MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Các nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Để thực hiện thành công mục tiêu đã được Đại hội Đảng CSVN lần thứ XI chỉ ra "phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại" thì việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung, CBQL nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng và quyết định. Chất lượng đội ngũ CBQL luôn là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành bại của mọi công việc, của từng tổ chức, cơ quan cũng như đối với toàn cục của cách mạng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [24,Tr.269-273]. Trong công tác quản lí nhân sự, khâu tổ chức thực hiện luân chuyển (bao gồm điều động, bổ nhiệm, BNL và có thể cả miễn nhiệm) CBQL được xác định là khâu đột phá nhằm tạo ra những thay đổi tích cực trong môi trường công tác, phát huy năng lực và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL. Đây là chủ trương rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, có ý nghĩa đặc biệt trong thời kỳ hiện nay. LCCB không phải là vấn đề hoàn toàn mới mà là sự kế thừa, phát triển truyền thống của dân tộc ta và những quan điểm tư tưởng của Đảng, Bác Hồ về công tác cán bộ qua các thời kỳ cách mạng. 2 Điều động cán bộ tạo ra cách nhìn mới, là cơ hội để kiểm nghiệm sự đi đôi giữa lý luận và thực tiễn của đội ngũ CBQL trong việc vận dụng cụ thể, sát thực, khách quan giữa trường học và trường đời. LCCB nhằm khắc phục thực trạng giáo điều trong tư duy, đẩy lùi cách nhìn cũ, kìm hãm sự phát triển. LCCB nhằm đổi mới toàn diện phong cách làm việc, tinh thần trách nhiệm trước công việc, tính tiên phong gương mẫu trước quần chúng của cán bộ. Bổ nhiệm có tác động rất lớn đối với CBQL. Nó chứng minh cho phẩm chất đạo đức, năng lực CBQL trong quá trình công tác. Do vậy họ luôn luôn phải gương mẫu, rèn luyện, học tập và phấn đấu không ngừng để đáp ứng trước yêu cầu ngày càng cao của công việc.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG THÀNH HƯNG
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2Luận văn “Luân chuyên can bô quản lý trường Mầm non , Tiêu hoc
và THCS trên địa bàn huyện Tiên Yên , tỉnh Quảng Ninh ” được thực hiện
từ tháng 08/2011 đến tháng 4/2012 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đã được tổng hợp và xử lí
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 4 năm 2012
Tác giả
Đao Xuân Thăng
Trang 3Trong thời gian học tập khóa học Thạc sĩ Quản lý giáo dục tại trường ĐHSP Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo Hoàn thành luận văn thạc sĩ khóa học này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo đã tận tâm giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và đặc biệt là Phó giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thành Hưng, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Lãnh đạo Sở Giáo dục&Đào tạo Quảng Ninh, Phòng Giáo dục, Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức Huyện ủy Tiên Yên và cán bộ quản lý các trường học thuộc huyện Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2012
Đào Xuân Thắng
Trang 4MỤC LỤC
Trang bia phu
Lơi cam đoan
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ
QUẢN LÍ TRƯỜNG HỌC Ở CẤP HUYỆN
1.2.1.3 Quan hệ giữa tổ chức và quản lí 12
1.2.3 Cán bộ quản lý và cán bộ quản lý trường học 18
Trang 59
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG MẦM NON, TIỂU HỌC VÀ THCS Ở HUYỆN TIÊN YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
2.1 KHÁI QUÁT BỐI CẢNH KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA HUYỆN TIÊN YÊN 41
2.1.2 Nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế 42
2.2.1.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí 46
2.2.2.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí 54
2.3 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ QUẢN LÍ
TRƯỜNG HỌC Ở HUYỆN TIÊN YÊN
60
2.3.1 Nhận thức về luân chuyển cán bộ quản lý trường học 60
2.3.1.1 Nhận thức của các cấp quản lí ở huyện 602.3.1.2 Nhận thức của cán bộ quản lí trường học 612.3.1.3 Nhận thức của giáo viên và cộng đồng địa phương 62
2.3.2 Thực trạng các biện pháp quản lí trong tổ chức luân chuyển 62 cán bộ quản lí trường học
2.3.2.1 Các biện pháp lập kế hoạch và qui hoạch 622.3.2.2 Các biện pháp tổ chức nguồn lực và bộ máy 642.3.2.3 Các biện pháp tổ chức và chỉ đạo thực hiện 652.3.2.4 Các biện pháp giám sát, kiểm tra, đánh giá 67
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG HỌC Ở HUYỆN TIÊN YÊN TỈNH QUẢNG NINH
3.1 XÂY DỰNG CƠ CHẾ CHUNG CỦA LÃNH ĐẠO, QUẢN LÍ 70
CÁN BỘ GIÁO DỤC TRONG HUYỆN
3.1.1 Thực hiện công khai, dân chủ và phân cấp hợp lí trong công 70
Trang 7tác cán bộ của ngành giáo dục
3.1.1.2 Nội dung và cách tiến hành biện pháp 70 3.1.1.3 Những điều kiện thực hiện biện pháp 77
3.1.2 Khuyến khích vai trò chủ động, tự giác và tích cực của cán 78
bộ quản lí các cấp
3.1.2.2 Nội dung và cách tiến hành biện pháp 79 3.1.2.3 Những điều kiện thực hiện biện pháp 81
3.1.3 Tăng cường công tác quản lý gắn với việc đánh giá đúng 83 phẩm chất, năng lực và chiều hướng phát triển của cán bộ
3.1.3.2 Nội dung và cách tiến hành biện pháp 83 3.1.3.3 Những điều kiện thực hiện biện pháp 85
3.2 QUI HOẠCH VÀ BỐ TRÍ, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN 86
LÍ TRƯỜNG HỌC PHÙ HỢP VỚI QUI HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ-XÃ HỘI
3.2.1 Qui hoạch phát triển cán bộ quản lí giáo dục và cán bộ 86 quản lí trường học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ các địa bàn khác
nhau của huyện
3.2.1.2 Nội dung và cách tiến hành biện pháp 863.2.1.3 Những điều kiện thực hiện biện pháp 89
3.2.2 Xây dựng và thực hiện đề án luân chuyển CBQL trường học 90
3.2.2.2 Nội dung và cách tiến hành biện pháp 903.2.2.3 Những điều kiện thực hiện biện pháp 93
3.3.1.1 Qui mô, số lượng, thành phần tham gia 94
Trang 83.3.1.3 Phương pháp và kĩ thuật đánh giá 94
Phiếu thăm dò kiến về thực trạng việc luân chuyển CBQL trường học
(dành cho cán bộ dự nguồn CBQL trường học)
Phiếu thăm dò kiến về thực trạng việc luân chuyển CBQL trường học
(dành cho CBQL trường học)
Phiếu thăm dò kiến về cac biên phap thưc hiên luân chuyển CBQL
trường học (dành cho CBQL trường học)
i
ii
iii
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCHTƯ : Ban Chấp hành Trung ương
CBQL : Cán bộ quản lý CĐSP : Cao đẳng sư phạm CMNV : Chuyên môn nghiệp vụ CNH - HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ĐHSP : Đại học sư phạm GD -
ĐT : Giáo dục - Đào tạo GDTX : Giáo dục thường xuyên
LL chính trị : Lý luận chính trị LCCB : Luân chuyển cán bộ NQTƯ : Nghị quyết Trung ương PGS.TS : Phó giáo sư tiến sĩ PTCS : Phổ thông cơ sở QLGD : Quản lý giáo dục THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông THSP : Trung học sư phạm UBND : Uỷ ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 10Nôi dung Trang
Bảng 2.1: Mạng lưới trường mầm non huyện Tiên Yên 46
Bảng 2.6: Mạng lưới trường phổ thông huyện Tiên Yên 52
Bảng 2.11: Thông kê can bô, giáo viên được đánhgiá xếp loại hàng năm 63
Bảng 2.12: Thông kê số lượng cán bộ được đưa vào quy hoạchCBQL 64
Bảng 2.13: Kêt qua tô chưc thực hiện luân chuyên cán bộ quản lý
Bảng 3.1: Kêt qua khao nghiêm tinh câp thiêt cua cac biện pháp 95
Bảng 3.2: Kêt qua khao nghiêm tinh kha thi cua cac biện pháp 95
DANH MUC CAC BANG
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở thành nhân
tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội Các nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định
sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia
Để thực hiện thành công mục tiêu đã được Đại hội Đảng CSVN lần thứ
XI chỉ ra "phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại" thì việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung, CBQL nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng và quyết định Chất lượng đội ngũ CBQL luôn là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định
sự thành bại của mọi công việc, của từng tổ chức, cơ quan cũng như đối với toàn cục của cách mạng Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [24,Tr.269-273]
Trong công tác quản lí nhân sự, khâu tổ chức thực hiện luân chuyển (bao gồm điều động, bổ nhiệm, BNL và có thể cả miễn nhiệm) CBQL được xác định là khâu đột phá nhằm tạo ra những thay đổi tích cực trong môi trường công tác, phát huy năng lực và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL Đây là chủ trương rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, có ý nghĩa đặc biệt trong thời kỳ hiện nay LCCB không phải là vấn đề hoàn toàn mới mà là sự kế thừa, phát triển truyền thống của dân tộc ta và những quan điểm tư tưởng của Đảng, Bác Hồ về công tác cán bộ qua các thời kỳ cách mạng
Trang 12Điều động cán bộ tạo ra cách nhìn mới, là cơ hội để kiểm nghiệm sự đi đôi giữa lý luận và thực tiễn của đội ngũ CBQL trong việc vận dụng cụ thể, sát thực, khách quan giữa trường học và trường đời LCCB nhằm khắc phục thực trạng giáo điều trong tư duy, đẩy lùi cách nhìn cũ, kìm hãm sự phát triển LCCB nhằm đổi mới toàn diện phong cách làm việc, tinh thần trách nhiệm trước công việc, tính tiên phong gương mẫu trước quần chúng của cán bộ Bổ nhiệm có tác động rất lớn đối với CBQL Nó chứng minh cho phẩm chất đạo đức, năng lực CBQL trong quá trình công tác Do vậy họ luôn luôn phải gương mẫu, rèn luyện, học tập và phấn đấu không ngừng để đáp ứng trước yêu cầu ngày càng cao của công việc
Đội ngũ CBQL các trường mầm non, tiểu học, THCS thuộc huyện Tiên
Yên (gọi tắt là các trường học thuộc huyện Tiên Yên) hiện nay đều được
bổ nhiệm từ giáo viên, đa số có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn đạt chuẩn Song để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác hiện nay, chất lượng của đội ngũ này còn bộc lộ nhiều yếu kém Mặt khác, CBQL trường học thường là người địa phương (hoặc địa phương hóa) nên có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác của họ Đó là sức ì, lối làm việc chủ quan, tư duy chậm đổi mới; tình trạng cục bộ địa phương; phải chịu áp lực của phụ huynh học sinh, của bà con và của chính quyền sở tại… Những yếu tố này đã tác động không nhỏ đến CBQL, làm cho họ không phát huy hết khả năng sáng tạo, đôi khi làm sa sút phẩm chất cán bộ, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chung của nhà trường
Về mặt lí luận, vấn đề LCCB trong khoa học quản lí giáo dục nước ta hầu như chưa từng được chính thức nghiên cứu, mặc dù có thể được trình bày trong các giáo trình hay tài liệu huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ của ngành giáo dục Khi nó đang tồn tại như một sự kiện trong thực tiễn quản lí giáo dục thì
Trang 13đương nhiên nó cần được nhìn nhận và giải quyết từng bước trên bình diện lí thuyết trong quá trình nghiên cứu quản lí giáo dục
Do vậy, việc chọn đề tài: “Luân chuyển CBQL trường mầm non, tiểu học và THCS trên địa bàn huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu
là việc làm cần thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác quản lí giáo dục, quản lí nhân sự giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo của huyện trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lí trong công tác LCCB quản lí trường học thuộc huyện Tiên Yên, Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ CBQLGD cấp trường (mầm non, tiểu học và THCS) của huyện trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ CBQL các trường mầm non, tiểu học và THCS trên địa bàn huyện Tiên Yên (gọi tắt là các trường học thuộc huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh)
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Khâu tổ chức LCCB quản lí các trường học thuộc huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp quản lí trong công tác tổ chức luân chuyển CBQL dựa vào đặc điểm cán bộ, mục tiêu và yêu cầu qui hoạch phát triển giáo dục cũng như những tiêu chuẩn nhân sự tương ứng thì chúng sẽ góp phần phát triển đội ngũ CBQL các trường học thuộc huyện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 145.1 Xác định cơ sở lí luận của quản lí trong lĩnh vực LCCB quản lí trường
học ở cấp địa phương
5.2 Khảo sát thực trạng quản lí trong công tác luân chuyển CBQL trường học
ở huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí trong công tác LCCB quản lí trường
học thuộc huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Tập trung vào các biện pháp tổ chức luân chuyển CBQL các trường thuộc trách nhiệm quản lý của Ban Thường vụ Huyện ủy và Ban Tổ chức Huyện ủy là
cơ quan tham mưu cho Ban Thường vụ Huyện ủy về công tác điều động, bổ nhiệm, BNL và miễn nhiệm CBQL các trường học thuộc huyện
- Về thời gian, đề tài chỉ nghiên cứu việc luân chuyển CBQL từ năm
2006 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích lí luận: để phân tích các tư liệu chính trị, thống
kê, khoa học và hồ sơ quản lí giáo dục
- Phương pháp khái quát hóa lí luận: để đánh giá, chọn lọc và xây dựng quan niệm, quan điểm
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: để đánh giá thực trạng quản lí trong công tác LCCB quản lí trường học ở huyện, bằng các kĩ thuật phỏng vấn, sử dụng bảng hỏi, quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: để tìm hiểu những thành tựu và hạn chế của công tác LCCB những năm gần đây
7.3 Các phương pháp khác
- Phương pháp chuyên gia: để lấy ý kiến đánh giá kết quả nghiên cứu
- Phương pháp xử lí số liệu bằng kĩ thuật thống kê: để xây dựng tư liệu
Trang 15định lượng cho nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc LCCB quản lí trường học ở cấp huyện Chương 2: Thực trạng tổ chức luân chuyển CBQL trường học ở Huyện
Tiên Yên, Tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Một số biện pháp tổ chức luân chuyển CBQL trường học ở
Huyện Tiên Yên Tỉnh Quảng Ninh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ
QUẢN LÝ TRƯỜNG HỌC Ở CẤP HUYỆN
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Ở nước ta, có thể khẳng định rằng, ngay trong thời kỳ phong kiến, công tác luân chuyển “cán bộ” đã được một số triều đại phong kiến coi trọng, Triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497) Với quan điểm “Trăm quan là nguồn gốc của trị, loạn Quan có đức, có tài thì nước trị Quan vô đức, kém tài là thềm, bậc dẫn đến họa loạn”, Lê Thánh Tông đặt ra chế độ hồi tỵ phục vụ cho công tác bổ dụng đội ngũ quan lại phong kiến đương thời: không được bổ nhiệm một viên quan về cai trị huyện hoặc tỉnh mà ông ta xuất thân từ đó; không được bổ nhiệm một viên quan tới nơi ông ta có người họ hàng tại nhiệm ở vị trí lãnh đạo; trong thời gian trị nhậm tại một tỉnh hoặc một huyện, một viên quan không được cưới vợ, lấy thiếp là người của địa hạt đó; một viên quan không được phép tại vị quá lâu ở cùng một địa phương hoặc cùng một viện,
bộ chức năng Đến khi triều Nguyễn nắm ngôi quân chủ, nhức nhối trước thực trạng “các chức thông phán, phần nhiều là người địa phương Do đó, vì tình riêng làng nước, khó lòng khỏi sự tư túi sinh ra nhiều tệ hại”, thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị đã ban hành luật Hồi Tỵ vào năm 1831, liên tục bổ sung vào các năm tiếp theo [30]
Thực tiễn lịch sử cho thấy, Hồi Tỵ là một chủ trương, chính sách đắc lực giúp các vị quân chủ phong kiến có thể quản lý, khống chế đội ngũ quan lại câu kết, ngăn ngừa sự lạm chức quyền, địa vị để kết bè kéo cánh Chính sách này cũng còn là chế độ phòng ngừa, giám sát và quản lý nghiêm ngặt các quan lại nhằm ngăn chặn, hạn chế nạn tham nhũng, quan liêu, cát cứ, chạy theo lợi ích cục bộ, địa phương
Trang 17Cách đây hơn 60 năm, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ viết ngày 1/3/1947 ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình, kiểm thảo “những đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu
có địa vị là được” [25, Tr 76-79] Sau gần 70 năm xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức hành chính đã có những bước phát triển vượt bậc để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ của đất nước Công tác quản lý nhà nước đối với công chức, công vụ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể chế hóa và nâng lên thành nhiều đạo luật, nhiều nghị định, thông tư Ngày 25/1/2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 11-NQ/TƯ “Về LCCB lãnh đạo, quản lý” Theo quan điểm về công tác cán bộ của Đảng ta thì LCCB lãnh đạo và quản lý là nhằm thực hiện chủ trương đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ Tổ chức thực hiện luân chuyển C B Q L trong những năm gần đây luôn là vấn đề mang tính thời sự của công tác tổ chức cán bộ-một mặt quan trọng của khoa học quản lý
Luân chuyển CBQL giáo dục là một “mảng” nằm trong công tác LCCB lãnh đạo, quản lý nói chung Nghiên cứu về vấn đề này, cho đến nay,
đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học viết về đề tài nâng cao năng lực hoặc chất lượng đội ngũ CBQL các trường THCS, trường tiểu học như:
"Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ quản lý trường tiểu học tỉnh Quảng Bình đến năm 2010 "của tác giả Trần Quốc Thắng; "Một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS huyện Mê Linh, Vĩnh phúc trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Phùng Quang Thơm; "Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng các trường mầm non tỉnh Hải Dương” của tác giả Vũ Thị Năm; “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đến năm 2015” của tác giả Đinh Quốc
Trang 18Khánh; “Biện pháp tổ chức luân chuyển và BNL CBQL trường tiểu học huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng” của tác giả Thạch Văn Thành
Các luận văn này đi sâu vào việc nghiên cứu năng lực quản lý, chất lượng đội ngũ CBQL và đưa ra các giải pháp như qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhằm nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng quản lý và chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục ở các trường THCS Chưa có tác giả nào
đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác LCCB lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục (bao gồm điều động, bổ nhiệm, BNL và miễn nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục) một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ CBQL ngành giáo dục Trên thực tế hiện nay việc tổ chức thực hiện luân chuyển CBQL giáo dục nói chung, công tác luân chuyển CBQL ngành giáo dục ở bậc học mầm non, bậc tiểu học và bậc THCS nói riêng còn nhiều vấn đề bất cập nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống và đánh giá được thực trạng công tác này do đó cũng chưa có những giải pháp để thực hiện có hiệu quả công tác LCCB lãnh đạo, quản lý ngành Giáo dục và Đào tạo
1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Tổ chức và quản lí
1.2.1.1 Tổ chức
Thuật ngữ “tổ chức” có ít nhất 2 nghĩa khác nhau Nghĩa thứ nhất hiểu
tổ chức với tư cách là một danh từ dùng để chỉ một tập hợp người với những yêu cầu cụ thể, được bố trí, sắp xếp trong một đơn vị xã hội (cơ quan, đoàn thể, trường học, công ty…) theo một cách thức nào đó để thực hiện hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị Tác giả Tô Tử Hạ định nghĩa tổ chức theo nghĩa này: "Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức)" [16, Tr.6]
Trang 19Nghĩa thứ hai hiểu tổ chức với tư cách là một động từ nhấn mạnh đến đặc tính động, đến phương diện mang tính tiến trình của khái niệm Ở đây tổ chức đóng vai trò như một công cụ để huy động, sắp xếp, bố trí con người (với nghĩa là nhân sự) và các nguồn lực vật chất khác trong một tổ chức để thực hiện các nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Nếu xét trong quan hệ quản lý thì tổ chức ở đây là một chức năng trong bốn chức năng của quản lý đó là: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá
Khái niệm tổ chức trong luận văn này được hiểu theo nghĩa thứ hai, đó
là một chức năng của quản lý
Muốn lãnh đạo một tập thể phải thông qua tổ chức và bằng con đường tổ chức; chính vì thế, trên thực tế chức năng tổ chức đã trở thành một lĩnh vực công tác chuyên biệt - công tác tổ chức
Công tác tổ chức có chức năng là sợi dây liên kết, gắn bó con người, các thành viên lại với nhau thành các nhóm, các bộ phận xã hội tồn tại và hoạt động trên cơ sở mục tiêu chung, có sự qui định của pháp luật
Mác Vebơ (Max Weber 1864-1920), người sáng lập ra thuyết tổ chức đã đề ra mô hình tổ chức để quản lý các doanh nghiệp lớn Những yếu
tố chủ yếu trong mô hình tổ chức là sự phân công lao động rõ ràng, sắp xếp vị trí từng người trong tổ chức, qui định nội qui và thủ tục quản lý, lựa chọn người một cách nghiêm ngặt cùng với chế độ lương, thưởng, đề bạt hợp lý
Sestơ Banat (Chester Barnard 1886-1961), sáng lập ra lý thuyết về
tổ chức lại đề ra 3 yếu tố hợp thành của một tổ chức, đó là sự sẵn sàng hợp tác, có mục đích chung và có thông tin, đồng thời nghiên cứu những vấn đề khoa học quản lý trong tổ chức như ra quyết định, lãnh đạo, đạo đức nội dung sâu sắc của thuyết này là sự phản ánh các lực lượng tinh vi và phức tạp
Trang 20hình thành nên hoạt động của con người trong một tổ chức, là một hình thức hợp tác cơ bản, chặt chẽ của những con người và có tính khách quan với mỗi cá nhân, trong đó không chỉ chú ý tới yếu tố kinh tế, kỹ thuật, chuyên môn mà còn coi trọng yếu tố đạo đức tinh thần của tổ chức
"Tổ chức có nghĩa là làm cho một hiện tượng, một quá trình, một tập hợp nào đó trở thành một hệ thống; là sự sắp xếp các bộ phận thành một trình
tự nhất định, có những quan hệ qua lại lẫn nhau" [11, Tr 264]
Mục đích của tổ chức là làm cho những mục tiêu trở nên có ý nghĩa và góp phần tăng thêm tính hiệu quả về mặt tổ chức Một cơ cấu tổ chức được coi là có hiệu quả nếu nó cho phép mỗi cá nhân góp phần công sức vào các mục tiêu của đơn vị
Khái niệm "hoạt động tổ chức" hay "công tác tổ chức" còn có thể được xem xét với những nghĩa khác nhau Nó có thể được xem xét với nghĩa rộng dùng để chỉ hoạt động tổ chức của Đảng, Nhà nước, của công đoàn hay Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc với nghĩa hẹp khi chỉ một người nào
đó đang tổ chức một dạng hoạt động chung của một nhóm người cụ thể
Công tác tổ chức còn có thể xem xét với tư cách là một chức năng quan trọng của hoạt động lãnh đạo, quản lý Có thể chia công tác này thành 2 nội dung cơ bản: xây dựng tổ chức và bố trí sử dụng con người Hai nội dung
cơ bản này có quan hệ mật thiết với nhau và chúng ta tạo dựng một tổ chức
từ những con người và bố trí họ vào những công việc nhất định để rồi điều khiển, kiểm tra hoạt động của họ
Như vậy có thể hiểu công tác tổ chức (hay hoạt động tổ chức) là hoạt động nhằm thiết lập, vận hành một tập thể, một tổ chức thông qua việc bố trí, sắp đặt con người cũng như tác động đến nhu cầu, lợi ích, tổ chức, ý chí, năng lực hoạt động thực tiễn của con người nhằm hướng vào mục đích chung
Trang 211.2.1.2 Quản lí
Khái niệm quản lí được hiểu theo nhiều cách Có nhiều định nghĩa khái niệm này, trải qua nhiều thế hệ nghiên cứu và phát triển quản lí (F.W Taylor,
A Fayol, A.I Berg, Paul Hersey, Kenneth Blanchard, C Argyris, C Barnard,
R Likert, A Marshall, P Drucker, A Church,…) nhưng chưa cách giải thích nào được chấp nhận hoàn toàn Đa số định nghĩa xuất phát từ quan điểm cục
bộ, ví dụ từ quản lí kinh doanh, quản lí tổ chức,… Có lẽ điều đó là khách quan, vì không có khái niệm nào bao quát hết mọi lĩnh vực quản lí mà đều đúng cả Chẳng hạn một số định nghĩa dưới đây:
- Quản lí là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác
- Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định
- Quản lí là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm
- Quản lí chính là các hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả theo mong muốn
- Quản lí là một nghệ thuật, biết rõ chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất
- Quản lí là đưa xí nghiệp tốt lên, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực) của nó
Một số nhà nghiên cứu trong nước cũng cố gắng tìm cách định nghĩa khái niệm này từ góc độ hành chính, kinh tế, giáo dục, điều khiển học, và thậm chí cả chính trị Ví dụ:
Trang 22- Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức của chủ thể quản lí đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lí) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến
- Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực để đạt mục đích đã định
- Tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí (Người quản lí) tới khách thể quản lí (Người bị quản lí), trong một tổ chức về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, bằng một hệ thống các luật lệ chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể Nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu của tổ chức
Trong các định nghĩa trên, nói chung đều có ý tưởng “quản lí là một quá trình tác động có mục đích hoặc một hoạt động có tổ chức, có định hướng, có chủ thể và đối tượng, ” tuy nhiên đó chưa phải là khái niệm khoa học Bất cứ hoạt động nào của con người dù lớn dù nhỏ đều có mục đích, có
tổ chức, có định hướng, có chủ thể và có đối tượng… Hoạt động nào cũng đều phải có nguồn lực và công cụ, và bản chất chung của chúng là tác động tới cái gì đó, không chỉ riêng quản lí mới có những tham số này
Không cứ gì quản lí, mà hoạt động nào của con người cũng có khâu lập
kế hoạch, tổ chức nguồn lực và cách làm, chỉ đạo (định hướng), giám sát, kiểm tra, đánh giá Do vậy nên hiểu khái niệm quản lí theo nghĩa một dạng lao động xã hội Chúng tôi sử dụng định nghĩa quản lý của Đặng Thành Hưng như sau: “Quản lí là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia” [21]
Trang 231.2.1.3 Quan hệ giữa tổ chức và quản lí
Lịch sử đã chứng minh rằng, để tồn tại và phát triển, ngay từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, con người đã liên kết nhau thành các nhóm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên Trong quá trình đó
đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối người khác, đồng thời cũng có khả năng điều khiển mọi hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đã đóng vai trò thủ lĩnh quản lý của các nhóm Như vậy, quản lý xuất hiện từ rất sớm, nó gắn liền với hoạt động của con người trong cuộc sống Trong quản lý, việc tập hợp, điều khiển hoạt động của nhóm, của từng bộ phận, từng cá nhân theo lý tưởng chung để đạt tới đích chính là nhờ tổ chức
Sự phát triển của xã hội cũng chứng minh rằng tổ chức là một nhu cầu không thể thiếu được trong mọi hoạt động kinh tế-xã hội Khi những hoạt động kinh tế-xã hội ngày càng rộng lớn và phức tạp thì vai trò của nó ngày càng tăng Nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thành công hay thất bại trong hoạt động của một hệ thống và giữ vai trò to lớn trong quản lý
Theo giáo trình Khoa học quản lý [3,Tr 51] thì: Thứ nhất, tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả Thứ hai, từ khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp con người Thứ ba, tạo điều kiện cho việc hoạt động tự giác và sáng tạo của các thành viên trong tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá
Vậy mục đích của tổ chức là làm cho những mục tiêu trở nên có ý nghĩa và góp phần tăng thêm tính hiệu quả về mặt quản lý Nội dung của chức năng tổ chức là thiết lập bộ máy quản lý, trong đó gồm hai tiến trình
Trang 24cơ bản, đó là: Sự phân chia và phối hợp Sự phân chia bao gồm: Phân chia mục tiêu từ mục tiêu cơ bản thành các mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân; phân chia chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm; phân chia thành từng cấp, từng khâu quản lý Chính sự phân chia là cơ sở để hình thành cơ cấu tổ chức quản lý Sự phối hợp là tạo lập nên các mối quan hệ giữa các bộ phận đã được phân chia bao gồm quan hệ phối hợp ngang quyền; quan hệ cấp trên, cấp dưới Sự phối hợp là cơ sở hình thành cơ chế vận hành tổ chức bộ máy và vận hành cả hệ thống
Tổ chức là hoạt động xác lập và liên kết các bộ phận, các chức năng riêng lẻ thành một hệ thống hoàn thiện, thống nhất, tạo ra sức mạnh tổng hợp để đạt các mục tiêu quản lý Chức năng này bao hàm việc kết hợp các nguồn lực với nhau: con người, vốn và thiết bị một cách hữu hiệu nhất trong hệ thống quản lý Dưới tác động của tổ chức, bộ phận quản lý và bị quản lý được tạo lập Như vậy, tổ chức có thể là hoạt động nhằm thành lập hoặc sát nhập hoặc giải thể, tách các bộ phận trong bộ máy quản lý, đồng thời tổ chức còn là hoạt động nhằm phân định chức năng, quyền hạn, nghĩa
vụ, xác định các quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy đó
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung Tổ chức được coi là điều kiện của quản lý V.I.Lênin đã khẳng định: "Chúng ta phải hiểu rằng, muốn quản lý được tốt còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa" [33, Tr 24]
Nguyễn Quang Uẩn cũng cho rằng: Tổ chức là một trong những chức năng cơ bản, quan trọng nhất của quản lý [32]
Thực chất của tổ chức là thiết lập các mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý Do đó, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực Tổ chức không tốt sẽ triệt tiêu động lực và giảm sút
Trang 25hiệu quả quản lý
Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng: Tổ chức là một chức năng quan trọng không thể thiếu được của quản lý và muốn quản lý tốt cần phải thực hiện tốt chức năng tổ chức cùng với các chức năng khác nữa
1.2.2 Quản lí giáo dục và quản lí trường học
1.2.2.1 Quản lí giáo dục
Quản lí được thực hiện trong và đối với những lĩnh vực khác nhau, trong đó có giáo dục Như vậy quản lí giáo dục là dạng quản lí dành cho một lĩnh vực xã hội cụ thể là giáo dục Bản chất của quản lí giáo dục cũng là quản
lí chứ không có gì khác Những cái khác ở đây là mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nguồn lực, công cụ và môi trường… và chỉ khác khi so sánh với quản
lí lĩnh vực khác Theo Đặng Thành Hưng, định nghĩa khái niệm quản lí giáo dục như sau:
“Quản lí giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của
nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục”[20]
Quản lí giáo dục thường được thực hiện ở 3 cấp: cấp trung ương, cấp địa phương và cấp cơ sở Cấp trung ương và cấp chính quyền địa phương tỉnh, thành phố thực hiện thẩm quyền chung được gọi chung là cấp cao Cấp ngành ở tỉnh, thành phố thực hiện thẩm quyền riêng và cấp chính quyền quận, huyện gọi là cấp trung, còn cấp trường là cấp cơ sở Những cấp quản lí này có
lẽ không đồng nhất với ý tưởng quản lí vĩ mô và quản lí vi mô Ở cấp quản lí nào cũng có cả quản lí vĩ mô lẫn quản lí vi mô Đối tượng của quản lí giáo dục vĩ mô là những yếu tố ảnh hưởng đến toàn cục, đến toàn bộ nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục Đối tượng của quản lí giáo dục vi mô là những yếu tố
Trang 26chỉ ảnh hưởng cục bộ, đơn lẻ Nội dung sách giáo khoa tuy là sự vật nhỏ bé nhưng là đối tượng quản lí vĩ mô và việc quản lí nó được thực hiện ở mọi cấp Nhưng việc bổ nhiệm, tuyển dụng các hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học… ở quận, huyện nào đó tuy là việc to tát nhưng đó chỉ là đối tượng của quản lí vi mô, và chỉ được thực hiện cục bộ tại địa phương đó
1.2.2.2 Quản lí trường học
Trường học là đơn vị cơ sở của tổ chức và hệ thống giáo dục, đồng thời
là một dạng của tổ chức trong xã hội Vì vậy có thể hiểu quản lí trường học theo hai nghĩa cơ bản sau:
1 Đó là quản lí giáo dục tại cơ sở
2 Đó là quản lí một tổ chức trong xã hội, và cụ thể là tổ chức giáo dục Theo nghĩa đầu, quản lí trường học lại có hai khía cạnh khác nhau nhưng thống nhất với nhau mật thiết đến mức đôi khi khó phân biệt Khía cạnh thứ nhất liên quan đến các cấp quản lí chính quyền và chuyên môn thuộc các cấp trên của trường Mỗi trường học thực chất vẫn do các cấp nhà nước từ địa phương đến trung ương quản lí Thủ tướng, bộ trưởng, chủ tịch tỉnh, thành phố, chủ tịch huyện, quận, xã, phường đều là những chủ thể quản lí trường học Khi đó quản lí trường học do các cấp trên trường thực hiện Và đó là lí
do ra đời mô hình quản lí dựa vào trường học (School-based management) Khi nói quản lí dựa vào trường học chính là bàn đến quản lí của các cấp trên trường, chứ không phải bàn về chuyện quản lí nội bộ hay tự quản ở trường
Nhưng trường học còn được quản lí bởi bộ máy bên trong trường do hiệu trưởng đứng đầu Đó là quản lí trường học tại cấp trường, hay quản lí bên trong trường Thông thường quản lí trường học chỉ được hiểu theo nghĩa này, mà khía cạnh thứ nhất hay bị lãng quên Trên thực tế, quản lí trường học tại cấp trường vừa có tính chủ động, độc lập tương đối tùy theo cơ chế phân cấp cụ thể, song chính nó vẫn chịu sự chi phối và tác động quản lí của các cấp
Trang 27trên trường Cả bộ máy quản lí cấp trường hoàn toàn do các cấp trên trường
bổ nhiệm hoặc bãi miễn
Quản lí giáo dục và quản lí trường học về bản chất là một Quản lí giáo dục thực chất chỉ có giá trị khi đến được trường học, diễn ra tại trường học, cho dù nói về cấp quản lí nào Quá trình giáo dục chỉ diễn ra ở trường, các hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục chỉ diễn ra ở trường, chứ không phải ở bộ, tỉnh, huyện… Quản lí giáo dục là quản lí hệ thống các trường học nằm trong phạm vi quyền hạn của cấp quản lí nhất định Đồng thời quản lí trường học chính là quản lí giáo dục diễn ra tại cấp cơ sở Cho nên nội dung quản lí giáo dục nói chung và nội dung quản lí trường học nói riêng đều như nhau, chỉ khác nhau về qui mô mà thôi, bao gồm:
1 Quản lí tài chính giáo dục
2 Quản lí cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật (tài sản vật chất)
3 Quản lí nhân sự (cán bộ, công chức, nhân viên, giáo viên, học sinh - tài nguyên con người)
4 Quản lí chuyên môn (chương trình, hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập, phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và quản lí, các hoạt động nghiên cứu và phát triển khác)
5 Quản lí môi trường (tự nhiên và văn hóa)
6 Quản lí các quan hệ giáo dục của ngành giáo dục với các thiết chế xã hội khác (Đoàn, Đội, Công đoàn, các hội nghề nghiệp, các hội chính trị-xã hội, gia đình học sinh, cộng đồng dân cư)
7 Quản lí kinh doanh-dịch vụ nếu trường học là cơ sở có thẩm quyền cung cấp dịch vụ giáo dục, dịch vụ khoa học-công nghệ, dịch vụ thông tin và
tư vấn chuyên môn Và đây là nhân tố mới trong nội dung quản lí giáo dục và quản lí trường học trong điều kiện hội nhập quốc tế và hiện đại hóa
Trang 28Trong mỗi nội dung quản lí này đều luôn có 2 mặt gắn liền với nhau là quản lí hành chính sự vụ (Administration) và quản lí chất lượng (Quality Management)
Theo nghĩa một tổ chức, trường học được quản lí giống như mọi tổ chức khác, nhưng có đặc điểm chuyên môn của mình là giáo dục Bản chất của quản lí trường học lúc này gây ảnh hưởng, định hướng và phát triển tổ chức trường theo mục tiêu và giá trị đã định, dựa trên việc xác định tầm nhìn,
sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược, huy động và sử dụng các nguồn lực, tạo dựng tên tuổi (thương hiệu) và quản lí văn hóa nhà trường
Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lí trường học như sau: quản lí trường học là quản lí giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lí là các cấp chinh quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lí trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lí chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lí là con người, cơ sở vật chất-kĩ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có Khái niệm này khẳng định không chỉ hiệu trưởng và bộ máy ở trường chịu trách nhiệm quản lí trường học, mà trên trường còn có những cấp quản lí khác, bất kể đó là trường học ở cấp học nào, ngành học nào [21]
1.2.3 Cán bộ quản lý và cán bộ quản lý trường học
Trang 29CBQL là chủ thể quản lý, gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý cơ quan đó vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên CBQL có thể là trưởng, phó trưởng của một tổ chức được cơ quan cấp trên
bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được phân công
Xuất phát từ tầm quan trọng của người CBQL, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong giai đoạn cách mạng hiện nay, CBQL phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Về phẩm chất chính trị: CBQL phải có quan điểm lập trường và bản
lĩnh chính trị vững vàng, kiên định; nắm được đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn; có khả năng tự hoàn thiện,
tự đánh giá kết quả công việc của bản thân, tạo được lòng tin và lôi cuốn mọi người tham gia
- Về kiến thức pháp luật: CBQL phải hiểu và nắm được luật pháp Tuỳ
theo vị trí công tác mà CBQL phải có những am hiểu luật pháp nhất định
- Về trình độ chuyên môn: CBQL trước hết phải am hiểu chuyên môn,
đủ tri thức quản lý ngành nghề, chuyên môn đó Trình độ cao và có sự am hiểu tường tận chuyên môn của ngành mình giúp cán bộ hoạch định chiến lược phát triển ngành đúng hướng, tổ chức thực hiện mục tiêu quản lý ngành một cách có hiệu quả nhất
- Về năng lực tổ chức quản lý: CBQL là người đề ra mục tiêu và tổ
chức thực hiện mục tiêu thông qua các cộng sự và những người lao động Do
đó, đòi hỏi CBQL phải là người có bản lĩnh, có khả năng nhạy cảm, linh hoạt, khả năng quan sát nắm được các nhiệm vụ để tổ chức cho hệ thống hoạt động
Trang 30đồng bộ có hiệu quả, là người biết cách tổ chức lao động
- Về phẩm chất đạo đức và tác phong: Các yêu cầu trên có đạt hiệu quả
mong muốn hay không còn tuỳ thuộc vào đạo đức tác phong của người CBQL Đạo đức, tác phong là chuẩn mực quan trọng đối với CBQL trong thực tiễn, đồng thời cũng là tiêu chí chí cơ bản để đánh giá cán bộ
Tóm lại, CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm; người giữ vai trò dẫn dắt, tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị Người CBQL phải có phẩm chất và năng lực vượt trội và là tấm gương cho mọi người trong đơn vị noi theo
1.2.3.2 Cán bộ quản lí trường học
Có thể hiểu CBQL trường học là những người chịu trách nhiệm trước nhà trường về quản lý nhà trường, đảm bảo cho nhà trường thực hiện tốt các mục tiêu đã xác định và được phê duyệt, đồng thời thực hiện đồng bộ tất cả các nội dung của chất lượng giáo dục đào tạo trong sự vận hành chung của hệ thống giáo dục quốc dân CBQL trường học là Hiệu trưởng
và các Phó hiệu trưởng nhà trường Như vậy, với một trường học sẽ có Ban giám hiệu gồm các CBQL trường học Trong đó, Hiệu trưởng được coi như cán bộ lãnh đạo là người trực tiếp ra các quyết định quản lý Các Phó hiệu trưởng đóng vai trò như các "chuyên gia" để cố vấn cho Hiệu trưởng trong quá trình ra quyết định và thực thi quyết định Các Phó hiệu trưởng còn là người chịu trách nhiệm chính với mảng công việc được phân công trong bộ máy quản lý trường học
1.2.4 Luân chuyển cán bộ quản lý
1.2.4.1 Định nghĩa
Vấn đề LCCB đã được thực hiện từ lâu trong các tổ chức chính trị xã hội, trong điều kiện hiện nay có một số đặc điểm mới Bộ Chính trị đã ra
Trang 31Nghị quyết số 11-NQ/TW về LCCB lãnh đạo và quản lý Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (Khoá IX) trong kết luận đã khẳng định lại yêu cầu "Làm tốt việc LCCB theo quy hoạch để đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt, coi đây là giải pháp quan trọng, một khâu đột phá trong công tác cán bộ" Có một số khái niệm về LCCB như sau:
Trước hết, "luân chuyển": "luân" là các bánh xe, chỉ sự xoay vần
"chuyển" là sự luân hồi, chuyển tiếp.Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992:
"Luân chuyển là lần lượt tiếp nối hay chuyển tiếp cho nhau để cuối cùng quay trở lại thành một hay nhiều vòng" [37, Tr 58]
Có một số ý kiến cho rằng "LCCB về cơ bản không khác với điều động, tăng cường"; "LCCB là điều động cán bộ"; "LCCB thực chất là bố trí, phân công công tác"; "LCCB là một dạng điều động cán bộ" Nhưng thực chất thì LCCB không đơn thuần chỉ là điều động cán bộ Đây là 2 khái niệm
về cơ bản khác nhau tuy có những điểm giống nhau
Theo tác giả Bùi Đức Lại thì: Điều động cán bộ là điều chuyển cán
bộ từ nơi này sang công tác tại một địa phương, một lĩnh vực khác theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức" [23]
Tác giả Nguyễn Duy Việt có ý kiến: "LCCB thực chất là bố trí, phân công công tác, trước hết là nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của cả đất nước và của từng địa phương; đồng thời để đào tạo, bồi dưỡng, thử thách, rèn luyện cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trải qua các lĩnh vực công tác, hiểu biết toàn diện, sâu sát thực tiễn" [34]
Căn cứ Quy chế luân chuyển, bổ nhiệm, BNL, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo thì: "LCCB là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo giữ một chức vụ mới trong quá trình thực hiện công tác qui hoạch và đào tạo bồi dưỡng" [10]
Như vậy, có thể khái quát: LCCB là điều chuyển cán bộ theo quy
Trang 32hoạch nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị và bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Thực hiện việc LCCB một mặt nhằm bồi dưỡng, rèn luyện, phát triển CBQL một cách toàn diện, đảm bảo cho công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, mặt khác là để tăng cường những cán bộ có năng lực đến những nơi còn yếu kém hoặc thử thách cán bộ trong những môi trường làm việc khác nhau
Cần nhấn mạnh thêm, đối với LCCB thì tổ chức thực hiện luân chuyển (bao gồm điều động, bổ nhiệm, BNL và có thể cả miễn nhiệm) CBQL là khâu then chốt và được xác định là khâu đột phá nhằm tạo ra những thay đổi tích cực trong môi trường công tác, phát huy năng lực và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
1.2.4.2 Vai trò của công tác luân chuyên can bô
Công tác cán bộ và chất lượng đội ngũ CBQL luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức Trong công tác cán bộ, chúng ta vừa phải quan tâm đến tính ổn định, kế thừa trong việc luân chuyển, vừa phải kết hợp với yêu cầu đổi mới và phát triển trong luân chuyển CBQL Căn cứ yêu cầu và hoàn cảnh cụ thể từng lúc, từng nơi mà điều chỉnh, ưu tiên mặt này hoặc mặt kia Nhưng ngay cả khi chúng ta tập trung ưu tiên cho yêu cầu ổn định hoặc ưu tiên cho đổi mới thì cũng là nhằm tạo điều kiện cho cán bộ phát huy năng lực tốt nhất cho công việc, cho
sự nghiệp chung LCCB vừa góp phần tạo nên sự ổn định mới, có chất lượng cao hơn đồng thời cũng nhằm tạo tiền đề cho sự luân chuyển và phát triển ở bước sau cao hơn
Tổ chức luân chuyển CBQL trường học trước tiên là nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác mà cụ thể là chất lượng giáo dục ở từng đơn vị, địa phương cụ thể
Trang 33Thứ hai luân chuyển CBQL trường học chủ động hạn chế tình trạng trì trệ, cục bộ , chủ quan và cả tiêu cực có thể nảy sinh trong công tác quản lý Rõ ràng, nếu bố trí những cán bộ có những biểu hiện sa sút về phẩm chất, đạo đức hoặc bộc lộ nhiều hạn chế về trình độ lãnh đạo, quản lý, không thể đáp ứng yêu cầu bằng những cán bộ có đủ các điều kiện, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ, xây dựng nguồn nhân lực có trình độ cao sẽ góp phần tạo sự chuyển biến trong việc phát triển
sự nghiệp chung của ngành Nếu để CBQL giữ quá lâu một chức vụ, một vị trí công tác, người cán bộ dẫu có năng lực và từng đạt hiệu quả công tác cao cũng dễ rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa, dễ bằng lòng với cái hiện có, dễ thoả mãn với thành tích nhất thời trong khi yêu cầu đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng cao
Thứ ba luân chuyển CBQL trường học là để đào tạo, rèn luyện thử thách cán bộ, để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm của từng cán
bộ Thông qua thực tiễn công tác giúp họ trưởng thành "lửa thử vàng, gian nan thử sức", nói theo cách nói của C.Mác là thực tiễn sẽ "đánh thức các tiềm năng còn đang ngái ngủ của con người" [8]
1.2.4.3 Nội dung luân chuyên can bô
Trên cơ sở đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các trường học thuộc huyện, tình hình thực tiễn tại mỗi đơn vị trường mà các cấp quản lý có biện pháp điều động, bổ nhiệm và bố trí cán bộ lãnh đạo quản lý phù hợp nhằm phát huy được năng lực công tác của mỗi cá nhân cán bộ đồng thời khắc phục, giải quyết được những hạn chế đang tồn tại ở mỗi đơn vị trường Như vậy có thể thấy nội dung LCCB thể hiện trong việc điều động và bổ nhiệm những cán bộ (đặc biệt là cán bộ trẻ) có năng lực vào những chức vụ lãnh đạo, quản
lý theo yêu cầu nhiệm vụ, đồng thời cũng là khâu giúp cho cán bộ nắm bắt
Trang 34thực tế công việc, rèn luyện bản thân, tích lũy kinh nghiệm có thể đảm đương các chức vụ cao hơn; đó cũng còn là việc bố trí những cán bộ có năng lực công tác, có chiều hướng phát triển tới công tác tại các đơn vị khác (thường là các đơn vị khó khăn hoặc yếu kém) một mặt để rèn luyện cán bộ mặt khác tạo sự chuyển biến tại các đơn vị nơi đến; đó cũng còn là việc bố trí cán bộ tại các đơn vị vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn tới công tác tại các đơn vị trung tâm
Việc LCCB mới thay thế cán bộ cũ được tiến hành trong các trường hợp sau: khi cán bộ cũ không hoàn thành nhiệm vụ, đã có thời gian giũ chức
vụ đủ 02 nhiệm kỳ, nghỉ chế độ hoặc có những biểu hiện tiêu cực trong công tác chỉ đạo, điều hành, vi phạm chuẩn mực về đạo đức, sống tùy theo mức
độ mà những cán bộ này được điều động bố trí công tác với chức vụ tương tương hoặc thấp hơn ở các đơn vị khác hay thậm chí miễn nhiệm chức vụ Cũng có thể sảy ra trường hợp cán bộ cũ có kết quả công tác tốt được bố trí chức vụ cao hơn, từ đó nảy sinh nhu cầu cần CBQL Như vậy, LCCB có liên quan đến công tác điều động, bổ nhiệm và cả miễn nhiệm CBQL
Có 03 hình thức luân chuyển chính: luân chuyển từ cấp trên xuống cấp dưới; luân chuyển ngang: từ một đơn vị sang một đơn vị khác cùng cấp; luân chuyển từ cấp dưới lên cấp trên trên
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG HỌC Ở HUYỆN TIÊN YÊN
1.3.1 Đặc điểm nghề nghiệp
1.3.1.1 Cán bộ quản lí trường mầm non
CBQL trường mầm non là bộ phận cán bộ giữ các chức vụ quan trọng nhất trong các trường mầm non, thường phải kiêm nhiệm một hoặc một số chức vụ khác trong công tác Đảng, đoàn thể Tuy số lượng không nhiều, chiếm khoảng 5% tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên trường mầm non,
Trang 35nhưng lại có ảnh hưởng quan trọng đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên tại các trường mầm non cũng như tổ chức công việc tại các nhà trường
Đây là đội ngũ cán bộ trưởng thành từ công tác giảng dạy, chủ yếu chủ yếu được hình thành từ nguồn cán bộ trong quy hoạch tại chỗ, một số đồng chí được điều động, luân chuyển từ nơi khác đến song vẫn là trong nội bộ giữa các
cơ quan, đơn vị, trong huyện Trong những năm qua, luôn được bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, lý luận chính trị, công tác quản lý nhà nước nên 100%
đã chuẩn hóa, đa số có sự am hiểu về kiến thức chuyên môn, về đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng ở trong nước
và ở địa phương
Cán bộ, lãnh đạo, quản lý trường Mầm non đều do tập thể BTV Huyện
uỷ xem xét ra nghị quyết, quyết định luân chuyển, bổ nhiệm, BNL miễn nhiệm Do vậy đều là đối tượng điều chỉnh của quy chế bổ nhiệm, BNL hiện hành, được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ có xem xét đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực trình độ, kết quả hoàn thành nhiệm
vụ, quan hệ với quần chúng Trong quá trình đó họ một mặt chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp của BTV Huyện uỷ Đồng thời họ phải chịu sự giám sát, kiểm tra, đánh giá của các cơ quan, tổ chức có liên quan và quần chúng nhân dân nơi công tác và nơi cư trú Đội ngũ cán bộ cán bộ lãnh đạo quản lý luôn được Ban Thường vụ Huyện uỷ, Ủy ban nhân dân huyện quan tâm thường xuyên lãnh đạo chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn, vì vậy trong nhưng năm gân đây , số lượng đã được tăng lên, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, chất lượng được nâng lên rõ rệt
Do bậc học mầm non mới được củng cố, phát triển mở rộng trong những năm qua, nên đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trường mầm non huyện
Trang 36Tiên Yên có tuổi đời bình quân không cao (tuổi bình quân 39 tuổi) do vậy đa phần có sức khoẻ tốt, có sự năng động, dám nghĩ, dám làm của tuổi trẻ Là huyện miền núi nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, nhưng số cán bộ là người dân tộc thiểu số còn ít (chiếm 16%), 100% cán bộ là nữ Một số đồng còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến lạc hậu tư tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ, biểu hiện ra thành những bệnh cá nhân chủ nghĩa như: Hẹp hòi, ích
kỷ, kinh nghiệm, cục bộ, địa phương, thiếu tầm nhìn trong công việc
Trong đội ngũ cán lãnh đạo, quản lý trường mầm non nhiều đồng chí
đã gắn bó với ngành học mầm non từ những ngày đầu nên ít có điều kiện học tập chính quy có hệ thống tại các trường đại học, trung học chuyên nghiệp,
mà chủ yếu là học tập các hệ đào tạo, bồi dưỡng không chính quy, trong thời gian tại chức sau này và tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn; trình
độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ trên cũng còn bất cập trước yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc tế về kinh tế Điều đó đòi hỏi trong những năm tới phải tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, từng bước bố trí xắp xếp, đội ngũ cán bộ hợp lý hơn
1.3.1.2 Cán bộ quản lí trường tiểu học
Giống như đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trường mầm non, đội ngũ cán bộ lãnh đạo trường tiểu học là bộ phận cán bộ giữ các chức vụ quan trọng nhất trong các trường tiểu học, chiếm khoảng 5% tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên Trong những năm qua, đội ngũ CBQL trường tiểu học có vai trò rất to lớn trong việc xây dựng nền giáo dục tiểu học, góp phần xứng đáng vào việc loại bỏ tận gốc nạn xóa mù chữ, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học tiến tới phổ cập giáo dục THCS
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trường tiểu học được lựa chọn bổ nhiệm từ những giáo viên mà trong đó đa số có chuyên môn vững vàng, có uy
Trang 37tín cao đối với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, có phẩm chất chính trị tốt,
có lối sống lành mạnh, đúng mực, có năng lực tổ chức, quản lý, chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; có khả năng nghiên cứu khoa học, chủ trì xây dựng hoặc thẩm định các đề án, chuyên đề công tác liên quan đến lĩnh vực được phân công phụ trách, có truyền thống yêu quê hương, đất nước, cần cù chịu khó lao động, sản xuất, cố gắng, tích cực học tập công tác để vươn lên, chủ động sáng tạo trong công việc, có tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết gắn
bó với cộng đồng, gần gũi với quần chúng nhân dân, được quần chúng nhân dân tín nhiệm
Cán bộ, lãnh đạo, quản lý trường tiểu học thuộc diện cán bộ Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý do tập thể Ban Thường vụ Huyện uỷ xem xét ra nghị quyết, quyết định luân chuyển, bổ nhiệm, BNL miễn nhiệm Do vậy đều
là đối tượng điều chỉnh của quy chế bổ nhiệm, BNL hiện hành, được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ có xem xét đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực trình độ, kết quả hoàn thành nhiệm vụ, quan hệ với quần chúng Trong quá trình đó họ một mặt chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp của BTV Huyện uỷ Đồng thời họ phải chịu sự giám sát, kiểm tra, đánh giá của các cơ quan, tổ chức có liên quan và quần chúng nhân dân nơi công tác và nơi cư trú
Do bậc học tiểu học đã được hình thành và phát triển rất nhiều năm, nên so với bậc học mầm non, đội ngũ CBQL trường tiểu học có số lượng đông đảo hơn, được đào tạo bài bản hơn, toàn diện hơn về trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị, được quy hoạch lựa chọn từ nguồn cán bộ, giáo viên đông đảo và phong phú hơn, do vậy có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc trong giai đoạn hiện nay tốt hơn
Trang 38Tuy nhiên, trong những năm qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trường tiểu học thuộc huyện Tiên Yên còn bộc lộ một số những hạn chế sau đây: có độ tuổi bình quân cao (42 tuổi), số lượng là người dân tộc thiểu số còn
ít (9,6%), năng lực quản lý điều hành của một số đồng chí còn hạn chế, còn có những biểu hiện: ích kỷ, cục bộ địa phương, áp đặt, kiến thực quản lý còn yếu, tùy tiện trong quản lý điều hành Tỷ lệ cán bộ học tập các hệ đào tạo, bồi dưỡng không chính quy còn cao; trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán
bộ trên cũng còn bất cập trước yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc
tế về kinh tế Như vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học đáp ứng yêu cầu thời đại hiện nay là điều tất yếu khách quan
1.3.1.3 Cán bộ quản lí trường THCS
Giống như CBQL trường các bậc học mầm non và tiểu học, CBQL trường THCS là bộ phận cán bộ giữ các chức vụ quan trọng nhất trong các trường, thường phải kiêm nhiệm một hoặc một số chức vụ khác trong công tác Đảng, đoàn thể Số lượng không nhiều, có ảnh hưởng quan trọng đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên tại các trường học cũng như tổ chức công việc tại các nhà trường, trưởng thành từ công tác giảng dạy, 100% đã chuẩn hóa, có
sự am hiểu về kiến thức chuyên môn, am hiểu tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng ở trong nước và ở địa phương; có năng lực
tổ chức, quản lý, chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; có khả năng nghiên cứu khoa học, chủ trì xây dựng hoặc thẩm dịnh các đề án, chuyên đề công tác liên quan đến lĩnh vực được phân công phụ trách
Tuy nhiên, so với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các bậc học mầm non và tiểu học, 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý của bậc THCS đều được đào tạo bài bản, hệ CĐSP chính quy, trong quá trình làm công tác quản lý được
Trang 39tham gia bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn, về lý luận chính trị và quản lý nhà nước, có thể nói về trình độ đào tạo và năng lực công tác thì CBQL trường THCS nổi trội hơn so với CBQL các bậc học mầm non và tiểu học Đây chính là nguồn cán bộ dồi dào bổ sung cho các vị trí lãnh đạo tại các phòng ban thuộc Uỷ ban nhân dân huyện và các tổ chức Đảng, đoàn thể, lãnh đạo các xã, thị trấn So với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý bậc học mầm non
và tiểu học, thì đội ngũ CBQL THCS cân đối hơn về giới tính (50% là nam giới) độ tuổi bình quân cao hơn (bình quân 45 tuổi), tuy nhiên trong quá trình công tác cũng bộc lộ mặt yếu như: Hẹp hòi, ích kỷ, kinh nghiệm, cục bộ, địa phương, thiếu kiến thức quản lý, tùy tiện trong quản lý điều hành
1.3.2 Đặc điểm xã hội
1.3.2.1 Hoàn cảnh sống
Đội ngũ CBQL các trường thuộc huyện Tiên Yên, 100% là những người đang sinh sống và lập gia đình tại địa phương, thu nhập chính dựa vào lương, có mức thu nhập cao gấp 2,5 lần mức thu nhập bình quân tại địa phương, do đó bản thân và gia đình cơ bản có đời sống ổn định, mặt khác luôn được sự quan tâm về mọi mặt của cấp ủy chính quyền địa phương, đây là những nhân tố quan trọng giúp người cán bộ yên tâm công tác, gắn bó với công việc Tuy quê quán, nơi sinh của cán bộ có khác nhau, từ nhiều miền quê trong cả nước như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc nhưng hầu hết đều xuất thân từ nông thôn, gia đình nông dân, công nhân và đều có quá trình làm ăn sinh sống, học tập, công tác nhiều năm tại địa bàn huyện Mặt khác xuất phát từ những đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội địa phương mà bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các trường học thuộc huyện luôn có truyền thống yêu quê hương, đất nước, cần
cù chịu khó lao động, sản xuất, cố gắng, tích cực học tập công tác để vươn lên,
Trang 40chủ động sáng tạo trong công việc, có tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết gắn bó với cộng đồng, gần gũi với quần chúng nhân dân
1.3.2.2 Quan hệ xã hội
Là CBQL các trường học thuộc huyện, 100% bản thân và gia đình đều đang cư trú, sinh sống và gắn bó với địa phương, nên CBQL trường học chịu
sự chi phối của các yếu tố như văn hóa, phong tục, tập quán, đặc biệt là các mối quan hệ: họ hàng, dòng tộc, quen biết Đa số CBQL trường học thuộc huyện có mối quan hệ tốt với cộng đồng, làng xóm, khu dân cư Bản thân luôn gương mẫu trong công việc chung, có lối sống giản dị, hài hòa, bản thân
và gia đình luôn chấp hành tốt những quy định của thôn, bản, khu phố và chấp hành tốt chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước Do vậy được phụ huynh học sinh kính trọng, nhiều đồng chí trở thành những người
có uy tín, có khả năng thuyết phục, cảm hóa và có tầm ảnh hưởng lớn đối với nhân dân trên địa bàn Nhiều đồng chí đã được tín nhiệm bầu vào cấp ủy cơ
sở, hội đồng nhân dân các cấp Tuy vậy cũng đã nảy sinh các mối quan hệ tiêu cực như: mất uy tín tại địa phương và đơn vị công tác, thiếu công bằng trong công việc, bản thân và gia đình thiếu gương mẫu, không chấp hành đầy đủ quy định của địa phương, thôn, bản khu phố
Có thể thấy các mối quan hệ xã hội vừa là nhân tố giúp cho người CBQL trường học thuận lợi hơn trong công tác quản lý, điều hành như: huy động sự tham gia của cộng đồng trong công tác xã hội hóa giáo dục, tuyên truyền nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhưng cũng đồng thời là các yếu tố gây trở ngại trong công việc, khiến cho người CBQL trường học dễ lâm vào tình trạng nể nang, thiên vị, cục bộ địa phương như: sức ép từ sự ảnh hưởng của dòng họ, của các mối quan hệ quen biết, sự ảnh hưởng của các lợi ích kinh tế đối với bản thân và gia đình Như vậy trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi cần có sự luân chuyển, sắp xếp bố trí CBQL nói