1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BAO CAO GIẢI PHÁP THI GIÁO VIÊN GIỎI TỈNH MÔN NGỮ VĂN

23 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo giải pháp thi giáo viên giỏi tỉnh môn ngữ văn
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 57,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Lí do chọn biện pháp Dạy học dựa trên phát triển năng lực đã trở thành một chủ đề nóng trong giáo dục ngày nay Nó ngày càng trở nên nóng hơn khi chính phủ đang nỗ lực tìm kiếm giải pháp trong cải cá.

Trang 1

1 Lí do chọn biện pháp

Dạy học dựa trên phát triển năng lực đã trở thành một chủ đề nóng tronggiáo dục ngày nay Nó ngày càng trở nên nóng hơn khi chính phủ đang nỗ lựctìm kiếm giải pháp trong cải cách giáo dục và đo lường chính xác hơn kết quảhọc tập của học sinh

Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

là lấy học sinh làm trung tâm, mục đích của giờ học không chỉ là cung cấp kiếnthức mà còn là phát huy năng lực học sinh, giúp học sinh phát huy hết khả năngcủa mình, chủ động lĩnh hội kiến thức

Đứng trước các yêu cầu của đổi mới giáo dục, các môn học nói chung vàmôn Ngữ văn nói riêng cũng rất cần những thay đổi về phương pháp dạy học.Bởi đây là môn học công cụ và có tính thẩm mĩ - nhân văn, giúp học sinh cóphương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáodục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dụchọc sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; pháttriển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái,

vị tha, Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinhđộng trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, mônNgữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triểnnhững phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệuquả, để học suốt đời

1.1 Thực trạng

Đọc hiểu văn bản là một trong ba phân môn của môn Ngữ Văn Ở chươngtrình lớp 9, số lượng các văn bản nhiều và hầu hết đều có dung lượng lớn Tuynhiên qua việc dự giờ một số đồng nghiệp tôi nhận thấy việc dạy học các vănbản này tại đơn vị chưa phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của HS Điều

đó thể hiện ở những tồn tại sau:

Thứ nhất, lối dạy truyền thụ một chiều có giảm nhưng vẫn còn Nhìn chung vẫn

là chú trọng dạy kiến thức hơn là hình thành năng lực

Thứ hai, việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang tính hình thức Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn

dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại chưathực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ,mọi cá nhân chưa được tự do bày tỏ quan điểm

Thứ ba, việc tích hợp nội môn và liên môn chưa được chú trọng Hầu hết giáo

viên đều dạy bài nào biết bài nấy, ít chú ý đến những vấn đề khác có liên quan

đến bài học (như học sinh đã biết cái gì ?, đã làm được cái gì ?)

Học sinh trường chúng tôi chủ yếu là con em đồng bào các dân tộc thiểu

Trang 2

số như Thái, Đan Lai Các em còn gặp phải một số khó khăn trong học tập Đólà: Kĩ năng trình bày, thuyết trình trước đám đông của các em còn hạn chế dobản tính nhút nhát và vốn ngôn ngữ tiếng Việt chưa phong phú Các em còn gặptrở ngại khá lớn đó là “rào chắn” về từ ngữ Vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ haisau tiếng mẹ đẻ nên việc hiểu hết nghĩa từ ngữ vốn đã là một điều cần nhiều thờigian Các em còn chưa hiểu một cách thấu đáo nghĩa từ ngữ trong tác phẩm thìlàm sao có thể hiểu thấu đáo nội dung của nó? Một số em do ảnh hưởng cáchphát âm tiếng mẹ đẻ nên phát âm tiếng Việt còn chưa chuẩn Và vì nói sai nêndẫn đến các em viết cũng sai chính tả, dùng từ chưa chính xác Khi tìm hiểu vănbản, các em còn thể hiện những cách hiểu “ngây ngô” về từ ngữ Chẳng hạn, với

văn bản “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, có học sinh đã giải thích cụm từ "mây sớm

đèn khuya" như sau: "mây sớm đèn khuya" có nghĩa là Thúy Kiều rất đau khổ

cho nên không biết gì đến những việc bên ngoài, đến nỗi trời đã khuya hay trời

đã sáng mà Kiều vẫn không hề để ý" Giờ dạy của giáo viên trên lớp cũng đã

bộc lộ điều này: hầu hết giáo viên dạy theo lối áp đặt kiến thức và học sinh

buộc phải ghi nhớ những đơn vị kiến thức cần thiết để có điểm khi kiểm tra.Cách học áp đặt và máy móc này làm các em mau chóng quên đi những kiếnthức mà lẽ ra sẽ trở thành thứ của cải quý giá làm giàu cho bản thân khi bướcvào đời

1.2 Nguyên nhân

* Về phía với giáo viên:

Thứ nhất, lý luận về phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo địnhhướng phát triển năng lực chưa được nghiên cứu và vận dụng một cách có hệthống; còn tình trạng vận dụng lí luận một cách chắp vá nên chưa tạo ra sự đồng

bộ, hiệu quả Điều này thể hiện rõ nhất ở việc hình thức tổ chức hoạt động dạyhọc còn mang tính hình thức, thường chỉ được sử dụng nhiều trong các giờ thaogiảng

Thứ hai, một số giáo viên còn có tâm lí ngại đổi mới Năng lực về vậndụng các phương pháp dạy học tích cực, kĩ thuật dạy học, sử dụng thiết bị dạyhọc, ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong dạy học của một số giáoviên có lúc còn hạn chế

Thứ ba, nghiệp vụ sư phạm cũng như kỹ năng xử lí các tình huống sưphạm ở một số giáo viên còn hạn chế

Thứ tư, việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiếnthức, học sinh học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức Nhiềugiáo viên chưa vận dụng đúng quy trình biên soạn đề kiểm tra nên các bài kiểmtra còn nặng tính chủ quan của người dạy

* Về phía học sinh:

Một bộ phận không nhỏ học sinh chưa xác định rõ mục tiêu học tập, chưa

Trang 3

chủ động, chưa tích cực trong việc chiếm lĩnh kiến thức cũng như rèn luyện các

kĩ năng

Nhiều học sinh thụ động trong việc học tập; khả năng sáng tạo và nănglực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sốngcòn hạn chế

Ngoài ra, đối với trường chúng tôi thì khó khăn về cơ sở vật chất cũngphần nào ảnh hưởng đến thực trạng dạy và học: chưa có trường mới, đang phảimượn tạm cơ sở nên phòng học chưa đáp ứng yêu cầu, thư viện phục vụ việcđọc và tìm tài liệu chưa hoàn thiện, phòng thiết bị còn thiếu…

1.3 Yêu cầu cần giải quyết

Thực trạng này đặt ra vấn đề là làm thế nào để các tiết dạy học văn bảnsinh động, hấp dẫn, học sinh thực sự có hứng thú và tích cực trong học tập Làmthế nào để đưa các em từ chỗ thụ động tiếp nhận đến chỗ chủ động tham gia cáchoạt động học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành, phát triển các năng lực cầnthiết

Từ đó, chúng tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra giải pháp đểhọc sinh thực sự yêu thích, hứng thú, tích cực, chủ động học môn Ngữ văn nóichung và tiết học văn bản nói riêng ở lớp 9 tại đơn vị mình là một nhiệm vụ hết

sức quan trọng Đó là những lí do để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tiết dạy văn bản trong chương trình Ngữ văn 9 theo định hướng phát triển năng lực học sinh” với mong muốn được góp phần

nhỏ bé vào quá trình đổi mới dạy học ở trường Trung học cơ sở hiện nay

2 Mục đích, yêu cầu của biện pháp

Góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả học văn cho HS, để từ đó hìnhthành cho học sinh những năng lực cần thiết bao gồm các năng lực chung như:Năng lực tự học, Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực sáng tạo, Năng lực giaotiếp, Năng lực hợp tác và các năng lực chuyên biệt như Năng lực đọc hiểu vănbản, Năng lực ngôn ngữ, Năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ

Giúp giáo viên tìm ra được những biện pháp tối ưu nhất để nâng cao hiệu quả tiếtdạy văn bản theo định hướng phát triển năng lực HS đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDHVăn hiện nay

Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ Văn tại đơn vị

3 Nội dung, cách thức thực hiện biện pháp

3.1 Đối tượng và thời gian thực hiện

Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 9 trường PT Dân tộc Nội trú THCSCon Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Các biện pháp được áp dụng trong các năm học 2018 – 2019, 2019 – 2020 và

Trang 4

tiếp tục áp dụng trong năm học này.

3.2 Các phương pháp thực hiện

3.2.1 Sử dụng phương pháp trực quan (video, tranh ảnh).

Việc dạy học trong thời đại 4.0 có một lợi thế lớn là việc ứng dụng côngnghệ thông tin hiện đại vào giờ dạy góp phần nâng cao hiệu quả học tập Nhất làvới các tiết dạy văn bản Tuy nhiên ứng dụng công nghệ thông tin ở đơn vị kiếnthức nào cho hợp lí, bao nhiêu cho phù hợp và tổ chức ra sao để đạt hiệu quả caonhất, tránh ôm đồm hay lạm dụng CNTT thì không phải GV nào cũng làm tốt.Chương trình Ngữ văn 9 có rất nhiếu tác phẩm văn học mà giáo viên có thể sửdụng video clip, tranh ảnh trong quá trình dạy học Việc sử dụng clip, tranh ảnh

có thể thực hiện trong một số phần sau:

* Sử dụng video và tranh ảnh khi tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm:

Trong chương trình Ngữ văn 9, HS được học nhiều tác giả, tác phẩm nổitiếng của Văn học Việt Nam và nước ngoài Thông tin về tác giả, tác phẩm trongsách giáo khoa chưa thật phong phú, vì thế giáo viên có thể sử dụng video, tranhảnh từ internet để mở rộng thêm thông tin về tác giả, tác phẩm một cách trựcquan, sinh động, hứng thú nhất Ngoài ra, giáo viên có thể gợi ý đường link củavideo từ tiết học trước để HS tìm hiểu khi soạn bài Một số tiết học, GV có thểthay đổi hình thức khai thác, yêu cầu HS tự tìm video từ đường link gợi ý, cắtvideo cho phù hợp với thời gian học tập trên lớp và báo cáo sau khi đã tự tìmhiểu ở nhà

Ví dụ minh họa việc sử dụng video giới thiệu về hoàn cảnh ra đời tác phẩm: Tiết 49: Văn bản:

BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

(Phạm Tiến Duật)

Hoạt động hình thành kiến thức:

Hoạt động 1: Đọc, tìm hiểu chung

* PP : gợi mở – vấn đáp, trực quan, dùng lời có

nghệ thuật

* Kĩ thuật : Đặt câu hỏi mở, động não

* Năng lực: giải quyết vấn đề, năng lực tự học,

năng lực hợp tác, giao tiếp

*Phẩm chất: chăm chỉ, yêu quê hương đất nước,

sống có trách nhiệm

? Giới thiệu những nét chính về tác giả?

I Đọc, tìm hiểu chung

1 Tác giả: (SGK)

Trang 5

? Bài thơ được viết vào năm nào và được in

trong tập thơ nào?

- GV chiếu clip về tuyến đường Trường Sơn

? Bài thơ cần nên đọc với giọng điệu ntn ?

- Giọng vui tươi, khoẻ khoắn

- GV hướng dẫn đọc, đọc mẫu

- Gọi HS đọc, nhận xét

? Giải thích chú thích: 1

? Bài thơ thuộc thể thơ gì?

? Xác định phương thức biểu đạt của văn bản?

- Bài thơ được viết trong thời

d Phương thức biểu đạt:Biểu cảm, miêu tả

e Hình tượng:

+ Những chiếc xe khôngkính

+ Những người lính lái xe

* Sử dụng video, tranh ảnh để minh họa:

Khi cần minh họa cho một đơn vị kiến thức nào đó trong bài học, sau khi

tổ chức cho học sinh khai thác xong đơn vị kiến thức đó, giáo viên sử dụngvideo clip và tranh ảnh để minh họa

Trang 6

trang phục, bữa ăn và tư trang của Bác?

- Câu 2: Nghệ thuật được tác giả sử dụng qua các

chi tiết trên?

- Câu 3: Em hiểu gì về lối sống của Bác?

-> Nơi ở, làm việc đơn sơ

- Trang phục: quần áo bà ba nâu, áo trấn thủ, đôi dép lốp -> Trang phục giản dị

- Ăn uống: cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa -> dân dã, không cầu kỳ

- Tư trang: ít ỏi, một chiếc

va ly con, vài bộ quần áo.+ Dẫn chứng tiêu biểu, bình luận xen chứng minh

-> Lối sống giản dị, thanh đạm, trong sáng

* Sử dụng video, tranh ảnh trong hoạt động khởi động và hoạt động hình thành kiến thức:

- Trong hoạt động khởi động:

Việc sử dụng video, tranh ảnh trong hoạt động khởi động ngoài việc đặtvấn đề về chủ đề của bài học mới, giáo viên còn thông qua kênh thông tin trựcquan để tạo hứng thú cho HS, giúp các em có niềm ham thích với bài học mới

Do thời gian của hoạt động khởi động không nhiều, nếu sử dụng video,giáo viên nên chọn lọc video có thời lượng phù hợp, nội dung cô đọng, nói đúngvào vấn đề, tránh sử dụng những video quá dài Việc chọn lựa các video, tranhảnh nên sử dụng những tư liệu có nguồn gốc rõ ràng, chính thống

- Trong hoạt động hình thành kiến thức:

Hoạt động này có nhiều đơn vị kiến thức trong bài, vì thế giáo viên cầnchọn lựa đơn vị kiến thức phù hợp để sử dụng video, tranh ảnh

Tránh lạm dụng việc sử dụng video, tranh ảnh trong giờ dạy một cách quámức, vụn vặt vì điều này vừa mất thời gian, đồng thời còn làm cho giờ học vănbản bị đứt mạch

Trang 7

Khi sử dụng video clip trong hoạt động này, giáo viên cần đặt câu hỏi, giaonhiệm vụ cụ thể và sau khi xem xong video, hình ảnh yêu cầu học sinh thực hiệnnhiệm vụ

Ví dụ minh họa:

Tiết 146 – Văn bản: NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI ( Lê Minh Khuê)

* Hoạt động khởi động

- Giáo viên giao nhiệm vụ :

? Em thấy tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mĩ như thế nào?

? Nhận xét về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc?

- Giáo viên cung cấp đoạn phim tư liệu về tuyến đường Trường Sơn trong nhữngnăm chống Mĩ và yêu cầu HS xem đoạn phim tư liệu, thực hiện nhiệm vụ trên

- Học sinh xem video và trả lời câu hỏi

Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy việc sử dụng các video clip hoặctranh ảnh ở hoạt động khởi động hoặc hoạt động hình thành kiến thức đã thực sựtạo hứng thú và tâm thế rất tốt cho học sinh khi bước vào bài học mới cũng nhưnắm bắt bài học hiệu quả hơn Nếu sử dụng khi khai thác kiến thức hoặc minhhọa cho lời giảng của giáo viên thì học sinh rất tích cực hoạt động, say mê lắngnghe và hiểu sâu sắc hơn về nội dung bài học

3.2.2 Sử dụng phương pháp trò chơi:

Trong PPDH tích cực, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trò chơi để hoạt động học tập đạt hiệu quả cao

Có rất nhiều trò chơi giáo viên có thể sử dụng trong tiết dạy văn bản như: Ai

nhanh hơn, Hoa điểm mười, Hộp quà bí mật, Lật mảnh ghép…

* Trong hoạt động khởi động

Ví dụ minh họa trò chơi “Ai nhanh hơn”:

Tiết 119: Văn bản: VIẾNG LĂNG BÁC ( Viễn Phương)

* Hoạt động khởi động:

- Giáo viên phổ biến luật chơi:

+ Chia lớp thành ba đội và yêu cầu các đội thực hiện nhiệm vụ trong khoảng thời gian 3 phút

+ Đội nào tìm được các đáp án nhanh hơn và chính xác thì đội đó giành chiến thắng

Trang 8

- Giáo viên dẫn vào bài.

* Trong hoạt động hình thành kiến thức:

- Phần tìm hiểu về tác giả và tác phẩm

Ví dụ minh họa trò chơi “Lật mảnh ghép”:

Tiết 46: Văn bản - ĐỒNG CHÍ (Chính Hữu)

Trang 9

góc của bức tranh và sẽ có gợi ý cho

từng miếng ghép một

+ Mỗi học sinh được quyền lựa chọn

mảnh ghép bất kì và trả lời câu hỏi

+ Nếu HS trả lời đúng câu hỏi thì một

góc tranh sẽ được mở ra

+ Nếu HS trả lời không đúng thì GV

Câu 3: Bài thơ được viết vào năm nào,

in trong tập thơ nào?

Câu 4: Bài thơ được viết theo thể thơ

gì?

Câu 5: Xác định phương thức biểu đạt

của bài thơ?

Câu 6: Bố cục bài thơ có thể được chia

làm mấy phần? Nêu giới hạn và nội

b Tác phẩm:

* Hoàn cảnh ra đời và xuất xứ

- Bài thơ được viết vào năm 1948, in trong tập “ Đầu súng trăng treo”

* Thể thơ tự do

*PTBĐ: Biểu cảm, miêu tả, tự sự

* Bố cục :+ 7 câu đầu: Cơ sở của tình đồng chí.+ 10 câu tiếp: Những biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí

+ 3 câu cuối: Bức tranh đẹp về người lính

- Trong hoạt động luyện tập:

Phần luyện tập của các tiết văn bản thường có thời lượng khoảng 5 – 7 phút, vì thế khi áp dụng phương pháp trò chơi, giáo viên cũng nên ưu tiên một số trò chơi nhanh, đơn giản, sôi động nhằm củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức toàn bài một cách tối đa nhất Một số trò chơi khá phù hợp với hoạt động này như: Hoa điểm mười, Chiếc nón kì diệu, Ai nhanh hơn, …

Ví dụ minh họa trò chơi “Hoa điểm mười”:

Tiết 124: Văn bản - SANG THU ( Hữu Thỉnh )

- Giáo viên chia lớp thành 3 đội chơi III Tổng kết

Trang 10

- Giáo viên phổ biến luật chơi:

+ Trên hình chiếu có 6 bông hoa với

các màu sắc khác nhau Mỗi bông hoa

là một câu hỏi về nội dung hoặc nghệ

thuật của bài

+ Các đội lựa chọn bông hoa để trả lời

+ Đội nào trả lời chính xác thì được 10

điểm Đội nào trả lời không chính xác

thì các đội khác được giành quyền trả

lời

+ Đội nào trả lời được nhiều điểm hơn

thì đội đó giành chiến thắng

- HS tham gia trò chơi

3.3.3 Sử dụng phương pháp dùng lời bình nghệ thuật kết hợp thơ hoặc câu chuyện liên quan đến tác phẩm.

3.3.3.1 Sử dụng lời bình nghệ thuật:

Phương pháp dùng lời có nghệ thuật (còn gọi là phương pháp diễn giảng,bình giảng) là cách dạy học truyền thống theo mô hình truyền thông tin mộtchiều, được sử dụng trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương hay cung cấpkiến thức mới; còn học sinh chủ yếu thụ động nghe, ghi chép, tái hiện và ghinhớ nội dung bài học Trong đổi mới phương pháp dạy học môn văn, giáo viênvẫn cần sử dụng phương pháp này Tuy nhiên ta có thể sử dụng phương phápnày theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh như sau:

* Các bước thực hiện:

+ Bước 1 – đặt vấn đề:

Mục đích của việc này là nhằm thu hút sự chú ý của học sinh và tạo tâm thếhọc tập, thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, đồng thời giớithiệu mục tiêu của bài học Cách đặt vấn đề có thể dựa vào kiến thức, vốn sống,kinh nghiệm đã có của học sinh

+ Bước 2 – giải quyết vấn đề:

Giải quyết theo từng nội dung trong bài

Học sinh tích cực hoạt động để giải quyết vấn đề mà giáo viên đặt ra Họcsinh giải quyết vấn đề dựa trên kiến thức, kinh nghiệm, vốn sống, cảm nhận củamình Mặt khác học sinh có thể đánh giá, nhận xét, bổ sung thêm cho câu trả lời

Trang 11

của bạn.

+ Bước 3 – kết luận:

Sau phần trả lời, cảm nhận của học sinh, giáo viên tiến hành bình giảng đểkhắc sâu kiến thức Như vậy trước khi tiến hành giảng giải - bình giảng, giáoviên đã đưa ra vấn đề để học sinh trả lời, cảm nhận, nhận xét, bổ sung…Sau đógiáo viên mới tiến hành giảng giải - bình giảng trên cơ sở mở rộng kiến thức vàkhắc sâu kiến thức cho học Học sinh sẽ rất hứng thú tiếp nhận bởi vì trong nộidung giảng giải - bình giảng của giáo viên vừa có kiến thức mà mình đã pháthiện ra vừa có thêm phần kiến thức mở rộng Điều này rất khác so với phươngpháp dạy truyền thống theo kiểu truyền thông tin một chiều, nhồi nhét kiến thứcvào đầu học sinh: Thầy nói – trò nghe, thầy đọc – trò chép

* Một số lưu ý:

+ Ngôn từ mà giáo viên sử dụng cần giàu hình ảnh, trong sáng

+ Lời bình của giáo viên cần giàu cảm xúc Lời bình của giáo viên biết dừngđúng lúc với thời gian hợp lí

+ Nội dung bài bình phải sâu sắc, lôgic

+ Tư thế, tác phong và cách diễn đạt của giáo viên phải hấp dẫn, lôi cuốn họcsinh

* Những nội dung trong bài học có thể áp dụng:

- Giới thiệu bài: Phần nội dung giới thiệu của giáo viên hay, ấn tượng, giàu cảmxúc sẽ luôi cuốn được sự chú ý của học sinh Không những thế nó còn tạo chocác em hứng thú, tâm thế để học nội dung bài mới

Ví dụ minh họa:

Khi dạy bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh, giáo viên có thể sử dụng PP

dùng lời có nghệ thuật ở phần giới thiệu bài mới như sau:

Mùa thu là cảm hứng bất tận, là đề tài quen thuộc trong thi ca Nhắc đến thơ thu, người đọc có lẽ sẽ không thể quên chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến,

“Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư hay “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu Và với những tín hiệu rất đẹp, nhà thơ Hữu Thỉnh đã mang đến một sắc màu riêng cho thơ thu qua tác phẩm “Sang thu”

- Giới thiệu tranh ảnh: Khi dạy văn bản có nhiều hình ảnh liên quan đến nộidung bài học, giáo viên cần sử dụng phương pháp dùng lời có nghệ thuật để giớithiệu những nội dung đó

Ví dụ minh họa: Văn bản “Đồng chí” trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 – tập 1

có bức ảnh về những người lính cùng nhau làm nhiệm vụ

Giáo viên có thể sử dụng phương pháp dùng lời có nghệ thuật như sau: Bức

tranh khắc họa hình ảnh những người lính cùng nhau “chờ giặc tới” giữa rừng

Ngày đăng: 22/11/2022, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w