểu các chi phí bảo trì không chú ý tới vấn đề kinh tế của chi phí dừng máy móc thiết bị
7 Tóm lược
Có rất nhiều định nghĩa về bảo trì nhưng nội dung cốt lõi là: “Bảo
trì là tập hợp tất cả các hoạt động nhằm duy trì trạng thái cần (necessary state) của người lẫn thiết bị, thường thực hiện dưới 3 hình thức: bảo dưỡng, kiểm định và sửa chữa, thay thế” Nghĩa là khác với
trước kia, bảo trì hiện đại phải chấp nhận đương đầu với mọi rủi ro để duy trì trạng thái hoạt động theo mọi yêu cầu của quá trình sản xuất Điều này đồng nghĩa với các khái niệm dừng máy để tiểu tu, trung tu và đại tu nay không còn thích hợp 100% cho các quy trình sản xuất nữa… vì trong bảo trì hiện đại chúng ta phải đáp ứng mọi nhu cầu tiên phong từ dây chuyền sản xuất Nghĩa là nếu công nghệ yêu cầu không được dừng máy
để kiểm tra thì chúng ta cũng phải có thiết bị đo nóng! Tất nhiên khi có thể dừng máy theo kế hoạch để bảo trì thì vẫn có thể sử dụng tiểu tu, trung tu và đại tu như các hãng xe vẫn bảo trì xe như hiện nay, đó cũng là một dạng của bảo trì hiện đại
1.2 LỊCH SỬ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO TRÌ
Hình 1.3: Lịch sử phát triển của con người và kỹ thuật
Trang 20Cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, công việc và nhân sự bảo trì cũng phải thay đổi một cách tương ứng, đặc biệt có rất nhiều thay đổi trong thế kỷ XX Như minh họa trên hình 1.3, quá trình phát triển của bảo trì cũng tuân theo những quy luật khách quan Chúng phát triển theo hình xoắn trôn ốc, trong đó điểm xuất phát của chu kỳ mới là điểm kết thúc của chu kỳ cũ và có tính chất giống điểm xuất phát của chu kỳ cũ nhưng ở mức độ phát triển cao hơn (qua một chu kỳ phát triển loài người
đã văn minh hơn nhưng tư thế lại trở về vượn người thuở xưa…) Các giai đoạn phát triển trong bảo trì có thể được liệt kê theo
Hình 1.4: Các bước phát triển của bảo trì
- Bảo trì theo hướng chờ đến hư hỏng (sửa chữa, bảo trì không theo
kế hoạch) Thí dụ như bảo trì phục hồi, bảo trì khẩn cấp, bảo trì chữa cháy (không có kế hoạch),… nghĩa là thụ động ngồi chờ sự cố xảy ra để bảo trì
- Bảo trì dự phòng, bảo trì phòng ngừa, bảo trì cải tiến, bảo trì phục hồi, bảo trì khẩn cấp (có kế hoạch),…
- Bảo trì phụ thuộc vào tình trạng
- Bảo trì tác động trở lại quá trình thiết kế (D.O.M: Design-Out Maintenance)
- Bảo trì năng suất toàn diện (TPM)
- Bảo trì từ bên thứ ba (Third Party Maintenance)
Trang 21Các bước/ giai đoạn liệt kê theo thứ tự trên chỉ là tương đối, các hình thức bảo trì đã và đang được cải tiến liên tục Chúng luôn phát triển
và song hành cùng nhau
Bảo trì đã hình thành từ rất sớm, từ khi con người biết sử dụng công cụ sản xuất Tuy nhiên chỉ trong vài thập niên gần đây, khi khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, nền sản xuất đại công nghiệp được áp dụng rộng rãi nên số lượng và chủng loại tài sản cố định như máy móc, thiết
bị, nhà xưởng, có sự gia tăng khổng lồ thì bảo trì mới được coi trọng và quan tâm đúng mức, nhằm đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp Dựa vào quy mô, tính chất của bảo trì, người ta phân bảo trì thành 3 thế
hệ như hình sau:
Hình 1.5: Ba thế hệ bảo trì
Thế hệ thứ I: Bắt đầu từ thế kỷ XVIII cho đến chiến tranh thế giới thứ II: Công nghiệp chưa phát triển, việc sản xuất và chế tạo sản phẩm được thực hiện bằng thiết bị, máy móc đơn giản, lúc này thời gian ngừng máy ít ảnh hưởng đến sản xuất công việc bảo trì cũng rất đơn giản Bảo trì không ảnh hưởng lớn đến chất lượng và năng suất Vì vậy, ý thức ngăn ngừa các thiết bị hư hỏng chưa được phổ biến trong đội ngũ quản lý Quan niệm lúc này là coi việc máy móc bị giảm chất lượng hay hỏng hóc là do bị “lão hóa” nên bảo trì chủ yếu là sửa chữa các máy móc và thiết bị khi bị hư hỏng
Thế hệ thứ II: Từ sau chiến tranh thế giới II đến những năm 80 của thế kỷ XX: Nhu cầu hàng hóa tăng trong khi nguồn nhân lực giảm sút Vì thế, cơ khí hóa được thúc đẩy để bù đắp sự thiếu hụt
Trang 22nguồn lực và điều này dẫn đến việc nhiều máy móc phức tạp đã được đưa vào sản xuất Công nghiệp trở nên phụ thuộc hơn vào máy móc thiết bị
Do sự phụ thuộc vào máy móc tăng nên thời gian ngừng máy ngày càng được quan tâm Vì vậy, những hư hỏng của thiết bị có thể và nên được phòng ngừa để tránh làm mất thời gian khi có sự cố xảy ra Từ đó
đã xuất hiện công tác “bảo trì phòng ngừa” với mục tiêu là giữ thiết bị luôn hoạt động trong trạng thái ổn định chứ không phải đến khi hư hỏng mới sửa chữa Trong những năm 1960 giải pháp bảo trì chủ yếu là đại tu thiết bị sau những khoảng thời gian hoạt động nhất định Chi phí bảo trì tăng đáng kể so với chi phí vận hành khác, giá thành các thiết bị cũng tăng cao, vì thế cần phát triển hệ thống kiểm soát, lập kế hoạch bảo trì và tìm kiếm những giải pháp để tăng tối đa tuổi thọ của thiết bị
Thế hệ thứ III: Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay: Công nghiệp thế giới đã có nhiều thay đổi lớn Những thay đổi này mong đợi và đòi hỏi bảo trì phải đáp ứng được yêu cầu: khả năng sẵn sàng và độ tin cậy cao hơn, an toàn cao hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn, không gây tác hại cho môi trường, tuổi thọ thiết bị dài hơn, tăng hiệu suất đến tối đa, thời gian ngừng máy ít hơn và hiệu quả kinh tế lớn hơn
1.2.1 Bảo trì không theo kế hoạch
Kể từ khi loài người bắt đầu sản xuất hàng hóa bằng thủ công cho đến nay, họ đã phải luôn luôn suy nghĩ rằng “sinh, lão, bệnh, tử” là quy luật tất yếu cho người cũng như thiết bị, do đó phải luôn cố gắng tìm cách làm thế nào để tác động vào quá trình làm việc của thiết bị nhằm giảm tối đa các hư hỏng của các bộ phận quan trọng Ví dụ, khi chốt của một tay nắm cửa bị phá hỏng, có rất ít giải pháp để lựa chọn: vứt bỏ (loại trừ), thay mới, hoặc trong trường hợp cho phép thì sửa chữa Dụng cụ này cũng có thể bảo dưỡng toàn bộ hoặc được chuẩn bị lại cho một ứng dụng khác, ví dụ các mẫu gãy đã được gia công lại thành mũi nhọn dùng
để đục lỗ,… Tóm lại, tất cả các biện pháp này diễn ra không theo dự phòng mà đa số là để đối phó với các hư hỏng, do vậy trong hình thức bảo trì này đòi hỏi người thợ bảo trì phải nhiều kinh nghiệm, tay nghề cao và khéo léo
Các nhà máy xí nghiệp trong thời kỳ đầu và giữa thế kỷ thứ 18 ở châu Âu cũng gặp phải những tình trạng tương tự Khi đó, việc chế tạo chi tiết đơn lẻ được thực hiện ở các phân xưởng khác nhau trong nhà máy Dần dần đã tự hình thành trong các nhà máy này một nghề mới là nghề thợ sửa chữa, họ đảm trách việc sửa chữa tái tạo lại các thiết bị máy
Trang 23móc trong xưởng vì các hư hỏng xảy ra là điều hiển nhiên và không thể tránh được
Thí dụ:
Vào đầu thế kỷ thứ 19, chủ hãng Nathusius von Halberstadt ở Magdeburg đã xây dựng công nghiệp đường chế biến từ củ cải ở vùng Magdeburg Ông đã nhập nhiều máy móc để chế biến từ Anh quốc, nơi
đã có một sự phát triển mạnh về kỹ thuật Điều này bắt buộc nhà máy phải tự tu bổ, sửa chữa các máy móc Như vậy, ngoài công nhân trực tiếp đứng sản xuất, ông phải tuyển dụng các nhân viên bảo trì để hỗ trợ cho
sự phát triển nhà máy Các chủ hãng như Nathusius hồi đó cũng đã tự phát triển các máy móc theo ý đồ của mình và bằng cách đó họ đã có thể thử nghiệm và tìm kiếm những kinh nghiệm cho mình
Các hoạt động bảo trì dự phòng vẫn chưa được thực hiện trong giai đoạn này ngoại trừ công việc làm sạch và châm dầu bôi trơn Do vậy các hoạt động của người thợ sửa chữa thế hệ đầu chỉ tập trung vào việc sửa chữa, thay thế hoàn chỉnh các chi tiết trong máy móc, thiết bị
Trong phương án bảo trì sửa chữa không theo kế hoạch, người quản lý chờ đợi tới khi gặp sự cố, hư hỏng để sửa chữa bằng các biện pháp thay thế chi tiết hoặc đưa ra biện pháp sửa chữa thích hợp
1.2.2 Bảo trì dự phòng (Preventive maintenance)
Theo đà phát triển của khoa học và công nghệ, các máy móc thiết
bị cũ kỹ lạc hậu không còn đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi ngày một khắt khe của dây chuyền sản xuất Việc sản xuất đã được thực hiện không chỉ tập trung tại một điểm, mà chúng có thể được chế tạo ở các địa điểm hoàn toàn khác nhau và được lắp ráp tập trung tại một điểm Điều này đòi hỏi công nghệ phải có độ chính xác cao, vì như thế sản phẩm làm
ra mới có thể kết hợp lại với nhau và tính liên thông về thời gian giữa các nhà máy phải rất chặt chẽ Mọi sự chậm trễ và sai lệch đều không thể chấp nhận! Vì vậy, phương thức bảo trì cũng phát triển theo mức độ tương xứng Bảo trì dự phòng ra đời thay thế cho bảo trì không kế hoạch Trong phương án bảo trì dự phòng thì bảo trì là một nỗ lực để giảm thiểu tối đa các thời gian dừng máy ngoài ý muốn thông qua việc lập kế hoạch rõ ràng của các hoạt động bảo trì trong phạm vi sản xuất
Bảo trì dự phòng được thực hiện theo một khoảng thời gian xác định hoặc theo các tiêu chí được hoạch định trước để giảm thiểu những
hư hỏng ngẫu nhiên hoặc sự suy giảm công năng của một thiết bị Đây là hình thức bảo trì theo kế hoạch Nghĩa là cứ theo kế hoạch đã định trước, người ta thực hiện các hoạt động bảo trì như bảo dưỡng, kiểm định và
Trang 24sửa chữa thay thế Như vậy sẽ bảo đảm thiết bị luôn trong trạng thái tốt
để phục vụ sản xuất
1.2.3 Bảo trì phụ thuộc vào tình trạng (Condition based maintenance)
Rõ ràng, một bất lợi trong bảo trì dự phòng đó là nhiều bộ phận máy mặc dù còn đầy đủ khả năng sử dụng nhưng lại bị thay thế quá sớm! Sau thời kỳ kinh tế thịnh vượng trong những năm 50 đến 60 thế kỷ XX thì áp lực về cạnh tranh và sự tranh đua về giá cả đã tăng lên đáng kể Hậu quả của áp lực này buộc một số nhà sản xuất phải cắt giảm tất cả các
bộ phận không sản xuất, trong đó có bảo trì Số khác vẫn muốn bảo trì tồn tại nhưng có những đòi hỏi khắt khe hơn nhằm tăng khả năng đáp ứng và tính ổn định cao của thiết bị: họ cố gắng tìm một phương thức bảo trì mới hỗ trợ các phương thức bảo trì hiện có! Cùng lúc này, máy tính và
kỹ thuật điều khiển hiện đại đã bắt đầu tích hợp mạnh trong dây chuyền sản xuất, hệ thống phân tích và quan sát máy móc với hiệu quả cao đã cung cấp dữ liệu về tình trạng máy móc thiết bị dẫn đến khả năng nhận biết ngay khi xuất hiện thiếu hụt về công suất hoặc sự cố hoặc hư hỏng
về chức năng Như vậy, một phương án bảo trì mới ra đời: Bảo trì phụ thuộc vào tình trạng thiết bị
Cơ sở của phương án bảo trì mới này gồm các dạng khác nhau của kiểm định và kiểm tra thiết bị Các dữ liệu thu nhận sau khi xử lý cho phép nhận định tình trạng thiết bị một cách chi tiết và với công nghệ hiện nay có thể dự đoán một cách chính xác thời điểm sẽ xảy ra sự cố Với cách thức này, có thể giảm thiểu việc thay thế theo kế hoạch cả một bộ phận máy mà thực tế nó vẫn còn sử dụng tốt
Nếu nhìn từ bên ngoài, bảo trì theo tình trạng là giải pháp tối ưu đối với mọi thiết bị, nó có thể thay thế các phương thức bảo trì trước đó vì nó chỉ thay thế thiết bị khi chúng sắp rơi vào trạng thái hỏng hóc Tuy nhiên, điều này cũng không hoàn toàn chính xác! Với một số thiết bị có cấu trúc phức tạp, khi mà việc chẩn đoán tình trạng thiết bị đòi hỏi những thiết bị, công nghệ đo kiểm đắt tiền hoặc đôi khi là bất khả thi (không thể đo kiểm tình trạng thiết bị) thì phương thức bảo trì này trở nên không hợp lý
1.2.4 Bảo trì tác động trở lại quá trình thiết kế (DOM: Design-Out Maintenance)
Trong quá trình bảo trì sẽ có những hỏng hóc vẫn cứ xảy ra mặc dù quy trình bảo trì đã hợp lý, thao tác nhân viên vận hành không sai, lúc này có thể dùng biểu đồ xương cá, biểu đồ mật độ phân bố,… (7 công cụ thống kê sẽ trình bày trong chương 5) để tìm ra nguyên nhân và từ đó xử
lý tận gốc Hỏng hóc đó có thể xuất phát từ quá trình thiết kế Lúc này phía bảo trì có thể đề nghị phía thiết kế thiết kế lại sản phẩm để tránh
Trang 25những sự cố đáng tiếc Quá trình này là quá trình bảo trì tác động trở lại quá trình thiết kế (DOM: Design-Out Maintenance) Lấy thí dụ với chiếc
xe 2 bánh Honda Super Dream, khi xe được thiết kế cho cơ sở hạ tầng theo chuẩn Nhật Bản thì miếng chắn bùn phía sau xe được làm nhỏ và ngắn vì đường xá ở Nhật (sau này là Thái Lan) rất tốt nên khi vận hành trong điều kiện đường ướt vẫn không ảnh hưởng đến người đi xe Tuy nhiên, khi mang sang Việt Nam, do điều kiện cơ sở hạ tầng chưa tốt nên khi đi xe trong điều kiện đường ướt sẽ làm ướt người trên xe… Vì vậy, hãng Honda Việt Nam đã thiết kế lại miếng chắn bùn to và dài hơn để phù hợp hơn với đường xá Việt Nam Đó chính là DOM
1.2.5 Phương thức bảo trì năng suất toàn diện - TPM (Total Productive Maintenance)
Xuất phát điểm từ chiến lược “Just In Time” (sản xuất sản phẩm đúng với số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm) đã mang đến những thành công vang dội cho các công ty Nhật Điều này dẫn đến việc ra đời một phương thức bảo trì hiện đại: Bảo trì năng suất toàn diện (TPM - Total Productive Maintenance)
Các mục tiêu của TPM là nâng cao:
là sự đương nhiên, mà phải giải quyết các nguyên nhân
Ở Nhật Bản đã phát triển kỹ thuật sản xuất theo hướng tổ chức lại Trong năm 1971, Seichi Nakajima đã đưa ra khái niệm bảo trì toàn diện trong sản xuất (TPM), ông đã đặt nền móng cho hệ thống không lỗi
“Zero defect”
Các nguyên tắc không lỗi “Zero defect”bao gồm không tồn kho, không lỗi, không thời hạn, không hư hỏng, không giấy tờ (Zero stock, null Fehler, null Frist, null Ausfall, null Papier)
Trong năm 1969, ở Nhật đã thành lập Viện Kỹ thuật Kế hoạch (ngày nay là Viện Bảo trì theo kế hoạch - Viết tắt: JIPM), thậm chí người
ta còn gọi đó là Viện cuộc sống, viện này đã cống hiến các hoạt động hầu như không giới hạn của nó cho công tác bảo trì toàn diện trong sản xuất
Trang 26Để có thể hiểu thấu đáo và áp dụng hiệu quả phương thức bảo trì này, chúng ta sẽ phân tích nội dung của nó trong chương 7 của tài liệu này
1.2.6 Bảo trì từ bên thứ ba và nguồn lực bên ngoài (Third Party Maintenance and Outsourcing)
Các phương án nêu trên tập trung vào tổ chức và thực hiện bảo trì trong từng xí nghiệp, chúng vẫn đang hoạt động và phát triển Nhưng hiện nay có một khuynh hướng bảo trì giống như bảo trì dự phòng nhưng tăng cường tính hợp tác giữa các nguồn lao động Nhu cầu bảo trì ngày một tăng và phải giảm thiểu chi phí đã tạo ra một dạng bảo trì khác, đó là
“Bảo trì từ bên thứ ba”: một cách sử dụng nguồn lực bên ngoài trong phạm vi bảo trì Khái niệm bảo trì từ bên thứ ba nghĩa là thay vì tự bảo trì, nhà sử dụng lao động có thể mời một doanh nghiệp thứ ba (không phải doanh nghiệp bán máy) tham dự vào hoạt động bảo trì Nhiều nhà máy, cơ quan, xí nghiệp đã quản lý bảo trì tốt nhờ vào một doanh nghiệp bảo trì thuộc bên thứ ba
Việc phối hợp với nguồn lực từ bên ngoài chuyên về bảo trì rõ ràng
có những ưu điểm song không phải lúc nào cũng tối ưu Trong nhiều trường hợp được dẫn chứng bằng những con số thống kê cụ thể, khi lạm dụng nguồn lực bên ngoài đã làm giảm hiệu suất bảo trì Điều này cũng
dễ hiểu, khi được bổ sung thêm một nguồn lực bên ngoài trong quá trình bảo trì, chắc chắn sẽ gây ra các phiền toái nhất định Đặc biệt chi phí thuê mướn nhân công lao động chuyên nghiệp như trên chắc chắn không rẻ Theo thống kê, hiện nay tại các nước tiên tiến người ta sử dụng từ
15 – 25 % dịch vụ bảo trì từ bên ngoài Đây chỉ là con số mang tính tham khảo Tùy vào từng doanh nghiệp cụ thể sẽ có tỷ lệ thuê mướn cho riêng mình Việc thuê mướn này, có thể căn cứ theo các tiêu chí sau:
- Doanh nghiệp có thể tìm kiếm được các bộ phận, doanh nghiệp chuyên làm dịch vụ bảo trì hay không? Ví dụ nhà máy được đặt trong khu chế xuất Tân Thuận – TP Hồ Chí Minh sẽ dễ dàng tìm kiếm được bên thứ ba hơn tại vùng sâu vùng xa khác… Tuy nhiên, khi thuê mướn cũng cần lưu ý tránh đưa cho doanh nghiệp bảo trì bên thứ ba những yếu
tố năng lực cốt lõi, vì về lâu dài dễ dẫn tới sự lệ thuộc vào họ và chi phí bảo trì sử dụng sẽ ngày một cao hơn
- Luôn đặt câu hỏi về tính cấp thiết phải dùng bảo trì bên thứ ba Cụ thể, nếu máy móc trong nhà máy khá đơn giản thì có thể thuê một đội ngũ bảo trì để hằng tháng trả lương trong mức độ chấp nhận được Nhưng nếu
có nhiều máy móc phức tạp thì liệu việc thuê nhân viên có trình độ cao rồi
để họ ngồi không, lâu lâu mới có một máy để sửa liệu có hợp lý?
Trang 27- Còn nhiều điều kiện khách quan lẫn chủ quan khác tác động đến
tỷ lệ thuê mướn bên thứ ba như văn hóa ứng xử, khối tư nhân hay nhà nước, công ty lớn/ nhỏ,…
Nói chung, trước khi đi đến quyết định cuối cùng trong thuê mướn dịch vụ bảo trì từ bên ngoài, người quản lý bảo trì phải hạch toán chi phí thật kỹ lưỡng, không nên cảm tính, duy ý chí!
1.3 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BẢO TRÌ THEO CHUẨN DIN 31051 (ĐỨC)
1.3.1 Thuật ngữ trong tiêu chuẩn DIN 31051
Bảo trì được mô tả bởi các biện pháp khác nhau:
Warnecke [Warnecke 1992, S.19f.] đã phân chia bảo dưỡng thành các hoạt động sau đây:
- Vệ sinh làm sạch máy móc: Loại bỏ các chất không cần thiết và chất lạ (bằng cách hút, lau chùi, dùng các chất trợ dung v.v.)
- Giữ gìn, bảo quản: Thực hiện các biện pháp bảo vệ tránh những ảnh hưởng từ bên ngoài nhằm mục đích giữ gìn tốt đối tượng được bảo trì
- Bôi trơn: Dẫn các chất bôi trơn vào những điểm bôi trơn và các điểm ma sát với mục đích giữ khả năng bôi trơn, giảm bào mòn Ở đây
có các thuật ngữ:
Trang 28+ Chất bôi trơn: chất trung gian ngăn ngừa ma sát và sự mài mòn + Điểm bôi trơn: vị trí, ở đó chất bôi trơn được châm vào
+ Điểm ma sát: vị trí, ở đó các lực ma sát có tác dụng
Theo nguyên tắc, các biện pháp với bôi trơn có thể là bổ sung, thay thế hoặc loại bỏ
+ Bổ sung: châm thêm chất bôi trơn
+ Thay thế: thay thế chất bôi trơn và các chi tiết nhỏ (các hoạt động trong khoảng thời gian ngắn với dụng cụ đơn giản hoặc đồ gá)
+ Loại bỏ: loại bỏ chất bôi trơn và các chi tiết nhỏ (các hoạt động trong khoảng thời gian ngắn với dụng cụ đơn giản hoặc đồ gá)
- Bảo dưỡng có thể diễn ra bởi quá trình quan sát tình trạng, phụ thuộc tình trạng hoặc phụ thuộc khoảng thời gian; liên tục hoặc không liên tục; thủ công hoặc bằng máy
Kiểm định
Kiểm định bao gồm tất cả các biện pháp để kiểm tra và đánh giá tình trạng thực (true value) của một hệ thống Kiểm định giữ nhiệm vụ theo dõi tất các bộ phận và khẳng định tình trạng thực (về mức độ sai lệch chuẩn) của chúng Thông thường kiểm định cũng làm nhiệm vụ giữ đúng độ an toàn Kết quả kiểm định thường lệ thuộc vào các điều kiện về môi trường, xí nghiệp khi đo kiểm,… Do đó, cần giữ ổn định các yếu tố tác động lên quá trình kiểm định, để có thể bảo đảm kết quả kiểm định khách quan
Các biện pháp kiểm định gồm: thủ công, hệ thống phân tích và quan sát là cơ sở cho bảo trì theo tình trạng
Theo Warnecke [Warnecke 1992, S 21.], có thể phân biệt các dạng kiểm định như sau:
- Xác định tình trạng thực của thiết bị kỹ thuật
- Đánh giá các thông tin về tình trạng thực: điều tra so sánh các sai lệch
Trang 29- Chất lượng hay số lượng
- Liên tục hay không liên tục
- Sử dụng phương tiện hay không có phương tiện
- Phụ thuộc vào khoảng thời gian máy không làm việc, điều kiện vận hành: Mặc dù bảo trì hiện đại có thể sửa máy trong khi máy đang hoạt động, tuy nhiên, nếu thiết bị có thời gian nghỉ (không hoạt động) thì nên tận dụng để không ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất
- Phụ thuộc vào tình trạng: thông qua kiểm định có thể xác định trạng thái thực của thiết bị nhằm sửa chữa những chi tiết gần hư hỏng
- Điều kiện hư hỏng: Khi gặp phải hư hỏng các biện pháp bảo trì được thực hiện, nhưng có thể lập kế hoạch sửa chữa theo điều kiện hư hỏng ở tầm vĩ mô
- Sửa chữa theo kế hoạch: có thể lập kế hoạch theo thời điểm, dạng
và quy mô để tiến hành sửa chữa Có thể lựa chọn kế hoạch sửa chữa dựa vào 2 tiêu chí sau: tuổi thọ thiết bị (theo kinh nghiệm hoặc thông số cung cấp từ người bán) và tình trạng/ tính chất của thiết bị để lên kế hoạch sửa chữa tránh hư hỏng
- Sửa chữa sự cố (chữa cháy) không theo kế hoạch: có những sự cố
mà người quản lý bảo trì không thể đoán trước được (ví dụ xe nổ bánh,…) Lúc này phải dùng sửa chữa dạng “chữa cháy” (cháy đâu chữa đó), không có kế hoạch
- Sửa chữa sự cố (chữa cháy) theo kế hoạch: mặc dù không thể biết trước thời điểm xảy ra sự cố nhưng có thể lường trước những sự cố và lên kế hoạch đối phó Ví dụ cũng gặp trường hợp xe nổ bánh như trên nhưng người lái xe có ngay một bánh xe sơ cua để thay thế nên thời gian
“nằm đường” sẽ rất ngắn
Trang 301.4 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BẢO TRÌ THEO CHUẨN CHÂU ÂU
1.4.1 Theo tiêu chuẩn Anh (BS 38112)
Như đã đề cập ở phần đầu, một vấn đề quan trọng còn gây tranh cãi trong tài liệu là khó có thể đưa ra được một thuật ngữ chung và bao trùm cho các hệ thống khác nhau, phương ngữ khác nhau Cụ thể là khi các tiền đề và các điều kiện đầu vào khác nhau sẽ có một vai trò không nhỏ dẫn tới sự khác biệt về định nghĩa bảo trì Ví dụ một kỹ sư cơ khí sẽ rất chú trọng đến hệ quy chiếu khi làm việc thì kỹ sư điện đa phần lại không quan tâm… Về cơ bản, cần phải chú ý dựa vào các khái niệm có tính phổ biến cao, không nên gượng ép, duy ý chí! Có thể xây dựng hệ thống thuật ngữ theo các bước:
- Đầu tiên, phải dựa vào một hệ thống định nghĩa rõ ràng hoặc quy ước chuẩn làm cơ sở
- Những thuật ngữ không phù hợp với định nghĩa, quy ước trên phải được loại bỏ
- Từ những định nghĩa và quy ước trên sẽ xây dựng tiếp hệ thống thuật ngữ
Vấn đề thuật ngữ đã được thừa nhận ngay trong phần đầu của tài liệu, thực tế khó lòng kiểm soát hoàn toàn được tính thống nhất của thuật ngữ giữa các hệ thống bảo trì Do vậy Corder [1976] đã mô tả:
Khi nghiên cứu các thuật ngữ trong bảo trì, người ta lưu ý tính đa dạng của các thuật ngữ mà chúng đã được định sẵn bởi các dạng khác nhau, nhưng hiếm khi chúng ta có được một định nghĩa rõ ràng, chuẩn xác Nhóm các thuật ngữ “Kế hoạch/ hoạch định (planned), lịch trình (scheduled), tiến trình (routine)”; hay “bảo trì (maintenance), bảo dưỡng (servicing), kiểm định (inspection)”,… thường được dùng tùy tiện để thể hiện cùng một chức năng nhưng đôi khi rất dễ nhầm lẫn Ví
dụ “Job planning schedule” dịch là “Lịch trình kế hoạch công việc”, nhưng trong lịch trình chắc chắn đã có kế hoạch rồi Do đó nên sử dụng phù hợp và nhất quán các thuật ngữ được thông qua trước đó, tránh dùng nhiều biệt ngữ ở cho các trường hợp tương tự nhau
Theo tiêu chuẩn Anh 38113, các hình thức bảo trì được trình bày trên hình 1.6: “Tương quan giữa các dạng khác nhau của bảo trì” Ta thấy
có 3 hình thức chính:
- Bảo trì phòng ngừa (Preventive Maintenance)
- Bảo trì hiệu chỉnh (Corrective Maintenance)
Trang 31- Bảo trì khẩn cấp (Emergency Maintenance)
Nhận thấy khái niệm có một chút khác biệt trong tiêu chuẩn này khi so sánh với tiêu chuẩn của Đức: Bảo trì phòng ngừa và bảo trì hiệu chỉnh có thể được đặt ngang tuyệt đối với bảo trì dự phòng và bảo trì hiệu chỉnh Định nghĩa bảo trì phụ thuộc vào tình trạng phổ biến ở nước Đức cũng đã được nhiều người quan tâm Bảo trì khẩn cấp (Emergency Maintenance) trong ngôn ngữ tiếng Đức được biết đến như là bảo trì cứu hỏa “Feuerwehr”, hoặc bảo trì “Minimax” hoặc bảo trì cấp cứu “Not” hoặc bảo trì hư hỏng
Hình 1.6: Tương quan giữa các dạng khác nhau của bảo trì
theo tiêu chuẩn châu Âu
Nguồn: “Quản lý bảo trì công nghiệp” của PGS TS Phạm Ngọc Tuấn
Từ hình thức cơ bản trên, các nhà quản lý bảo trì phát triển thành nhiều phương pháp bảo trì được trình bày trên hình 1.7 Trong hình 1.7, lưu ý mức độ cao nhất chính là chiến lược bảo trì, sau đó giảm dần đến các giải pháp, kỹ thuật, phương pháp,… Đây là những khái niệm rất dễ nhầm lẫn Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể hơn trong chương 2 (Chiến lược bảo trì) và chương 10 (Diễn tiến hư hỏng và trình tự bảo trì)
Trang 32Hình 1.7: Khái niệm bảo trì khai triển theo: chiến lược, giải pháp,
kỹ thuật, phương pháp thực hiện
Nguồn: “Quản lý bảo trì công nghiệp” của PGS TS Phạm Ngọc Tuấn
1.4.2 Thuật ngữ trong tiêu chuẩn châu Âu (EN 13306 và EN 13306)
Tiêu chuẩn EN 13306 định nghĩa các dạng bảo trì phổ biến là bảo trì:
- Ngăn ngừa hư hỏng/ Dự phòng (Preventive)
- Theo lịch trình (Scheduled)
Trang 33- Bảo trì bị trì hoãn (Deferred Maintenance)
- Bảo trì tự quản (Autonomous maintenance)
- Bảo trì được thực hiện không có sự tác động của con người
1.5 TRIỂN VỌNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO TRÌ THẾ GIỚI
Tầm quan trọng của bảo trì ngày một tăng trong những thập niên vừa qua Từ đó đã xuất hiện nhiều trung tâm dịch vụ bảo trì nhằm hạn chế chi phí phát sinh do hỏng hóc hoặc máy móc làm việc với hiệu suất thấp,… Nhiệm vụ chính của trung tâm dịch vụ này là:
- Tư vấn cho khách hàng trong và ngoài doanh nghiệp
- Thực hiện các biện pháp bảo trì cho doanh nghiệp của chính mình
và bên ngoài
- Tham dự vào các nhóm thiết kế và lập kế hoạch bảo trì cho thiết bị
- Thực hiện các hoạt động phân tích, kiểm soát và hoạt động bảo trì tổng hợp
- Tổ chức và thực hiện tư vấn và đào tạo về bảo trì
Chức năng của cơ quan bảo trì này tuỳ thuộc vào sự khác nhau của môi trường lao động sản xuất trong nhà máy, xí nghiệp Cụ thể nếu trung tâm đặt tại Việt Nam có thể khác với trung tâm đặt tại Nhật Nhưng dù ở đâu đi nữa chúng luôn chịu tác động từ các yêu cầu cao về: năng suất lao động được khai thác tối đa, chi phí nhân sự cao và bắt buộc dùng vật liệu
và năng lượng một cách tiết kiệm Những yêu cầu này ngày nay đã hình thành trong tất cả các lĩnh vực trong công nghiệp Nếu như trọng tâm của bảo trì xí nghiệp hiện nay là đạt mục tiêu sử dụng lâu dài cho các thiết bị (ít hỏng hóc), với nguyên liệu và năng lượng tiết kiệm nhất thì trong
Trang 34tương lai ngoài các tiêu chí trên, tiêu chí bảo vệ môi trường và đạt được khả năng giảm thiểu các chất độc hại sẽ được đặt lên hàng đầu
Bảo trì sẽ thay đổi trong tương lai bởi áp lực cao của bộ phận kinh doanh, bộ phận nhân sự trong và ngoài cơ quan cũng như sự giảm thiểu các nguồn dự trữ thay thế Điều này đòi hỏi ở người quản lý bảo trì những kiến thức về kinh nghiệm phân tích, phương pháp tổ chức (lập kế hoạch, kiểm soát, theo dõi) để thực hiện biện pháp bảo trì cũng như những kiến thức về phương án và phương pháp để cải tiến tổ chức cơ cấu cũng như tổ chức quá trình bảo trì Các hệ thống kỹ thuật mới về tự động hoá thiết bị cũng mở ra những con đường mới cho quan sát và phân tích thiết bị Việc trang bị cho nhân sự cùng bảo trì các phương tiện hỗ trợ hiện đại như hệ thống và thiết bị phân tích, dụng cụ chuyên biệt sẽ góp phần làm thay đổi hình ảnh về công tác bảo trì
Ngày nay, ở nước Đức hay ở châu Âu, nhiều dự án được mở với chủ đề: “Nhà máy được nhận diện như thế nào trong tương lai?” Các tác giả của các tham luận đã thuyết phục rằng một “Nhà máy của tương lai”
sẽ phụ thuộc nhiều vào một khối lượng lớn các kỹ thuật và tổ chức, thực hiện bảo trì có hiệu quả tối ưu
Kỹ thuật bảo trì được phát triển trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật giám sát tình trạng nhằm nâng cao hiệu năng của máy và công tác bảo trì bằng cách áp dụng các kỹ thuật phân tích và xử lý thông tin một cách thích hợp Các cơ cấu chấp hành, cảm biến thông minh, hệ thống điều khiển
có thể liên kết với nhau thông qua máy tính và phần mềm kỹ thuật để cung cấp thông tin kịp thời cho công tác bảo trì, giám sát và điều khiển hiệu quả các hệ thống sản xuất tiên tiến
Sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ thông tin cho phép thu thập và phân tích dữ liệu trong suốt quá trình sản xuất một cách hiệu quả Từ đó có thể áp dụng thành công nhiều kỹ thuật giám sát tình trạng mà trước đây còn mang tính lý thuyết Những kỹ thuật này mở ra khả năng thiết kế những hệ thống sản xuất tiên tiến, thông qua việc sử dụng “trí tuệ máy” nhằm đạt đến khái niệm lý tưởng về sản xuất không
có người
Việc nghiên cứu và áp dụng trí tuệ nhân tạo trong hệ thống sản xuất
sẽ làm giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ:
- Giảm thời gian chu kỳ và chi phí gia công bằng cách sử dụng điều khiển thích nghi thông minh để đạt được chế độ gia công tối ưu, tự động lắp đặt và điều chỉnh chi tiết, dụng cụ nhằm giảm tối thiểu các tác vụ và tối ưu hóa tuổi thọ dụng cụ trong quá trình gia công
Trang 35- Giảm số lượng phế phẩm và chi phí thông qua việc sử dụng điều khiển thích nghi thông minh để giám sát chất lượng sản phẩm, kiểm soát quá trình sản xuất, theo dõi máy và hệ thống, dung dịch làm nguội và dụng cụ cắt
- Giảm thời gian sản xuất và chi phí nhờ sử dụng điều khiển thích nghi thông minh để cải thiện hiệu suất, độ tin cậy, khả năng sẵn sàng của
hệ thống trong suốt quá trình sản xuất
Trong tương lai, kỹ thuật bảo trì sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nữa Xu thế mà bảo trì đang hướng đến chính là dần thay thế toàn bộ hoạt động của con người bằng máy móc Tuy nhiên, không thể thay toàn
bộ vì hệ thống luôn cần đến kỹ năng và kinh nghiệm của người làm công tác bảo trì Kỹ năng và kinh nghiệm này cần dựa trên các thông tin về tình trạng máy, hệ thống để có thể giải thích và ra quyết định chính xác trong công tác bảo trì
Các hệ thống tri thức hoặc hệ thống thông minh là một công nghệ được thiết kế và triển khai nhằm đạt được mục tiêu này Chúng cung cấp các công cụ và kỹ thuật để lưu trữ lại các kỹ năng và kinh nghiệm của các chuyên gia bảo trì trong một chương trình máy tính Chương trình máy tính này làm việc nhanh nhẹn suốt 24 giờ một ngày, làm giảm đáng
kể thời gian thử nghiệm, tìm kiếm giải pháp và giải phóng mọi người khỏi nhiều công việc mất nhiều thời gian
Những hệ thống thông minh lưu trữ tri thức của các kỹ sư có kinh nghiệm dưới dạng các quy tắc Những quy tắc này dựa trên các sự kiện thực tế đã xảy ra và đã được giải quyết Hệ thống thông minh có một số
ưu nhược điểm sau đây:
Ưu điểm:
- Hệ thống thông minh dùng các quy tắc – nạp sẵn trong trí tuệ nhân tạo để tự động đưa ra quyết định, vì vậy nó có thể thay thế các chuyên gia ra quyết định giống như chuyên gia người
- Hệ thống thông minh có khả năng giám sát tình trạng hệ thống một cách liên tục, đưa ra quyết định mang tính chuyên nghiệp Người chuyên gia thường hay giải quyết theo cảm tính và không thể giám sát hệ thống một cách liên tục Đặc biệt khi gặp sự cố nghiêm trọng, người chuyên gia có thể bị rối dẫn đến xử lý sai lầm còn chuyên gia máy (hệ thống thông minh) thì không
- Hệ thống thông minh có thể giải thích tại sao một giải pháp/ quyết định được đưa ra thông qua những quy tắc được nạp sẵn trong não máy
Trang 36- Để có thể xây dựng cơ sở tri thức cho hệ thống thông minh, các vấn đề, tình huống đều phải đã xảy ra rồi và được ghi nhận/ xử lý bởi các chuyên gia, sau đó mới nạp vào máy Do đó hệ thống thông minh vẫn giải quyết vấn đề mang tính thụ động
- Hệ thống thông minh thường không quan tâm đến tính kinh tế trong việc đưa ra quyết định Đặc biệt để máy tính hiểu được văn hoá của từng vùng miền, là điều không dễ dàng và đôi khi là không thể
Từ những ưu nhược trên, rõ ràng hệ thống thông minh chỉ thay thế được con người ở mức độ cơ bản Thực tế, dù hệ thống có thông minh đến đâu vẫn cần sự điều khiển của con người! Do đó, dù bảo trì ở thế hệ thứ tư có ứng dụng hệ thống thông minh nhiều đến đâu đi nữa vẫn rất cần những người có kiến thức về bảo trì để điều khiển chúng Rõ ràng, kiến thức về quản lý bảo trì vẫn còn rất quan trọng trong thế hệ thứ tư này
1.6 THỰC TRẠNG BẢO TRÌ TẠI VIỆT NAM
"Theo tiêu chí bảo dưỡng công nghiệp gồm năm cấp bậc phổ biến trên thế giới, thì Việt Nam đang chập chững ở bậc thứ hai và trình độ bảo dưỡng công nghiệp Việt Nam tụt hậu 40 đến 50 năm so với thế giới” Một chuyên gia (xin được dấu tên) trong lĩnh vực bảo dưỡng công nghiệp thuộc trung tâm Sản xuất Sạch Việt Nam (VNCPC) cho biết: “Nếu như những năm 60, các nước châu Âu đã vượt qua bảo dưỡng định kỳ và tiến đến bảo dưỡng dựa trên tình trạng của thiết bị thì hiện nay, Việt Nam chỉ đang dừng ở việc bảo dưỡng khi máy hỏng và bảo dưỡng theo định kỳ” Chuyên gia trên nói: “Đặc thù của bảo dưỡng ở Việt Nam là hình thức bảo dưỡng
cơ hội, nghĩa là khi máy hỏng ở một bộ phận, ngoài việc bảo dưỡng bộ phận bị hỏng, thì nhân lúc đó sẽ bảo dưỡng luôn những bộ phận còn lại”
Theo “vinamain.com”, cập nhật 22/2/2009
Trang 37Việt Nam là một nước mà nông nghiệp chiếm vị trí chủ lực trong nền sản xuất kinh tế quốc dân, nền công nghiệp chưa được phát triển, nông dân phần lớn chủ yếu sống dựa vào trồng trọt và chăn nuôi, do đó thiết bị công cụ máy móc phục vụ cho sản xuất còn rất hạn chế và bảo trì chưa phát triển Quản lý bảo trì cũng rơi vào tình trạng tương tự
Sau năm 1986, Việt Nam đã có những chính sách đổi mới, thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài Sức đầu tư nước ngoài không ngừng gia tăng, nông nghiệp đã được cơ giới hoá nhiều, nền công nghiệp đang trên
đà phát triển mạnh, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, đặc biệt các ngành như: công nghệ thông tin, điện tử, tự động hóa,
cơ khí,… đã phát triển rất mạnh Đời sống của người dân ngày một nâng cao, phương thức lao động đã thay đổi rất lớn Việt Nam đã có nhiều khu chế xuất lớn Đây cũng là nơi tiếp nhận các công nghệ tiên tiến của nhiều nước trên thế giới và cũng là nơi tập trung nhiều các loại máy móc và thiết bị sản xuất với nhiều chủng loại Phần lớn các thiết bị máy móc này được chế tạo và sản xuất ở nước ngoài và được đem đến Việt Nam để vận hành sản xuất Từ đó dẫn đến sự cần thiết các phương thức quản lý, bảo trì hiện đại Đặc biệt là mô hình hệ thống quản lý bảo trì thủ công dần được thay thế bằng hình thức quản lý bảo trì được máy tính hoá (CMMS – Computerized Maintenance Management System)
Mặc dù sự chênh lệch của khả năng bảo trì giữa Việt Nam và các nước tiên tiến đã được thu hẹp một cách đáng kể, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn khá xa Những khó khăn của nền bảo trì nước nhà gặp phải có thể dễ dàng thấy được như:
- Công nghệ sản xuất các thiết bị máy móc ở Việt Nam còn hạn chế, do nhiều yếu tố ảnh hưởng: đất nước ta còn nghèo, trình độ dân trí thấp, nông nghiệp chiếm đến đa số dân số quốc dân, quá trình chuyển hoá từ nông nghiệp sang công nghiệp đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mặt khác sự tụt hậu về kinh tế cùng với việc vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào trong sản xuất chưa nhiều khiến cho chúng ta có một khoảng cách rất lớn so với các nước tiên tiến
- Hầu hết các thiết bị máy móc, dụng cụ, phụ tùng đang sử dụng trong
nư nước nước đều phải nhập từ nước ngoài Chúng ta chủ yếu vận hành sử dụng thiết bị, do quá trình sử dụng không đúng phương pháp, nguyên tắc dẫn tới hư hỏng thiết bị Những lỗi này ở các nước tiên tiến ít gặp
- Công nhân đa phần từ tầng lớp nông dân nên tác phong công nghiệp chưa thể dễ dàng hình thành ngay được mà cần phải có thời gian! Đôi khi sự cố xảy ra từ thói quen thoải mái của công nhân đứng máy Văn
Trang 38hóa nông nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực thi các phương thức quản lý mới trong công nghiệp
- Ở các nước tiên tiến, bảo trì và sản xuất là hai mặt của một vấn
đề Đã sản xuất thì phải có bảo trì Hai mặt này tuy hai nhưng cũng là một: muốn sản xuất tốt phải bảo trì tốt và ngược lại Ở Việt Nam thì ngược lại: sản xuất mang về lợi nhuận còn bảo trì sẽ phát sinh chi phí Do
đó trong một thời gian dài bảo trì gần như bị quên lãng
- Sự chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng còn nhiều mới mẻ, gây không ít khó khăn cho các nhà quản trị doanh nghiệp
- Có một giai đoạn chúng ta nhập ồ ạt các thiết bị công nghiệp kể
cả thiết bị hư cũ Vì thế, các hướng dẫn sử dụng và bảo hành thiết bị khác nhau, gây nhiều khó khăn cho người quản lý cũng như kỹ thuật bảo trì
- …
Tuy nhiên, đi sau không phải lúc nào cũng là nhược điểm Nhờ đi sau chúng ta dễ dàng thấy được những khuyết điểm của người đi trước mắc phải, từ đó có thể né tránh và chọn hướng đi tắt, phù hợp với tình hình Việt Nam Theo đà phát triển của đất nước, chúng ta ngày càng sử dụng nhiều trang thiết bị hiện đại, đa chủng loại, do đó, yêu cầu về nhu cầu về bảo trì là rất lớn Chắc chắn Việt Nam sẽ phát triển mạnh về quản
lý cũng như kỹ thuật bảo trì trong những năm tới đây
Trang 40CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Nêu sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý? Cho ví dụ minh họa
2 Sự khác nhau về định nghĩa bảo trì giữa Anh/ Mỹ và Đức có ảnh hưởng gì đến quá trình bảo trì? Lý giải nhận định của anh/ chị
3 Trong các hình thức bảo trì đã nêu có hình thức nào tốt nhất không? Cho ví dụ minh họa
4 Trong bảo trì có kế hoạch có bảo trì theo sự cố (khẩn cấp) không? Nêu
b Bôi mỡ bò vào dây sên (chain) xe gắn máy 2 bánh
c Kiểm tra áp lực vỏ, ruột xe
d Thay đệm (ron) cao su sau khi kiểm tra
e Rửa và lau chùi xe 2 bánh
f Lắng nghe tiếng động cơ của máy tiện hằng ngày
g Đo dòng điện, điện áp của động cơ hằng ngày
h Làm sạch lọc gió xe 2 bánh
i Thay thế bố thắng xe 2 bánh
j Sơn lại chống xe
k Làm vệ sinh nhà xưởng sau mỗi ca thực tập
l Thay thế đèn xe 2 bánh đã bị đứt tim