Thái Sơn khắc thạch - Chữ Tiểu triện là kết quả của phong trào chuẩn hoá chữ Hán lần thứ nhất trong lịch sử Trung Quốc, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của chữ H
Trang 4Những thành tựu chính của Trung Quốc
1 Chữ viết :
* Ban đầu, người Trung Quốc dùng phương
pháp truyền miệng Sau đó đến thời Hoàng Đế
đã biết dùng cách thắt nút dây thừng để ghi
nhớ sự việc.
* Chữ giáp cốt
- Là loại chữ đầu tiên của Trung Quốc, xuất hiện
vào thời nhà Thương Chữ này được khắc
trên mai rùa hoặc xương thú.
- Đặc điểm của chữ này là :
+ Đường nét nhỏ và dài, nét gập ngay ngắn
+ Kết cấu không thống nhất, to nhỏ khác nhau.
+ Cách viết linh hoạt, chữ dị thể nhiều
- Sau này, do yêu cầu ghi chép các động tác và
khái niệm, trên cơ sở chữ tượng hình đã phát
triển thành chữ biểu ý và hài thanh
Trang 5Chữ giáp cốt xuất hiện được phát minh cách đây khoảng 3000 năm
Trang 6Bảng mã chữ giáp cốt với chữ Trung Quốc hiện đại
Trang 7* Kim văn
- Đến thời Tây Chu, số lượng chữ
ngày càng nhiều Điều đó đòi hỏi
người Trung Quốc phải sáng tạo ra
loại chữ mới đơn giản hơn
- Chữ viết tiêu biểu thời kỳ này là
kim văn hay còn gọi là chung đỉnh
văn
-Kim văn từ đời Thương đã có
nhưng còn ít Đến thời Tây Chu, nhà vua thường đem ruộng đất và người lao động ra ban thưởng cho các quý tộc Mỗi lần như vậy, vua Chu
thường ra lệnh đúc đỉnh đồng và ghi
sự việc ấy lên đỉnh để làm kỉ niệm,
do đó kim văn thời kỳ này rất phát
triển Ngoài ra chữ viết thời kỳ này
còn được viết trên trống đá và thẻ
tre
Trang 8* Kim văn (tt)
-Đặc điểm của chữ viết thời kỳ này :
+ Đường nét to rộng, nét gập hơi tròn
+ Kết cấu khá thống nhất, kích cỡ đồng đều
+ Đường nét hoá, ký hiệu hoá nhiều hơn tính tượng hình
+ Chữ hình thanh xuất hiện nhiều, nhưng chữ dị thể vẫn còn khá lớn
Bảng
so sánh chữ
Kim văn và
chữ Trung Quốc ngày nay
Trang 9* Chữ Đại Triện
- Được xem là tên gọi chung của các chữ viết cổ của Trung Quốc
- Đồng thời cũng có thể được xem là loại văn tự thời Xuân Thu Chiến Quốc cho đến nước Tần Còn được gọi là Trứu văn Kiểu chữ Đại triện tiêu biểu là kiểu chữ được khắc trên "thạch cổ" (đá hình chiếc trống) vào năm 770 TCN (năm thứ 8 đời Tần Tương Công) , được gọi là "Thạch cổ văn"
Trang 10•Chữ Tiểu triện :
- Đến thời Tần, Lý Tư đã dựa vào chữ nước Tần kết hợp với các thứ chữ
khác , cải tiến cách viết tạo thành loại chữ thống nhất là chữ tiểu triện.
- Thịnh hành sau khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất sáu nước (Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy), tiêu biểu là thể chữ được khắc trên núi Thái Sơn, gọi là
"Thái Sơn khắc thạch"
Thái Sơn khắc thạch
- Chữ Tiểu triện là kết quả của
phong trào chuẩn hoá chữ Hán lần
thứ nhất trong lịch sử Trung Quốc,
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong
quá trình phát triển của chữ Hán,
khiến chữ Hán từ giai đoạn văn tự
biểu hình chuyển sang giai đoạn
văn tự biểu ý
- Đặc điểm của thể chữ này là:
+Giảm bớt tính đồ hoạ, hướng đến
ký hiệu hoá văn tự
+ Xoá bỏ một loạt chữ dị thể
Trang 11+ Thoát ra khỏi tính tượng hình, nghiêng về ký hiệu hoá.
+ Tăng cường giản hoá nét bút
Trong quá trình phát triển chữ Hán, chữ Lệ có ý nghĩa vạch thời đại, là ranh giới của cổ kim văn tự
Trang 13• Ảnh hưởng của chữ viết Trung Quốc đến các
nước khác trên thế giới
Chữ viết Trung Quốc không chỉ tác động lớn đến sự hình thành và phát triển của nền văn minh Trung Quốc mà còn có những ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành chữ viết của các nước lân cận như : Việt Nam, Triều Tiên, Nhật
Bản…
* Ở bán đảo Triều Tiên :
Hán ngữ được du nhập vào bán đảo Triều Tiên khoảng thời kỳ đồ sắt
Đến thế kỷ thứ 4 trước công nguyên xuất hiện các văn bản viết tay của
người Triều Tiên, đồng thời các học giả người Triều Tiên đã tìm cách cải biến chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Triều Tiên
Vào khoảng thế kỷ XV, ở Triều Tiên xuất hiện chữ ký âm, được gọi là
Hangul ( 한한 ) hay Chosŏn'gŭl ( 한한한 ), chữ này trải qua nhiều thế kỷ phát triển thăng trầm, cuối cùng chính thức được dùng thay thế cho chữ Hán cho tới
ngày nay
Trang 14
* Ở Nhật Bản
Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên Chữ Hán
ở Nhật được gọi là Kanji vào khoảng thế kỷ IV, V TCN.
Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật, người Nhật dùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ Dạng chữ đầu tiên
người Nhật sáng tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ Man-yogana Hệ thống chữ viết này dựa trên chữ Hán và khá phức tạp Man-yogana được đơn giản hóa thành Hiragana và Katanaka Cả hai loại chữ này trải qua nhiều
lần chỉnh lý và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay ở Nhật
Trang 15* Ở Việt Nam
Trong suốt thời gian Bắc thuộc, với chính sách Hán hóa của nhà Hán, tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam và người Việt Nam đã chấp nhận ngôn ngữ mới đó song song với tiếng Việt, tiếng nói truyền miệng Tuy người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán nhưng cũng
đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành từ Hán Việt Từ đó đã có rất nhiều từ Hán-Việt đi vào trong từ vựng của tiếng Việt Sự phát triển của tiếng Hán ở Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó
Sau này, khi giành được độc lập, tuy không bị lệ thuộc nhưng vẫn bị ảnh hưởng nặng nề về chữ viết Tiếng Hán vẫn tiếp tục được dùng và phát triển nhưng cách phát âm các chữ Hán lại theo cách phát âm của người Việt, hay âm Hán Việt
Trang 172 Văn học :
Minh - Thanh
Thành tựu của văn học Trung Quốc
Văn học Trung Quốc thời kỳ này hết sức phát triển với nhiều thể loại như thơ,
từ, phú, kịch, tiểu thuyết,…
Trang 18khoảng thời gian 500 năm từ đầu
thời Tây Chu đến giữa thời Xuân
Thu.
Trên cơ sở những bài thơ sưu tầm tập hợp lại thành tác phẩm gọi là Thi, Khổng tử đã biên soạn chỉnh lý một lần nữa Đến thời Hán, Nho giáo được đề cao, Thi được gọi
là Kinh thi.
Trang 19a Kinh thi (tt)
Kinh Thi gồm 305 bài, chia làm 3 phần là Phong, Nhã, Tụng
Phong là dân ca của các nước tên gọi là Quốc Phong
Nhã gồm có 2 phần gọi là Tiểu Nhã và Đại Nhã
Tụng bao gồm Chu Tụng, Lỗ Tụng và Thương Tụng là những bài thơ do các quan phụ trách tế lễ và bói toán sáng tác dùng để hát khi cúng tế
Trong các phần đó, Quốc Phong có giá trị tư tưởng và nghệ
thuật cao nhất Bằng lời thơ gọn gàng, thanh thoát, mộc mạc nhưng đầy hình tượng các tác phầm này đã nói lên sự áp bức bóc lột và cảnh giầu sang của giai cấp thống trị và nỗi khổ cực của nhân dân
Ví dụ như trong bài Chặt gỗ đàn:
Trang 20b Thơ Đường
Thời Đường là thời kỳ huy hoàng nhất của thơ ca Trung Quốc (618-907) Trong gần 300 năm tồn tại, thời Đường đã để lại tên tuổi của trên 2000 nhà thơ với gần 50000 tác phẩm
Thơ Đường không những có số
lượng rất lớn mà còn có giá trị cao
về tư tưởng và nghệ thuật
Trang 21Đường luật gồm 3 dạng chính : bát cú, tuyệt cú và bài luật.
Trong số các thi nhân đời Đường còn lưu tên tuổi đến ngày nay thì
Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị là ba nhà thơ tiêu biểu nhất
Trang 22* Lý Bạch (701-762) tự Thái Bạch,
hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê Miên Châu
(Tứ Xuyên)
Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn vĩ đại
sau Khuất Nguyên Thơ ông tập trung
miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên, thắm
đượm tình yêu đất nước,nhân dân,
đồng thời thể hiện tính cao ngạo, coi
thường quyền quý, lớn tiếng đã kích
các thế lực phong kiến đen tối,…
Nhưng bên cạnh những áng thơ
kinh điển, ông cũng có những bài thơ “
đắm mình “ trong rượu và thoát tục du
tiên
Đặc điểm nghệ thuật : thơ Lý Bạch
đẹp, hào hùng, bút thế linh hoạt Ông
đã lại trên 1200 bài thơ, tiêu biểu nhất
là bài : hàn lộ nan, xa ngắm thác núi
lư, mộng du thiên mu ngâm lưu biệt,
….
Lý Bạch (701 – 762)
Trang 23Đỗ Phủ (712-770) tự Tử Mỹ, hiệu Thiếu
Lăng Dã Lão, Tương Dương ( Hồ Bắc)
Ông sống trong thời đại mà xã hội
thời Đường đi từ thịnh đến suy
Thơ Đỗ Phủ phản ánh chân thực các
mặt đời sống trước và sau loạn An Sử,
chan chứa lòng yêu thương tổ quốc và
tình cảm nồng hậu với nhân dân
Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại
trong lịch sữ văn học Trung Quốc Bên
cạnh nội dung tư tưởng sâu sắc, là
nghệ thuật biểu hiện siêu phàm, ảnh
hưởng rất lớn nđến sự phát triển thơ ca
sau này
Trong số 1400 bài thơ truyền đời
của ông, tiêu biểu nhất là các tác
phẩm : Phó Phụng Tiên huyện Vinh
Hoài, NGũ bách tự, Bắc chinh, Thạch
Trang 24Bạch Cư Dị (772-846) tự Lạc Thiên, quê
Hạ Khuê (Thiểm Tây
Ông là người đề xướng dùng thể tân
nhạc để viết những đề tài mới về thời sự
Bạch Cư Dị chủ trương thơ ca phải
phản ánh nổi thống khổ của nhân dân,
đồng thời vạch trần cuộc sống hoang
dâm và nền chính tị lừa bịp của giai cấp
thống tri…
Số lượng thơ ông khá nhiều: 2800
bài, tiêu biểu là các bài Mại tháng ông,
Khinh phì , Thượng Dương bạch phát
nhân Đỉnh cao của thơ Bạch Cư Dị là
hai bài Trường hận ca và Tùy bà hành.
Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị được
ví như những ngôi sao sáng chói trên thi
đàn cổ điển Trung Quốc, có ảnh hưởng
rất lớn không chỉ đến thơ ca Trung Quốc
mà còn tác động đến nền văn học của
các quốc gia trong khu vực.
Bạch Cư Dị (772-846)
Trang 25c Tiểu thuyết Minh Thanh
Tiểu thuyết là loại hình văn học mới xuất hiện và phát triển từ thời Minh – Thanh
Dựa vào các câu chuyện lưu truyền trong dân gian, các nhà văn đã viết thành tiểu thuyết chương hồi phong phú về nội dung và hình thức
Các tiểu thuyết tiêu biểu nhất trong thời kỳ này là bộ Tam quốc chí
diễn nghĩa của La Quán Trung,Tây du kí của Ngô Thừa Ân và Thủy Hử của Thi Nại Am đời Nhà Minh và Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh và Nho Lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử
đời Nhà Thanh
Bộ ba tiểu thuyết này trở thành di sản quý báu trong nền văn học Trung Quốc và trong kho tàng văn học thế giới
Trang 26* Tam quốc chí diễn nghĩa do La
Quán Trung tiếp thu từ truyền thuyết dân
gian,rồi căn cứ vào sự thật lịch sử, gia
280 sau CN, khắc họa cuộc đấu tranh
giữa 3 nước Ngụy, Thục, Ngô, phơi bày
xã hội đen tối mục nát và nổi thống khổ
của nhân dân thời loạn lạc
La Quán Trung
Trang 27Tây du kí do Ngô Thừa Ân sáng tác, miêu tả 81 hồi gian truân mà thầy
trò Đường Tăng đã trải qua và chiến thắng Toàn bộ tác phẩm bậc lên tinh thần lãng mạn, tính châm biếm hài hước và tính chất chống phong kiến
Các nhân vật trong tác phẩm Tây Du Kí của Ngô Thừa Ân
Trang 28Hồng lâu mộng do Tào Tuyết Cần
và Cao Ngạc sáng tác
Tác phẩm miêu tả cảnh hưng
suy của một gia đình phong kiến
và chuyên tình của đôi nam nữ Giả
Bảo Ngọc- Lâm Đại Ngọc
Trang 303 Sử học
Trung Quốc là nước có nền sử học phát triển sớm và là nước có kho tàng sử học rất phong phú
Các tác phẩm sử học nổi tiếng thời kỳ này là Xuân thu của Khổng Tử,
Sử ký của Tư Mã Thiên, Hán thư của Ban Cố, ngoài ra còn có các tác phẩm Sử thông, Thông điển và tư trị thông giám
Đến thời Minh – Thanh, đã biên soạn được một số tác phẩm đồ sộ Đó
là Vĩnh Lạc Đại Điển, Cổ kim đồ thư tập thành và Tứ khố toàn thư
Trang 31•Xuân Thu
Được Khổng Tử biên soạn trên cơ
sở quyển sử của nước Lỗ, đó được
xem là quyển sử do tư nhân biên
soạn sớm nhất ở Trung Quốc
Tác phẩm này ghi chép lại các sự
kiện lịch sử trong 242 năm từ năm
722 đến năm 481 TCN Sách đã ghi
chép lại các sự kiện lớn về chính trị,
quân sự, ngoại giao của 24 nước chư
hầu với 18000 chữ
Đánh giá về tác phẩm này, Sử kí nói: “Từ khi cái nghĩa của sách Xuân
thu lưu hành, loạn thần tặc tử trong thiên hạ đều sợ hãi.” Đến thời Hán tác phẩm trở thành một trong Ngũ kinh của nhà Nho
Trang 32•Sử kí
Với tác phẩm này của nhà sử học Tư Mã Thiên,
sử học Trung Quốc đã trở thành lĩnh vực độc lập
Tác phẩm này đã ghi chép lịch sử gần 3000 năm
từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế
Toàn bộ tác phẩm bao gồm 12 bản kỉ, 10 biểu, 8
thư, 30 thế gia, 70 liệt truyện
Như vậy, tác phẩm sử kí đã ghi lại mọi mặt trong xã hội như chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, ngoại giao… của Trung Quốc trong giai đoạn lịch sử đó Đây cũng là một tác phẩm rất có giá trị về mặt sử liệu cũng như về tư tưởng
Trang 33•Vĩnh lạc đại điển
Do Minh Thành Tổ tổ chức biên soạn
Tác phẩm này bao gồm các nội
dung : chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ
thuật, tôn giáo,…
Đó là một công trình tập thể của hơn
2000 người làm việc trong 5 năm
Bộ sách gồm 11095 tập, là bộ Bách
khoa toàn thư rất lớn của Trung Quốc
thời kỳ này
Tiếc rằng năm 1900 khi liên quân 8
nước đế quốc đánh vào Bắc Kinh,
nhiều công trình văn hóa đã bị cướp,
đốt hoặc bị phá hủy Vì vậy đến nay chỉ
còn hơn 300 tập
Một số phần của Vĩnh Lạc Đại Điển
Tuy nhiên, tác phẩm cũng cho thấy được khả năng biên soạn các bộ sách lớn, lưu giữ tư liệu của người Trung Quốc hết sức to lớn
Trang 354 Nghệ thuật.
a Kiến trúc
Trung Quốc là nước có nền kiến trúc phát triển rực rỡ với nhiều công trình kiến trúc độc đáo có tầm cỡ quốc tế
Có thể chia lịch sử kiến trúc Trung Quốc thành 4 thời kỳ:
- Giai đoạn I (475 TCN – 221 TCN) với các công trình tiêu biểu : thành Trường An, Vạn lý trường thành
- Giai đoạn II (221 TCN – 907) với các công trình tiêu biểu : chùa Phật Quang (Ngũ Đài Sơn), tháp Giang Thiên (Kim Sơn), các thành phố Lạc
Dương, Thành Đô,…
- Giai đoạn III (907 – 1368) với các công trình tiêu biểu : tháp Xá Lợi, Tây Hạ (Nam Kinh), tháp Thiên Minh (Bắc Kinh), tháp Giang Thiên (Giang Tô)
- Giai đoạn IV (1368 – 1849) với các công trình kiến trúc tiêu biểu : Cố Cung, Viên Minh viên
Trang 36a Kiến trúc (tt)
* Các đặc điểm trong kiến trúc Trung Quốc :
- Thường dùng vật liệu kết cấu bằng gỗ, bố trí thành quần thể kiến trúc,
ở giữa là sân, bốn phía là nhà vây lại, lấy gian nhà làm đơn vị cơ bản
Cung điện, đền chùa đều xây dựng cùng một kiểu, chỉ khác về quy mô, kiểu dáng mà thôi
- Gia công nghệ thuật ngay trên cấu kiện của kiến trúc
- Sự bố trí các màu trong bố cục tương phản tôn tạo lẫn nhau
- Có sự phản ánh đời sống tâm linh của người Trung Quốc như : lòng tin vào thánh thần, tôn thờ trời đất, thuyết Âm dương ngũ hành,…
Trang 37* Vạn lý trường thành
Là công trình phòng ngự nổi tiếng của
nhân dân Trung Quốc trong suốt 2500
năm nhằm chống lại sự xâm lăng của
các dân tộc phương Bắc
Trường thành được xây dựng từ năm
420 đến năm 221 TCN Sau khi thống
nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng đã
huy động 30 vạn người nối trường thành
của các nước Yên, Triệu, Tần và sửa
sang lại
Trường thành dài 6700 km, chạy qua địa phận 6 tình miền Tây, Tây Bắc và Đông Bắc
Các triều đại kế tiếp, triều nào cũng cho xây dựng và tu bổ Đặc biệt, triều Minh
đã cho tu bổ trong 100 năm
Nguyên liệu chủ yếu là gạch vồ, đá tảng Trường thành gồm 4 bộ phận chủ
yếu : tường thành, cửa ải, đài thành, phong hỏa đài
Công trình là thành quả lao động và sáng tạo của hàng triệu người Trung
Quốc, không chỉ cho thấy sức mạnh của Đế quốc Trung Hoa thời kỳ này, mà còn chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật kiến trúc Trung Hoa
Trang 38Vạn Lý Trường Thành
Trang 40* Trường An
Là thành thị cổ nổi tiếng của Trung
Quốc, là nơi đóng đô của các triều đại
từ Hán đến Tùy, Đường, kéo dài hơn
1000 năm
Được cho là đã được thành lập vào
năm 202 TCN, thời Hán Cao Tổ
Được nhiều triều đại liên tục tu bổ,
xây dựng
Thời Tùy, Tùy Văn Đế xây thêm một
tòa thành mới là Đại Hưng thành,
rộng 84 km2
Đời Đường tiếp tục được mở rộng thêm Đăc biệt, khu Thái Minh cung la một quần thể kiến trúc gồm 30 tòa thành, điện, đường lớn nhỏ và các vườn hoa tuyệt mỹ
Thời đó, Trường An đã tiếp nhiều thương nhân từ các nước đến buôn bán, nhiều du học sinh đến tìm hiểu văn hóa và là nguôn cảm hứng cho các thi sĩ đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị Đến nay, tòa thành vẫn được xem là biểu tượng đặc trưng cho thành tựu kiến trúc Trung Quốc