1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft Word - [Nhóm 5] Đặc điểm truyện ngắn Macxim Gorki.docx

62 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm truyện ngắn Macxim Gorki
Tác giả Phạm Hồng Hiếu Anh, Nguyễn Thị Như Hảo, Vũ Ngọc Khải Huyền, Phạm Thành Khang, Trần Duy Luân, Lê Diễm My, Bùi Thị Diễm Trâm
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Nâu
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Văn học Nga
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word [Nhóm 5] Đặc điểm truyện ngắn Macxim Gorki docx TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM & NHÓM 5 HỌC PHẦN VĂN HỌC NGA ĐỀ TÀI ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN MACXIM GORKI GVHD TS TRẦN THỊ NÂU CẦN THƠ 2[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM - & -

NHÓM 5 HỌC PHẦN VĂN HỌC NGA

ĐỀ TÀI ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN MACXIM GORKI

GVHD: TS TRẦN THỊ NÂU

CẦN THƠ - 2022

Trang 2

HỌC PHẦN: VĂN HỌC NGA DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Bố cục bài báo cáo 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 3

1.1 Cơ sở lý thuyết 3

1.1.1 Khái niệm về truyện ngắn 3

1.1.2 Đặc điểm nội dung của truyện ngắn 3

1.1.3 Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn 5

1.2 Khái quát bối cảnh nước Nga nửa sau thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX 7

1.2.1 Tình hình xã hội 7

1.2.2 Tình hình văn học 8

1.3 Tác giả Macxim Gorki 9

1.3.1 Cuộc đời 9

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 11

1.3.3 Khái quát truyện ngắn M.Gorki 12

CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN MACXIM GORKI 14

2.1 Đề tài nổi bật 14

2.1.1 Cuộc sống của nhân dân lao động nghèo 14

2.1.2 Lí tưởng về người anh hùng 15

2.2 Các kiểu nhân vật nổi bật 17

2.2.1 Con người tự do 17

2.2.2 Nhân vật con người du thủ du thực 26

2.2.3 Nhân vật con người nhỏ bé 28

CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT 34

3.1 Nghệ thuật trần thuật 34

Trang 4

3.1.1 Giọng điệu trần thuật 34

3.1.2 Ngôn ngữ trần thuật 38

3.1.3 Điểm nhìn trần thuật 42

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 45

3.2.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình 45

3.2.2 Miêu tả nhân vật qua tâm lý 48

3.2.3 Miêu tả nhân vật qua hành động 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 56

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ngược dòng thời gian trở về bên những trang sách của M.Gorki, chúng ta cùng nhìn

lại chặng đường phát triển của một thời kì “phôi thai” với đầy những thắng lợi vẻ vang

Mặc dù tuổi thơ trải qua nhiều đắng cay, bất hạnh nhưng bằng ý chí và tài năng nghệ thuật

đã giúp M.Gorki vượt qua nghịch cảnh và vinh dự trở thành “bậc thầy của chủ nghĩa hiện

thực xã hội chủ nghĩa”, “cánh chim báo bão” của cách mạng Nga thế kỷ XX Gorki đặc

biệt yêu quý dòng Vônga, dòng sông “mẹ” đường bệ, cường tráng, ấm áp tràn đầy nước

nuôi dưỡng bao cánh đồng màu mỡ, trù phú của tổ quốc Nga Thế giới quan, nhân sinh quan và quan niệm về con người, về nghệ thuật và sứ mệnh của người nghệ sĩ được M.Gorki thể hiện rõ nhất ở thể loại truyện ngắn Đóng góp quan trọng của Gorki ở thể loại truyện

ngắn là sự kết hợp đan xen giữa “tính chất lãng mạn và tính chất hiện thực” rất độc đáo và

“bướng bỉnh” Hiện thực cuộc sống hiện ra trong những truyện ngắn của Gorki với hai màu

sáng - tối, làm nảy sinh cả niềm vui sướng lẫn nỗi khổ đau, sự cảm thông lẫn lòng căm phẫn Thiên tài văn chương Gorki đã dùng cả đời để tận hưởng bản hòa ca trầm – bổng của ngôn từ nghệ thuật, ông thay nốt nhạc bằng ngôn từ để đưa vào các sáng tác văn chương

Macxim Gorki từng nói: “Một quyển sách là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, ta tách

rời con thú để đến với con người” Mỗi tác phẩm nghệ thuật giúp ta rời xa cái tầm thường,

cái đáng chê trách để đến với những cái tốt đẹp hơn, đó cũng chính là cái thiên chức cao

cả, là cầu nối đúng đắn nhất khi bàn về văn học Trong tuyển những truyện ngắn hiện thực

thời kì đầu của M.Gorki, chúng ta dễ dàng nhận thấy hai lớp tác phẩm: một lớp tập trung vào phê phán, đả kích, những con người chỉ biết sống hưởng thụ trên xương máu của nhân dân lao động và lớp tác phẩm miêu tả cuộc sống của nhân dân, những con người cùng cực trong xã hội

Nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Đặc điểm truyện ngắn của Macxim Gorki” để một

lần nữa thổi bùng lên ngọn lửa tự hào về những đóng góp mà M Gorki đã mang đến cho nền văn học nước nhà nói riêng và nền văn học thế giới nói chung Đến với đề tài này, nhóm chúng tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của truyện

ngắn Macxim Gorki qua các tác phẩm được nhóm chọn lọc: Bà lão Izerghin, Manva, Người

bạn đường của tôi, Bài ca con chim ưng, Một con người ra đời,…

Sau khi một loạt những truyện ngắn đầu tay của M.Gorki ra đời đã được đông đảo độc

giả, giới phê bình, sáng tác bắt đầu chú ý, bình luận về nhà văn trẻ với bút danh Cay đắng

Trang 6

2

(Gorki) Thông qua những sáng tác của Gorki, chúng ta nhận thấy sự ca ngợi của tác giả về những khía cạnh của tâm hồn con người và đời sống Nga hiện tại Một tiếng nói mới tài hoa và độc đáo xuất hiện trên văn đàn văn học Nga tựa như một ngôi sao sáng trên bầu trời, một hương sắc mới trong cánh rừng đại ngàn văn học của nước Nga vĩ đại

2 Bố cục bài báo cáo

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài báo cáo được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Đặc điểm nội dung truyện ngắn Macxim Gorki

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Macxim Gorki

Trang 7

3

NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Khái niệm về truyện ngắn

Xoay quanh về thuật ngữ truyện ngắn (tiếng Anh: short story; tiếng Nga: novella) có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau từ giới nghiên cứu Trong Từ điển thuật ngữ văn

học, Trần Đình Sử định nghĩa: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ; truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến

cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” Tác giả Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học đưa ra cách hiểu truyện ngắn là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận đọc nó liền một mạch không nghỉ”

Về phía các nhà văn, Nguyễn Quang Thân quan niệm: “Truyện ngắn là một truyện

được kể lại, được dựng lại một cách ngắn gọn Vậy là truyện ngắn chở một câu chuyện!”

Hay Nguyên Ngọc cho rằng: “Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung

không nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều

vẻ Có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ một vài giây thoáng qua”

Như vậy khi bàn về thuật ngữ truyện ngắn, chúng ta nhận thấy mỗi nhà nghiên cứu,

nhà văn đều có một quan điểm khác nhau Một phần bởi truyện ngắn là thể loại “mang tính

co giãn và sẽ tiếp tục tăng cường tính co giãn của mình” (Lại Nguyên Ân) Song, có thể

rút ra được một số đặc trưng cơ bản nhận được sự thống nhất từ các nhà nghiên cứu: Truyện ngắn là một hình thức tự sự bằng văn xuôi cỡ nhỏ, dung lượng của truyện ngắn gọn và xoay quanh một chủ đề nhất định; truyện ngắn có thể đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Vì có giới hạn về dung lượng nên nội dung trong truyện ngắn giống như một lát cắt của đời sống, một giai đoạn, thậm chí một khoảnh khắc, một phút chốc có ý nghĩa trong cuộc đời nhân vật Điều này buộc nhà văn phải chắt lọc các chi tiết, hàm súc về ngôn ngữ

1.1.2 Đặc điểm nội dung của truyện ngắn

Trong một tác phẩm tự sự nói chung và truyện ngắn nói riêng, đề tài là một yếu tố quan trọng Đề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa, miêu tả và thể hiện, tạo thành thế giới hình tượng trong tác phẩm, đồng thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt ra những vấn

Trang 8

4

đề mà mình quan tâm Từ đề tài nhà văn triển khai thành những chủ đề Đó là những vấn

đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm, nêu lên trong tác phẩm mà nhà văn cho là quan trọng nhất Mặc dù truyện ngắn có thể “nhỏ” về dung lượng nhưng không đồng nghĩa nó bị hạn chế về mặt lựa chọn đề tài và chủ đề Nội dung truyện ngắn phản ánh nhiều mặt của đời sống, nhiều vấn đề có tính chất thời sự xã hội và xoay quanh cuộc sống muôn màu muôn vẻ Một tác phẩm truyện ngắn có thể đề cập đến một vấn đề trọng đại hoặc một sự kiện thường nhật

Tư tưởng tác phẩm văn học là nhận thức, lý giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung

cụ thể sống động của tác phẩm văn học, cũng như những vấn đề nhân sinh đặt ra trong đó

Do đặc trưng thể loại, nên truyện ngắn có dung lượng ngắn hơn tiểu thuyết, nhưng về khả năng truyền tải nội dung và chủ đề tư tưởng, có thể nói nó không thua kém tiểu thuyết Vì truyện ngắn có thể phản ánh được đầy đủ và sâu sắc thực tế cuộc sống nên truyện ngắn cũng có khả năng truyền tải các triết lí nhân sinh đương đại mà nhà văn muốn gửi gắm Do tính cô đúc của truyện ngắn nên đôi khi những tư tưởng mà nhà văn gửi gắm thường có tính

đa nghĩa, đa sắc buộc người đọc phải không những suy ngẫm và tìm tòi

Nhân vật là một thành phần cốt lỗi không thể thiếu trong các tác phẩm tự sự Qua nhân vật, chúng ta phần nào hiểu rõ hơn quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người

Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển Thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học

Nhân vật văn học có thể có tên riêng, cũng có thể không có tên riêng” Truyện ngắn do “lệ thuộc vào số trang eo hẹp, cốt truyện tập trung, sự kiện dồn dập, đường dây chặt chẽ, cho nên số lượng phân phối nhân vật cũng không phải nhiều” (Trần Thanh Địch, 1998) Số

lượng nhân vật trong truyện ngắn thường không nhiều vì thế mối quan hệ giữa các nhân vật trong truyện ngắn thường ít phức tạp So với tiểu thuyết, nếu nhân vật chính của tiểu thuyết

là một cuộc sống rộng lớn thì nhân vật của truyện ngắn chỉ là một mảnh nhỏ của cuộc sống

ấy Nhân vật truyện ngắn thường phản ảnh những khoảnh khắc của con người trong đời sống, vì thế, truyện ngắn đa phần chỉ kể về một đoạn đời, một sự kiện hay một phút chốc thoáng qua cuộc đời nhân vật Cũng như thế, các nhà văn viết truyện ngắn không thể khắc hoạ quá trình phát triển, biến đổi tính cách nhân vật cụ thể, chi tiết như trong tiểu thuyết Mặc dù vậy, những nhân vật trong truyện ngắn vẫn có thể mang lại một ấn tượng đậm sâu đối với độc giả và vẫn có khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống đa dạng, phức tạp

Về chi tiết nghệ thuật, đây có thể xem là một thành tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn

cho một tác phẩm truyện ngắn Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Truyện ngắn có thể không

có cốt truyện nhưng không thể nghèo chi tiết” Đồng quan điểm về tầm quan trọng của chi

tiết trong truyện ngắn, nhà văn Nguyễn Công Hoan nhận định: “Truyện ngắn không phải

Trang 9

5

là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” Qua các ý kiến trên có thể thấy

chi tiết chính là sự sống của truyện ngắn, bởi lẽ bất kì những chuyển biến, không gian, tình huống, nhân vật,…đều được tạo nên từ các chi tiết nghệ thuật, có những chi tiết đắt giá, chính xác sẽ làm tiền đề cho cốt truyện phát triển Đối với truyện ngắn, do giới hạn về dung lượng nên các chi tiết phải có sự chọn lựa, chắt lọc kỹ càng từ người viết, mỗi chi tiết là

một “bụi vàng” nên chi tiết phải thể hiện được chiều sâu, có độ sắc sảo cao Nhiều nhà

nghiên cứu cho rằng, trong chừng mực nào đó, ý nghĩa tác phẩm được soi sáng từ bên trong các chi tiết, vì thế chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn phải hàm chứa một cách nhìn, cách đánh giá của nhà văn về cuộc sống

1.1.3 Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn

Biện pháp nghệ thuật cơ bản để tạo thành các văn bản văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng chính là trần thuật Do đó, khi tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm trần thuật cũng như các yếu tố liên quan đến trần thuật

Giáo trình Lý luận văn học tập 2 do Trần Đình Sử chủ biên đã xác định khái niệm

trần thuật là: “hành vi ngôn ngữ nhầm kể, thuật, miêu tả, cung cấp thông tin về sự kiện,

nhân vật, theo một thứ tự nhất định trong không gian, thời gian và về ý nghĩa” Trong tác

phẩm tự sự, trần thuật được thể hiện bởi hai nhân tố: người kể chuyện và chuỗi ngôn từ Người kể chuyện (người trần thuật) là một vai do nhà văn tạo ra, ẩn mình sau mặt giấy

để thuật lại câu chuyện bằng ngôn từ nghệ thuật Một tác phẩm - một câu chuyện hấp dẫn

và ý nghĩa cần được kể lại bởi một tác giả, tức là một người kể chuyện có phong cách Phong cách đó được thể hiện qua cách lựa chọn ngôi kể, vai kể và điểm nhìn trần thuật

Về ngôi kể, có hai ngôi kể phổ biến là ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Ở ngôi kể thứ

nhất, người kể xưng “tôi”, hóa thân thành một nhân vật trong câu chuyện và kể lại những điều mình trông thấy Vì thế, những sự kiện thường chỉ tập trung xoay quanh những điều

mà nhân vật “tôi” biết được và các quan điểm, tư tưởng được đưa ra có phần chủ quan Tuy nhiên, ngôi kể này giúp câu chuyện chân thực, mang đậm dấu ấn cái tôi cá nhân Ở ngôi kể thứ ba, người kể ẩn mình, không tham gia vào câu chuyện mà đứng ngoài quan sát tất cả hành động, tâm trạng của nhân vật Đây là ngôi kể mang lại tự do cho người kể chuyện Người kể có thể đưa vào sáng tác tất cả những gì diễn ra, có thể đi sâu khám phá nội tâm của tất cả các nhân vật và nêu lên những quan điểm, tư tưởng đa chiều của bất kỳ ai trong tác phẩm

Về vai kể, Trần Đình Sử quan niệm “người kể là một vai mang nội dung” Tùy vào

mục đích và nội dung tư tưởng, tác giả có thể chọn cho mình một vai trong câu chuyện mà chính mình dựng lên Vai kể là vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm Ở ngôi kể thứ

Trang 10

6

nhất, vai của người kể chuyện chính là nhân vật “tôi” Ví dụ, vai của M Gorki trong tiểu

thuyết “Thời thơ ấu” là cậu bé Alexei Ở ngôi kể thứ ba, người kể chuyện lần lượt “nhập”

vào vai các nhân vật khác khi miêu tả tâm trạng, cảm xúc của họ Vai kể trong sáng tác văn học rất đa dạng và linh hoạt Một số văn bản trần thuật phức tạp có thể có đến hai người kể chuyện, mỗi người mang một vai kể khác nhau Điều đó tạo thành kết cấu tầng bậc hay còn gọi là truyện lồng trong truyện Kết cấu và cách kể này phổ biến trong các truyện ngắn của

M Gorki như Bà lão Izerghin, Maka Tsuđra Trong những câu chuyện này, ngôi kể thay

đổi linh hoạt

Để có được một câu chuyện hoàn chỉnh, bên cạnh ngôi kể, vai kể, người kể chuyện

cần lựa chọn cho mình một điểm nhìn nhất định.“Điểm nhìn là vị trí người kể chuyện dựa

vào để quan sát, cảm nhận, trần thuật, đánh giá các nhân vật và sự kiện” (Trần Đình Sử)

Có nhiều loại điểm nhìn: Điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn không gian, điểm nhìn di động, điểm nhìn thời gian, điểm nhìn tâm lý, điểm nhìn tư tưởng và ý thức hệ Bên cạnh điểm nhìn của người kể chuyện còn có điểm nhìn của nhân vật Điểm nhìn của nhân vật chỉ xoay quanh bản thân họ, còn điểm nhìn của người kể chuyện thì bao quát

và có định hướng riêng Trong tác phẩm, điểm nhìn có thể thay đổi linh hoạt

Lời của người kể chuyện để dệt nên tác phẩm chính là lời trần thuật Một số yếu tố trong lời trần thuật là: lược thuật, dựng cảnh và miêu tả chân dung, phân tích bình luận và giọng điệu Lược thuật là phần tác giả cung cấp thông tin về nhân vật, bối cảnh, tình huống nhằm dự báo cho những biến cố sắp xảy đến Dựng cảnh và miêu tả chân dung là phần tái hiện trực tiếp chân dung, hành động, biến cố, đối thoại của các nhân vật, qua đó gián tiếp miêu tả tâm lí nhân vật và đưa ra dấu hiệu cho những biến cố mới Phân tích và bình luận

là phần người kể chuyện bày tỏ quan điểm của mình, được thể hiện một cách “thấm đượm

tình cảm, cảm xúc” Giọng điệu trần thuật thể hiện “cái giọng điệu riêng mang thái độ, tình cảm và đánh giá riêng của tác giả” (Trần Đình Sử)

Giọng điệu được xác định qua cách xưng hô, cách dùng từ ngữ của người kể chuyện

và trong lời thoại của nhân vật Đây là yếu tố quan trọng thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả đối với nhân vật hoặc với sự kiện được kể đến trong tác phẩm Có rất nhiều sắc thái của giọng điệu Đó có thể là giọng thân mật tâm tình, giọng xa lạ, giọng châm biếm, giễu nhại, khinh bỉ, giọng ngợi ca, giọng lạnh lùng, hay giọng triết lý… Qua việc tìm hiểu giọng điệu, người đọc có thể có được hình dung về thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn cũng như

tư tưởng chủ đạo của toàn câu chuyện

Khi tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn, cần phân biệt “lời trần thuật” và

“ngôn ngữ trần thuật” Lời trần thuật là câu từ nghệ thuật làm nên câu chuyện Ngôn ngữ trần thuật rộng hơn rất nhiều, đó là cách tác giả lựa chọn và sắp xếp câu chữ, là sự tổng hòa

Trang 11

Truyện ngắn là một thể loại năng động nên trong quá trình phát triển sẽ còn có những biến đổi cho phù hợp với thời đại Chính vì thế đặc điểm của truyện ngắn cũng sẽ theo đó

mà biến đổi

1.2 Khái quát bối cảnh nước Nga nửa sau thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

1.2.1 Tình hình xã hội

Tình hình xã hội nước Nga nửa sau thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX vô cùng phức tạp, chế

độ nông nô chuyên chế khủng hoảng nghiêm trọng, song song đó chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ nhưng vẫn không đủ sức lật đổ nhà nước phong kiến, tồn tại hai hình thức phong kiến và tư bản Đối với nhà nước phong kiến, Nga hoàng ra sức áp bức, vơ vét của cải của nhân dân, ăn chơi xa xỉ, kinh tế ngày càng tụt hậu khiến cho nhân dân khốn khổ, bất bình, lầm than

Sau chiến thắng trận Borodino, Nga hoàng ngày càng phản động khiến cuộc sống nhân dân ngày càng bất hạnh Nhiều cuộc đấu tranh chống Nga hoàng nổ ra nhưng nhanh chóng bị đàn áp Trong đó phải kể đến sự xuất hiện của một số nhóm văn học, triết học chuyên bàn về văn học và những vấn đề chính trị thời sự như: Gershen, Ogariov, Bielinsky,…

Ngày 5/3/1861, Nga hoàng ban bố luật cải cách nông nô, những điều luật chỉ có lợi cho giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, quần chúng nhân dân lao động vẫn bị bóc lột nặng

nề, vì thế, những năm 60, họ phản ứng dữ dội bằng những phong trào cách mạng

Ngày 19/12/1861, Nga hoàng ra sắc lệnh bãi bỏ chế độ nông nô, thực chất là để tránh các cuộc bạo động của nhân dân Bên cạnh đó, nó đã tạo điều kiện cho kinh tế tư bản phát triển, biến nước Nga từ một nước phong kiến trở thành một nước quân chủ tư bản Giai cấp

Trang 12

8

công nhân hình thành và lớn mạnh, nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản theo hướng xã hội chủ nghĩa cũng từ đó mà bắt đầu

Từ năm 1842 - 1855, diễn ra sự đấu tranh gay gắt giữa 2 trường phái: phái sùng Slavo

- hướng về nước Nga cổ xưa, chế độ quân chủ và nhân dân; phái sùng Phương Tây hướng đến cải cách tự do mang tính chất cải lương từ trên xuống và chế độ quân chủ lập hiến Bên cạnh đó còn có nhóm của Belinsky và Gershen hoạt động theo chủ nghĩa duy vật lịch sử và hướng đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhóm Petrasevsky tuyên truyền chủ nghĩa xã hội không tưởng ở Pháp Nga hoàng nhanh chóng kết tội nhiều người trong các nhóm và đày

đi Siberia

Trí thức Nga phân bố thành : phái tự do (chủ trương cải cách, không sử dụng bạo lực), phái dân chủ cách mạng (chủ trương giải quyết bằng bạo lực, đưa nước Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua công xã nông thôn) và phái “Dân túy” (chủ trương đi vào dân) Nhóm này tiến hành ám sát Nga hoàng Alexandr đệ nhị, nhưng Alexandr đệ tam lên ngôi còn phản động hơn với những chính sách khủng bố và đàn áp

Cuối những năm 90, chủ nghĩa tư bản ở Nga phát triển mạnh mẽ, cùng lúc thỏa hiệp với Nhà nước nông nô chuyên chế xây dựng hình thái áp bức phong kiến - tư bản làm cho nhân dân rơi vào cực khổ, nhiều nạn đói xảy ra không thể cứu vãn Song song đó là sự phát triển nhanh chóng của giai cấp vô sản và sự phân hóa, biến chất của giai cấp nông dân Năm

1895, giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc đấu tranh chống Nga hoàng, chống chủ nghĩa tư bản

và tàn tích của chế độ nông nô

gia đình và xã hội như Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy, Tội ác và hình phạt của Dostoevsky,… Thể loại trường ca và kịch có nhiều đổi mới như Những người phụ nữ Nga

của Nekrasov,…

Về nội dung, các tiểu thuyết Nga trong giai đoạn này thường nói về những mâu thuẫn

trong xã hội giữa chuẩn mực đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội như Anna Karenina của

Lev Tolstoy, Nội dung của các tác phẩm giai đoạn này còn xuất hiện kiểu “con người

Trang 13

9

thừa”, “con người tìm đường”,… như trong Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy,…

Thể loại truyện ngắn cũng chiếm vị trí đặc biệt với nội dung viết về nông thôn, đời sống tinh thần của người Nga và phê phán thái độ, đạo đức của tầng lớp tiểu tư sản

Văn học những năm 90 của thế kỉ XX tồn tại với nhiều khuynh hướng sáng tác văn học, trong số đó đặc biệt là dòng văn học hiện thực phê phán với một số sáng tác của các tác giả như Macxim Gorki, Chekhov,… Đặc biệt là Macxim Gorki, nhà văn tiên phong trong nền văn học Xô Viết, đã và đang giữ vai trò của mình trong việc góp phần làm cho văn học Nga chuyển mình sang giai đoạn mới

1.3 Tác giả Macxim Gorki

1.3.1 Cuộc đời

Macxim Gorki (1868 - 1936) tên thật là Alecxei Makximovitch Peskôp, bút danh Macxim Gorki (cay đắng) để tưởng nhớ thân phụ của nhà văn là Macxim Xapvatiêvich

Pêscôp, còn Gorki có nghĩa là “Cay đắng” thì chủ yếu để nói về cuộc đời đầy gian truân,

chìm nổi của nhà văn thời trẻ, hay chính ông cũng tự thừa nhận mình là nhà văn của sự cay đắng, đồng cảm với những số phận cay đắng Macxim Gorki là một nhà văn kiệt xuất của nền văn học Nga vào thế kỷ XX, người đặt nền móng cho trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn chương và là một nhà hoạt động chính trị người Nga

Tuổi thơ ông trải qua nhiều bất hạnh Năm 1871, gia đình ông chuyển tới Axtơrakhan, sau đó bố ông vì chạy chữa cho ông mà bị lây bệnh dịch tả và qua đời, mẹ ông cũng mất không lâu sau đó, từ khi bố mất, ông lại chuyển tới Nigiơni Nôpgôrốt ở với ông bà ngoại Sau đó việc làm ăn của ông ngoại sa sút nên ông phải nghỉ học và vào đời kiếm sống khi chỉ mới 10 tuổi Dù phải làm việc cực khổ, bươn chải kiếm sống, nhưng trong ông vẫn cháy bỏng niềm đam mê mãnh liệt với văn chương, sách vở

Alecxei nếm trải đủ những cay đắng ngọt bùi trên đoạn đường kiếm sống đầy vất vả, phải trải qua nhiều nghề từ học việc ở một cửa tiệm giày, làm khuân vác, hay thậm chí là bới rác, đi ở đợ nhưng nhờ thế mà ông có điều kiện để tiếp xúc với những con người lao khổ, tiếp xúc đủ với mọi loại người khác nhau

Dẫu cuộc sống có khó khăn thế nào thì niềm đam mê đối với sách vở luôn rực cháy trong Alecxei, ông học từ chính thực tế cuộc sống của mình, từ những con người bần cùng dưới đáy xã hội và từ sách vở, ông tận dụng mọi thời gian, điều kiện để đọc sách và tự học Năm 1884, ông đến Kadan, lúc ấy khát khao đặt chân vào ngưỡng cửa của trường Đại học vẫn còn rất xa vời với ông Ông vừa đi làm kiếm sống, vừa miệt mài đọc sách, dành thì giờ dự các buổi thảo luận của sinh viên… Cũng trong thời gian này ông được tiếp xúc với

Trang 14

10

các tài liệu Mác xít như Tư bản của K Mác và các tác phẩm của Plêkhanôp Do sự lãng mạn bồng bột của tuổi trẻ, non nớt không hiểu được sự đời, chán nản và tuyệt vọng mà chàng trai Alecxei đã dùng súng lục tự sát vào ngày 12 tháng 12 năm 1884, khi đó ông chỉ

mới 19 tuổi Để rồi sau này khi nhắc lại, ông nói “Về sau này, trong suốt bao nhiêu năm,

mỗi khi nhớ lại câu chuyện ngu xuẩn ấy, tôi lại cảm thấy một nỗi hổ thẹn da diết và tôi khinh bỉ chính mình”

Alecxei cùng với một công nhân đường sắt tên Rômaxơ mở một cửa hiệu hở làm cơ

sở truyền bá tư tưởng cách mạng của phái dân túy cho nông dân Mùa thu năm 1888, cửa hàng bị đốt cháy, Alecxei phải đi làm công, phụ việc, làm người gác đêm, coi hàng để kiếm sống Sau đó bị cảnh sát theo dõi và để ý do lập nhóm tự học trong công nhân Năm 1889,

ông viết Bài ca cây sồi già nhưng không mấy thành công

Những năm 1891 - 1892 là những năm đói kém khủng khiếp nhất nước Nga, ông đã chu du khắp mọi miền đất nước, vừa đi vừa lao động kiếm sống bằng mọi nghề khác nhau, từng làm thợ khuân vác ở Rôxtôp, sống với dân chài ở hồ Đơnhêprôxcơ và đi làm mỏ muối, hái nho thuê, cùng đồng cam cộng khổ với những người chân đất trên khắp mọi nẻo đường, tận mắt chứng kiến và cảm nhận những cảnh đời khổ cực của nhân dân Truyện

ngắn đầu tay Makar Tsudra được ra mắt bạn đọc trên báo “Kapaz” dưới bút hiệu Macxim

Gorki

Ngày 11 tháng 5 năm 1898, Gorki bị bắt và giải đi Tifix do cảnh sát tìm được một tấm ảnh ông ăn vận kiểu nông dân Đến ngày 29 tháng 5 cùng năm, Gorki được thả do tiếng nói bất bình từ dư luận gây sức ép lên chính quyền Năm 1901, Gorki bị cảnh sát bắt ở Petecbua

do nghi ngờ ông viết truyền đơn phản đối việc đàn áp sinh viên, sau đó đã thả ông ra vì không đủ chứng cứ nhưng chúng lại ra lệnh trục xuất ông khỏi thành phố quê hương Suốt mùa hè năm 1902, ông bị quản thúc ở Ardamax Trong thời gian này ông biết hàng loạt các

vở kịch như: Những người tiểu tư sản (1901), Dưới đáy (1902), Những người ở biệt thự

(1904) Gorki đã quen biết và gần gũi với các bậc thầy văn học như L.Tônxtôi và A.Sêkhốp

Ông luôn bị chính quyền Nga hoàng giám sát chặt chẽ do có liên hệ mật thiết với phong trào cách mạng

Từ năm 1904, Gorki trở thành linh hồn và người tổ chức các tuyển tập Tri thức, nơi

tập hợp các lực lượng văn học tiến bộ Gorki gặp Lênin lần đầu ở Petecbua vào ngày 27 tháng 11 năm 1905 và tình bạn, tình đồng chí bền chặt suốt đời của hai ông bắt đầu từ đó Ngày 7 tháng 12 năm 1905, Gorki về Matxcơva và trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh

vũ trang của công nhân, cũng trong năm 1905 ông trở thành Đảng viên của Đảng Bônsêvích Năm 1934, Gorki chủ tọa Đại hội Nhà văn Liên xô lần thứ nhất và được bầu làm chủ tịch

Trang 15

vì cụ đã đi vắng Trở về quê hương, ông mang theo bản thảo Bài ca cây sồi già viết bằng lối văn xuôi có nhịp điệu Sau này M.Gorki kể lại: “Chỉ bằng mười tiếng gọn lỏn, nhà văn

đàn anh Kôrôlencô đã phá tan tành cái vật bằng gỗ đó” Về sau khi nói về tác phẩm đầu

tay này, Gorki nhớ mãi một câu trong bài ca đó: “Tôi đến cõi đời này để mà không thỏa

thuận”

Năm 1892, cho ra mắt truyện ngắn đầu tiên Makar Tsudra trên báo “Kapaz” dưới bút

danh Macxim Gorki (Cay đắng) Sau thành công của tập truyện ngắn đầu tiên, ông hăng say sáng tác hàng loạt những truyện ngắn, thơ văn xuôi Hai tập ký và truyện ngắn (gồm hai chục truyện chọn lọc) (1898) đã đưa tên tuổi M.Gorki nổi tiếng khắp nước Nga Tiểu thuyết đầu tay Fôma Gorđêep phê phán giai cấp tư sản và nguyên do dẫn nó đến diệt vong Năm 1901, Gorki đã chiếm lĩnh một lĩnh vực mới là nghệ thuật viết kịch Vở kịch

được viết đầu tiên mang tên Những người tiểu tư sản (1901), sau đó là các vở Dưới đáy

(1902), Những người ở biệt thự (1904) Vở Dưới đáy được công diễn ở Nga vào tháng 12

năm 1902 đã tạo nên tiếng vang lớn khắp châu Âu

Giai đoạn năm 1905 - 1916 là thời gian hoạt động cách mạng sôi nổi, thời kỳ tài năng

chín muồi với nhiều truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, kịch Gorki được chứng kiến tận mắt

gần như toàn bộ diễn biến cuộc cách mạng Nga đầu tiên năm 1905 Ông viết lời kêu gọi phản đối chính quyền Nga hoàng đã gây ra vụ tàn sát đẫm máu các công nhân biểu tình hòa bình ngày 9 tháng 1, được gọi là sự kiện “Ngày Chủ nhật đẫm máu” Trong khoảng thời gian này ông đã làm quen và kết bạn với Lênin, dốc lòng ủng hộ cách mạng bằng cả sức

lực và tài chính Ông viết các bút ký phê phán chủ nghĩa đế quốc như Nước Pháp đẹp,

Thành phố của con quỷ vàng Đồng thời viết hai tác phẩm nổi tiếng là tiểu thuyết Người

mẹ và vở kịch Những kẻ thù Tác phẩm Người mẹ được xem là tác phẩm đặt nền móng cho

phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa

Cuối năm 1906, Gorki đi Italia, sống ở đảo Capri Năm 1907, là khách mời danh dự

tại Đại hội Đảng lần thứ năm họp tại London, tập Truyện nước Ý (1906 - 1913) được Lênin

Trang 16

12

ca ngợi Đây cũng là khoảng thời gian ông hoàn thành hai tập đầu trong tiểu thuyết tự thuật

ba tập là Thời thơ ấu (1913) và Kiếm sống (1916) Cuốn Tự thú được in năm 1908 bàn về

quá trình tìm kiếm con đường dẫn đến xã hội lý tưởng Năm 1913, ông trở về Nga Đón

mừng cách mạng tháng Mười năm 1917 nhưng Gorki vẫn phát hiện những lệch lạc, cực

đoan, tự phát, thiếu văn hóa bộc lộ đây đó trong những ngày đầu cách mạng qua tập bút ký

Những ý nghĩ không hợp thời

Giai đoạn 1917 - 1936 là thời kỳ tác giả sáng tác sôi nổi trên nhiều thể loại Năm 1919,

ông khởi xướng việc in mấy bộ sách đồ sộ Văn học toàn thế giới, bộ sách Đời doanh nhân…

Đến năm 1921, bệnh lao phổi của ông trở nặng, Lênin đã sắp xếp cho ông đến Italia để chữa

bệnh Vào năm 1928, ông mới trở về Liên Xô, tại đây ông đã viết hai cuốn tiểu thuyết lớn

Sự nghiệp gia đình Artamonov (1925) và Cuộc đời của Klim Shamgin (1925-1936) có giá

trị tổng kết mấy chục năm lao động sáng tạo miệt mài của nhà văn Ông mất ngày 18 tháng

6 năm 1936 “Gorki vĩ đại” thật sự là “lá cờ cắm trên mặt trận cho sự kiến thiết một xã hội

mới”

1.3.3 Khái quát truyện ngắn M.Gorki

Đặc trưng truyện ngắn của Macxim Gorki là ở chỗ ông miêu tả những cảnh đời cay đắng, những số phần cơ cực, cùng quẫn luôn gắn liền với ước mơ về một chiến công hùng

vĩ, về những người dũng cảm, những anh hùng khát vọng tự do Những truyện ngắn thời

kỳ đầu như Makar Tsudra (1892), Nàng tiên bé nhỏ và chàng chăn cừu (1892), Bài ca Chim

Ưng (1895), Bài ca chim báo bão (1901), Bà lão Izerghin hầu hết được xây dựng bằng

bút pháp lãng mạn hòa lẫn cùng bút pháp hiện thực Bút pháp của ông ở thời kỳ này rất đa dạng, ông mô tả chân thật khung cảnh lao động của những người lao động nghèo, đan xen giữa hiện thực và những khát vọng, hình ảnh về người anh hùng Cảm hứng chủ đạo của thời kỳ này là ca ngợi tự do, ca ngợi những người anh hùng, ca ngợi chiến công, ca ngợi cuộc sống lao động

Đặc điểm nổi bật qua những tác phẩm lãng mạn của M.Gorki là việc dùng tư liệu từ văn học dân gian như truyền thuyết, huyền thoại để khám phá cuộc sống hiện thực Thế nên

ta vẫn thấy chất lãng mạn và hiện thực trong nhiều truyện ngắn của M Gorki luôn song hành và bổ sung cho nhau, không có một ranh giới rạch ròi để phân định

Một số những truyện ngắn được viết theo bút pháp hiện thực mang khuynh hướng chủ

đạo của thế kỷ XIX như Êmêlian Pilai, Trên đồng muối, Chelkas đã lột tả chân thực cảnh đời khốn cùng của những “kẻ chân đất”, “dân du thủ du thực” Theo nhà văn: “Giữa đám

người chân đất có những người kỳ lạ và ở họ có nhiều điều tôi không hiểu, nhưng có một điều tôi rất mến họ vì họ không than phiền về cuộc đời và họ nói về cuộc sống phong lưu

Trang 17

13

của “bọn trưởng giả” một cách giễu cợt, mỉa mai, nhưng không phải vì lòng căm ghét thầm kín, không phải vì “trâu buộc ghét trâu ăn” mà dường như vì lòng tự hào, vì họ biết rằng

họ sống tồi nhưng bản thân họ còn tốt hơn những kẻ sống sung sướng” Gorki thấm thía số

phận cay đắng của những con người lao động bị tước mất đi cả quyền lao động Ông ngưỡng

mộ sự lao động sáng tạo của con người và ông còn chỉ rõ thứ lao động khổ sai rút kiệt đi sức lực con người, làm tha hóa, đẩy họ thành những kẻ nổi loạn, những thú vật chỉ biết xâu xé lẫn nhau

Trang 18

14

CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN MACXIM GORKI

2.1 Đề tài nổi bật

2.1.1 Cuộc sống của nhân dân lao động nghèo

Macxim Gorki đã có một đời sống gắn bó với nhân dân lao động từ khi ông còn rất nhỏ Cuộc sống xung quanh ông, những con người, những công việc, và cả sự nghèo khó trong cảnh lao động vất vả giữa xã hội nước Nga lúc bấy giờ đã đi vào trang văn một cách

tự nhiên, tạo nên nguồn cảm hứng cho nhà văn viết về đề tài cuộc sống của nhân dân lao động nghèo Qua đó, tác giả đã miêu tả một cách chân thực và sinh động những khó khăn

mà người lao động phải trải qua và cách mà họ đối mặt với các khó khăn ấy

Ở truyện ngắn Macxim Gorki, hình ảnh người lao động hiện lên với những nỗi cơ cực

Trong tác phẩm Một con người ra đời, người lao động được miêu tả là “những con người

chán ngắt, bị nỗi khổ cực xéo nát đi rồi”, ở họ, có những người đã rời xa mảnh đất quê

hương mình mà tìm đến một xứ sở khác - xứ sở mà ở đó cho họ được tiếp tục sống Đôi

khi, ở một nơi xa lạ, họ lại “hồi tưởng cánh đồng có Ngựa cái, bãi chăn Cạn, dải đất Ướt -

những nơi thân thuộc mà mỗi nắm đất đều là một nắm tro của hài cốt ông cha và mọi vật đều quen thuộc, thân yêu, đầy kỉ niệm, nơi mà mỗi tất đất đều thấm sâu mồ hôi của họ”

Dù nhiều người vẫn nhớ về quê hương, vẫn muốn gắn bó với nó, nhưng cuộc sống của họ đã quá đỗi khó khăn, họ không thể sống được vì mảnh đất quê hương đã quá cằn

cỗi Đó cũng là lí do mà hai nhân Vaxili và con trai ông là Iakôp trong truyện ngắn Manva

đã đi khỏi làng của mình Vaxili bỏ việc làm nông nơi làng cũ mà đến một nơi khác và trở thành người gác biển Tiếp đến là Iakôp - con ông Vaxili, anh cũng bỏ làng vì nỗi khó khăn

của gia đình, ở nhà “nào là con ngựa lăn ra chết, nào là nhà đã hết bột mì ăn từ đầu tháng

hai, chẳng có cách nào làm ra tiền Cỏ khô cũng thiếu, con bò cái suýt chết đói”, hai mẹ

con Iakôp gắng sống lần hồi đến tháng tư rồi Iakôp quyết định đến chỗ bố để xoay việc Nói về Vaxili, dù ông vừa muốn làm chủ bản thân mà làm ăn nơi quê nhà, vừa mong ước

giản đơn về “một túp nhà, bánh mì ăn thả cửa, ngày lễ có thêm một cốc vôlka! ” đi nữa thì sự thật là “ở làng, sống và làm ăn đều vất vả hơn”, thế nên, ông đành phải chấp nhận

rời xa đất đai, rời xa ngựa và bò, từ bỏ việc tự làm chủ khi ở quê nhà mà đến làm đầy tớ cho người khác Thật là một nỗi đắng cay

Trong Tsenkasơ, người lao động được nhà văn mô tả với “thân hình bụi bặm, rách

rưới, linh lợi, cúi gập dưới sức nặng của những hàng hóa đè nặng trên lưng, họ tất tả chạy chỗ này chỗ kia trong những đám bụi, trong biển không khí nóng nực và đầy âm thanh Họ

Trang 19

15

mới nhỏ mọn làm sao so với những vật khổng lồ bằng sắt xung quanh, so với những đóng hàng hóa, những toa tàu xô động ầm ầm và so với tất cả những cái mà họ tạo ra Những cái họ tạo ra lại làm nô dịch họ, làm mất cả tính họ” Ở đây đã phô bày ra một mâu thuẫn

cơ bản về việc những người phu khuân vác nhỏ bé đang mang trên vai “hàng ngàn pút bột mì” vào tàu sắt chỉ để đổi lại mấy fun cho cái dạ dày của họ Đoàn người ấy lao động miệt

mài dưới bề ngoài “rách rưới, mồ hôi nhễ nhại, ngây độn vì mệt mỏi”, và, khi đem những

con người tội nghiệp ấy ra mà so sánh với những máy móc được tạo ra từ chính họ thì thứ máy móc thậm chí còn to lớn, vạm vỡ hơn nhiều Cái thứ máy móc ấy trông cực khỏe, tuy

thế, chúng không phải chuyển động bằng “hơi nước” mà chúng chuyển động được là nhờ

chính bắp thịt và máu của người dân lao động nhỏ bé - người đã tạo ra chúng Ta có thể

thấy, sự so sánh ấy theo như Macxim Gorki thì là “một bản trường ca mỉa mai tàn ác”, nó

phơi bày một sự thật của thời đại mà nhà văn đã sống, con người bị nô dịch từ chính những máy móc vô tri - những thứ đã được chính bàn tay họ tạo nên và cũng vẫn là họ, lại phải đổ chính máu thịt mình ra cho sự chuyển động, vận hành của chúng để phục vụ cho các kẻ cầm quyền

Những người lao động dưới ngòi bút của Gorki đã hiện lên một cách cơ cực là như thế, ở họ có những người chấp nhận ở lại với guồng công việc quay liên hồi chỉ đề kiếm cho mình chút gì đó mà sống qua ngày, nhưng cũng có những người quyết dứt ra khỏi nơi đói khổ mà đến một nơi khác, dù nơi đó chưa có gì chắc chắn rằng họ sẽ có cuộc sống mới tốt đẹp hơn Họ cứ đi tha phương như thế, vì lẽ, họ cần được sống, và chỉ có tiếp tục lao động thì họ mới có thể sống

2.1.2 Lí tưởng về người anh hùng

Cùng với đề tài về cuộc sống của nhân dân lao động nghèo thì lí tưởng về người anh hùng cũng là một mảng đề tài nổi bật trong các sáng tác của Macxim Gorki

Lí tưởng về người anh hùng ấy mang hình ảnh của những con người dám đứng lên chiến đấu với tâm thế dũng cảm, với tinh thần sẵn sàng hy sinh để thực hiện những lí tưởng

vĩ đại Hay, sự dũng cảm đó là để che chở, bảo vệ những người, những điều mà họ muốn bảo vệ Truyện ngắn của Macxim Gorki đã khắc họa rõ nét về người anh hùng, đồng thời thể hiện được lí tưởng của tác giả về người anh hùng

Đi vào các sáng tác của nhà văn, dáng dấp dũng cảm ấy dần được hiện lên Trong

truyện ngắn Bà lão Izerghin, chàng trai trẻ Đankô đã được kể lại như một truyền thuyết về

người anh hùng đã hy sinh thân mình mà không đòi hỏi được đáp lại bất cứ điều gì Truyền thuyết về Đankô có từ một nơi rừng sâu được bao quanh bởi bóng tối với toàn những đầm lầy Ở đó, có một bộ lạc với đầy những con người đang mất đi phương hướng, họ trốn chạy

Trang 20

16

kẻ thù nhưng rồi lại tự giam chân mình trong một mối nguy mới Những người đã từng rất dũng cảm trong đoàn người này đang dần trở nên kiệt quệ, xung quanh họ chỉ toàn tiếng

“đàn bà khóc lóc trước tử thi những người chết vì uế khí và khóc than cho số phận cho

những người còn sống những đã mất chí khí vì hoảng sợ” Giờ đây, họ buông xuôi đến mức

muốn dâng sự tự do của mình cho kẻ thù vì “kinh hoàng trước cái chết, không ai còn sợ

sống nô lệ nữa” Chính lúc này, chàng trai trẻ Đankô xuất hiện, như một người tiên phong,

một người dẫn đường, chàng đã cứu cả đoàn người ấy Bằng tất sự cả lòng can đảm và sự sáng suốt, chàng Đankô đã dẫn dắt những người trong bộ lạc của mình băng qua rừng rậm

u tối Song, đối lập với sự dẫn dắt đầy dũng cảm của Đankô, đoàn người của bộ lạc lại nao sờn trước các khó khăn Trước bóng tối của rừng sâu, trước thanh âm lạnh lẽo của sấm sét,

họ trở nên hèn kém, sự yếu đuối bao trùm họ và họ đổ lỗi điều đó cho Đankô Dẫu vậy, Đankô vẫn hành động như một người hùng Dưới sự quay lưng từ chính những người mà mình đang bảo vệ, chàng Đankô dập tắt đi ngọn lửa hận thù, và rồi, chàng xé toang lòng

ngực mình, dứt tim ra mà để trên đầu, “trái tim cháy sáng rực như mặt trời, sáng hơn mặt

trời và cả khu rừng im lặng, sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng yêu thương vĩ đại đối với mọi người” Và, với ánh sáng ấy, “bóng tối tan tác và run lẩy bẩy, nhào xuống cái mõm hôi thối của đầm lầy nơi rừng sâu núi thẩm”, đoàn người được soi sáng, Đankô vẫn ở đó và

tiếp tục tiên phong dẫn dắt với trái tim rực cháy Cuối cùng, thảo nguyên với mặt trời ngời sáng sức sống đã hiện ra trước mắt những con người lạc lối, họ vui sướng và tràn đầy hy vọng trước cảnh tượng trước mặt Thế nhưng, chàng Đankô can trường chỉ kịp được nhìn thấy thảo nguyên bao la - nơi mà chàng đã không màng nguy hiểm, không màng việc bị chính người trong bộ lạc mình quay lưng mà vẫn luôn tiến về phía trước, chàng đã gục ngã

và chết đi trước khi được đặt chân vào miền đất tốt tươi mà chính chàng cũng như bộ lạc hằng mong ước Thế nhưng, người hùng ấy đã ra đi mà không hề có được sự đoái hoài, trái tim kiêu hãnh vẫn còn bừng cháy cạnh xác chàng và thậm chí nó còn bị giẫm đạp, dầu như thế trái tim ấy vẫn lóe lên tia sáng rồi mới tắt ngấm Với một lí tưởng cao cả, trái tim anh hùng của Đankô vẫn sẽ luôn chói lòa, luôn bừng sáng như ngọn đuốc soi đường Đó là trái tim của một con người can trường đã dám xé toang lòng ngực, dám dứt tim mình mà soi sáng, dẫn đường cho kẻ khác mà không đòi hỏi nhận về mình bất cứ điều gì Đankô quả thực là một người anh hùng luôn gắn mình với nhân dân, dám hy sinh một cách vĩ đại

Trái lại, trong tác phẩm Bà lão Izerghin, một truyền thuyết nữa được kể nhưng nó lại

đối lập với Đankô, đó là truyền thuyết về Larra Larra này cũng là một con người dũng mãnh, là đứa con của đại bàng Thế nhưng, hắn không đem sự dũng mãnh vốn có của mình

ra để giúp đỡ người khác, ngược lại, hắn xem thường các cụ trong làng, hắn thậm chí còn giẫm chết một cô gái chỉ vì cô ấy cự tuyệt hắn Sau sự việc đó, hắn không những không hối cãi mà hắn còn chất vấn các cụ trong làng và không cho điều bản thân đã làm là sai Chính

Trang 21

17

vì sự ngạo mạn ấy, Larra đã nhận được được hình phạt thích đáng, đó là sự ruồng bỏ của mọi người, hắn lãnh về cho mình sự đơn độc vĩnh hằng, hắn không thể chết Cứ thế, hắn đã trở thành một cái bóng trên thảo nguyên và chỉ mãi có một mình Cái bóng tối đen của Larra

- thứ mà có thể dễ dàng bị gió thổi cho tan tác, nó hoàn toàn khác hẳn với trái tim luôn cháy sáng ánh lửa xanh của Đankô Vì, trái tim ấy đã sáng lên một thứ ánh sáng giàu tình yêu thương và sự hy sinh cao cả, hơn hẳn cái bóng tối từ một con người vị kỉ là Larra

Tiếp đến với tác phẩm Bài ca con chim ưng, câu chuyện được kể từ cụ già Rahim lại

cho ta thấy thêm một điều vĩ đại Trong câu chuyện, có một chú Chim Ưng đang hấp hối, ngực dập nát với đầy máu tươi Dù là như thế, sự dũng mãnh và nỗi khát khao của Chim Ưng khi một lần nữa được vút bay lên trời cao - cái vùng trời tự do mà nó thuộc về vẫn không hề tắt đi Chim Ưng muốn được một lần nữa dang rộng đôi cánh của mình trên

khoảng không ấy, lúc đó, nó “sẽ áp chặt kẻ thù vào những vết thương trên ngực” và nó sẽ

bắt kẻ thù sặc chết trong dòng máu của nó, đấy là niềm hạnh phúc của chiến đấu Thế rồi,

vì mong ước được vút bay lên, Chim đã thực hiện cú gieo mình từ miệng vực xuống dòng thác để rồi từ đó, nó đã tự kết thúc cuộc đời với đầy sự kiêu hãnh Đến tận khi sự chết chóc đang cận kề, Chim Ưng vẫn không hề lo sợ, bầu trời cao và những lần chiến đấu chính là lí

tưởng sống của nó, nó đã hoàn thành lí tưởng trong lần dang cánh cuối cùng, “dòng thác

đón lấy Chim, cuốn sạch máu nó, phủ bọt lên thân nó và vùn vụt đưa nó ra biển” và “xác Chim không còn tăm tích trên mặt biển mênh mông” Chim Ưng đã sống và chết vì lí tưởng

của chính mình, sống và chết như người hùng không hề chùn bước trước cho đến khi bắt buộc phải lìa bỏ cuộc sống

Macxim Gorki đã không tiếc câu từ nào để ca ngợi những người mang lí tưởng anh hùng, sự dũng cảm mà họ có là thứ khiến họ có thể tiếp tục sống và tiến lên trong thời đại Chỉ có như thế, khi đứng trước khó khăn, họ mới có thể được vững bước chân mình và giữ được cả sự vững vàng cho người khác Bên cạnh đó, tác giả cũng phê phán lối sống vị kỉ của những kẻ chỉ nghĩ cho mình và phớt lờ người khác Đó cũng như là một thông điệp của tác giả, muốn mọi người hãy sống với trái tim rực lửa yêu thương như Đankô và không ngần ngại "vút cánh bay cao" như Chim Ưng dũng mãnh

2.2 Các kiểu nhân vật nổi bật

2.2.1 Con người tự do

Nước Nga bát ngát với những thảo nguyên tươi xanh thơm lừng hoa cỏ; nước Nga kỳ

vĩ với từng cánh rừng bạch dương “sương trắng nắng tràn” và nước Nga huyền diệu, phi

thường với biết bao tâm hồn phóng khoáng như gió trời lồng lộng Bằng tình yêu đất nước sáng trong và tình yêu con người tha thiết, Macxim Gorki đã yêu và đã đưa tất cả những gì

Trang 22

18

sáng đẹp nhất của dân tộc Nga, tâm hồn Nga vào trang viết, làm nên những tác phẩm truyện ngắn ngập tràn tình cảm, ngập tràn sắc màu, lung linh tựa như thần thoại - những thần thoại khởi nguồn từ cuộc đời bình thường Trong những câu chuyện chan chứa tin yêu và tự hào

ấy, hình tượng con người tự do hiện lên sừng sững, sáng ngời

Con người tự do trong truyện ngắn Macxim Gorki được họa nên bằng bút pháp lãng mạn bay bổng Trước hết, họ thường không xuất hiện trực tiếp mà hiện diện thông qua lời

kể của các nhân vật khác, trong những câu chuyện dân gian huyền ảo, qua những lời ca vang vọng, thiết tha

Ở Maka Tsuđra, con người tự do chính là hai cánh chim đầy kiêu hãnh: Loiko Zobar,

Radda Người đọc và tác giả (nhân vật “tôi”) biết đến họ qua câu chuyện huyền hoặc như

biển cả biếc xanh cùng lời nhắn nhủ chân thành của ông lão Maka Tsudra: “Ấy, anh có

thích nghe không, tôi kể cho một chuyện mà nghe! Anh nghe mà nhớ lấy và hễ nhớ thì suốt đời sẽ được làm con chim tự do” Ở Bà lão Izerghin, người anh hùng tự do Đankô hiện lên

xinh đẹp, đầy dũng khí qua lời kể mát rượi gió thảo nguyên của một bà lão cũng yêu tự do hơn bất kỳ điều gì Câu chuyện bồng bềnh trong không gian đêm tối, giữa những ánh lửa

xanh lam “kì dị, gợi nhớ cái gì hoang đường”: “Những tia lửa ấy từ trái tim cháy của

Đankô tóe ra đấy Ngày xưa, có một trái tim một hôm đã bốc cháy Những tia lửa này là ở trái tim đó mà ra Tôi sẽ kể cho anh câu chuyện ấy cũng là một câu chuyện cổ tích cũ kỹ ” Đến Bài ca chim ưng, vẻ đẹp tự do toát lên từ hình tượng chú chim ưng oai hùng,

trong bài ca du dương, nhịp nhàng như sóng nước của lão chăn cừu Rahim

Những câu chuyện lồng trong chuyện đã tạo nên sắc thái sử thi, huyền thoại kỳ diệu cho sự xuất hiện của những hình tượng phi thường không gì có thể trói buộc Maxim Gorki

đã nhường vai trò kể chuyện cho những nhân vật ông yêu thương, tin tưởng, để ông cùng bạn đọc trở thành những người lắng nghe, thích thú và vỡ òa trước những sự kiện Điều đó làm sự xuất hiện và sự thể hiện của những con người tự do dường như đẹp đẽ hơn, cao quý hơn và chân thực hơn Họ đã đi vào dân gian, đi vào huyền thoại, trở thành những mắt xích giàu ý nghĩa cho sợi dây văn hóa Nga đầy sắc màu; và họ sẽ sống mãi trong những lời kể, trong những trái tim luôn hướng về tự do, hướng về những vẻ đẹp truyền thống của dân tộc Hiện lên qua những lời kể dạt dào cảm hứng lãng mạn, ngợi ca là những con người tuyệt đẹp Dáng vẻ của họ không phải những dáng vẻ tầm thường, bé nhỏ Chàng txugan

trẻ tuổi Loiko Zobar (Maka Tsudra) bước ra trong lời kể của lão Maka tựa như bước ra từ bầu trời xanh thẫm vô cùng Anh ta hiên ngang, ngạo nghễ, kì vĩ và đẹp tuyệt: “Hai chòm

ria dài của chàng trẻ tuổi buông xuống tận vai, lẫn với mái tóc quăn, đôi mắt chàng lấp lánh như hai vì sao và nụ cười rực rỡ như vầng thái dương Chàng đứng trong ánh sáng của đốm lửa đỏ rực như tắm trong máu và nhoẻn miệng cười, hai hàm răng lấp lánh…”

Trang 23

19

Dáng vẻ ấy sáng ngời trong ánh sáng lập lòe của đống lửa đỏ, tựa như dáng vẻ của một vị thần, dáng vẻ của một chiến binh vừa trở về từ những thần thoại Nó tự do, khỏe khoắn, vững vàng Nó làm lão Maka, và cả người đọc yêu mến chàng ngay trong khoảnh khắc ấy

Nó làm cả không gian câu chuyện sáng bừng lên Sánh vai cùng chàng Zobar phi thường là nàng Radda xinh đẹp Vẻ yêu kiều của nàng không lời lẽ nào tả nổi Lão Maka đã phải cảm

thán: “Cái nhan sắc ấy may ra chỉ có thể ca ngợi trên phím vĩ cầm, mà cũng chỉ có kẻ nào

am hiểu cây đàn ấy như chính tâm hồn mình mới có thể ca ngợi nổi” Nhan sắc ấy làm khô

héo bao nhiêu chàng trai trẻ tuổi, nó ngân vang, trong trẻo, cao vút, kiêu kỳ và đầy hãnh diện

Đankô (Bà lão Izerghin) đến từ một bộ lạc nhỏ bé luôn phải di dân vì sự xâm chiếm,

đe dọa của kẻ khác Anh là một trong số họ, nhưng không giống họ, anh đẹp hơn, cao

thượng hơn rất nhiều Đankô có trái tim biếc xanh, lấp lánh Trái tim ấy “cháy sáng rực

như mặt trời, sáng hơn mặt trời và cả khu rừng im lặng, sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng thương yêu vĩ đại đối với mọi người”; “trước ánh sáng của trái tim Đankô, bóng tối tan tác và run lẩy bẩy ” Trái tim là hiện thân của tâm hồn Trái tim Đankô sáng rực ngọn lửa

xanh - ngọn lửa tự do yêu thương con người, tâm hồn anh đã trở thành ánh sáng soi đường đến tự do, đẩy lùi đêm tối bí ẩn và đáng sợ Không cần miêu tả gương mặt, dáng vóc, chỉ

cần một trái tim rực lửa và một ánh mắt luôn “sáng quắc lên” giữa bóng đêm, Gorki cũng thành công xây dựng nên hình ảnh chàng trai “trẻ đẹp” và xứng đáng bất diệt trong những

lời kể ngân nga như tiếng hát của bà lão Izerghin

Bút pháp lãng mạn đã khắc họa nên những hình tượng xuất chúng Những nhân vật

ấy đẹp hơn bất kỳ ai trên đời, đẹp một cách tuyệt diệu Đó chính là tình cảm mến yêu, tự hào và tin tưởng mà Macxim Gorki đã dành cho những hiện thân của tự do, của lòng kiêu hãnh Con người tự do trong trang văn dường như đã chẳng còn là con người bình thường nữa Họ phi thường, họ kỳ diệu, họ có dáng vẻ của những vị thần Dáng vẻ ấy chỉ xứng đáng với những điệu hồn cao đẹp: những điệu hồn luôn hướng đến tự do

Hình tượng nhân vật tự do trong truyện ngắn Macxim Gorki không chỉ có ngoại hình trống rỗng, vô tri Họ có những tài năng thần kỳ xứng đáng với vẻ đẹp ấy Đáng quý hơn,

họ có ý thức và biết kiêu hãnh về tài năng, về giá trị của mình Ý thức ấy làm nên những cá tính mạnh mẽ, nổi bật

Tiêu biểu cho đặc điểm này là chàng Zobar hùng dũng của thảo nguyên Chàng đã tỏa

sáng ngay khi Maka giới thiệu: “Khắp nước Hung, nước Tiệp, nước Xlavoni và những vùng

quanh Biển Đen đều biết chàng ta; chàng ta dũng cảm lắm” Sự dũng cảm ấy cũng chẳng

phải một danh xưng vô thực Dù đã có bao nhiêu chàng trai trong những ngôi làng ghen

ghét và thề độc rằng sẽ giết chết Zobar nhưng chàng “vẫn cứ ung dung sống và hễ chàng

Trang 24

20

đã ưa con ngựa nào thì dù cho cả một trung đoàn canh giữ Zobar cũng sẽ nhảy lên hiên ngang phóng đi” Loiko Zobar khôn ngoan, thông thái, “cái gì cũng thạo, biết cả chữ Nga, biết cả chữ Hung; những lúc anh ta đã cất tiếng lên thì nghe trọn một kiếp người cũng không chán” Đặc biệt, Zobar đàn, hát rất hay: “Hễ chàng đưa mã vĩ trên dây đàn một cái

là tim anh rung lên, đưa một cái nữa là tim anh lặng đi, Nghe tiếng đàn, vừa muốn khóc lại vừa muốn cười, có khi như ai than thở đắng cay, cầu xin giúp đỡ, nghe đau xót như lưỡi dao cứa vào tim Có khi như tiếng thảo nguyên thì thầm kể với bầu trời những chuyện cổ tích buồn rười rượi Lại có khi như tiếng một thiếu nữ khóc trong buổi tiễn biệt người yêu

ra thảo dã Rồi bỗng nhiên, một điệu hát phóng khoáng, sinh động vang lên như sấm và tưởng chừng vầng thái dương cũng sắp theo nhịp hát nhảy múa trên nền trời” Tiếng đàn

của Loiko Zobar có thể xoay chuyển trời đất, tự do ngút ngàn, phiêu du trong những làm điệu của tâm hồn anh ta và cả tâm hồn kẻ khác Đó là khúc đàn được hòa tấu bởi một cá tính tự do, bởi một người du mục gan dạ, sáng lấp lánh như tinh tú trên trời cao Qua lời bay bổng của lão du mục, Zobar hiện lên với tất cả những điều đẹp đẽ, phi thường và tự do nhất trên cả thảo nguyên bao la Chàng làm say đắm trái tim mọi người, trong đó có những thiếu nữ lãng mạn luôn khát khao tình yêu Bản thân chàng biết điều đó; thế nên, trước lời

ngợi khen của Radda, về cây đàn có tiếng vang và nhuyễn, Zobar đã cười đùa: “Chính tôi

làm! Tay tôi đã làm ra nó không phải bằng gỗ, mà bằng bộ ngực của người con gái ngày trước yêu tôi say đắm, dây đàn thì tôi sẽ bằng thớ tim của nàng”

Với những điều tuyệt vời mà Zobar đang có, dường như ai cũng “yêu mến chàng,

quý chuộng chàng” Lão Maka khẳng định: “Có những con người như thế đấy Họ nhìn vào mắt ta, thế là hồn ta cứ tê mê đi, ấy thế mà ta chẳng thấy hổ thẹn chút nào, lại còn thấy

tự hào nữa là khác Đứng trước một người như thế, ta tự thấy mình tốt đẹp hơn lên”

Macxim Gorki đã ngợi ca Zobar bằng những ngôn từ đẹp nhất, bay bổng và khéo léo nhất Chỉ có chàng hiểu rõ tiếng đàn, và chỉ có tiếng hát từ tâm hồn chàng xứng đáng với vẻ kiêu

kỳ của Rađđa

Hình tượng tự do, lớn lao, kì vĩ đâu chỉ dành cho người nam nhi, nàng Radda cũng là một cánh chim phượng tự do và ý thức được giá trị của mình Nàng biết mình đẹp, tự tin với vẻ đẹp ấy và không để bất kì gã đàn ông tầm thường nào có được trái tim mình Có một lão đại thần muốn lấy Radda làm vợ, nhưng lão không xứng với nàng Câu nói của Radda

trước thảo nguyên và trước mặt lão đại thần ấy: “Phượng hoàng mà tự đem thân vào tổ quạ

thì phận sẽ ra sao?” đã cho thấy giá trị của nàng Radda không biết sợ, không cần hư vinh

Nàng là một cô gái du mục, nhưng thân phận nàng cao quý hơn mọi con chim bồ câu quý tộc chỉ biết ngoan ngoãn, vô tri cam chịu phận hèn mọn giữa bốn bức tường thành Radda

là phượng hoàng kiêu hãnh, phượng hoàng tự do, đỏ chói, tràn đầy sức sống trên bầu trời

Trang 25

21

không biên giới của những thảo nguyên ngợp gió Sự tự ý thức ấy làm con người đẹp hơn,

kỳ vĩ hơn, lớn lao và tự do hơn muôn phần

Sau này, đến Bài ca Chim Ưng, sự tự ý thức càng được tô đậm và dồn dập Đó là lời kiêu hùng của chú Chim Ưng làm chủ được cuộc đời, làm chủ được bầu trời: “Ta đã sống

thật huy hoàng! Ta đã biết thế nào là hạnh phúc! Ta đã chiến đấu dũng cảm! Ta đã trông thấy trời xanh!” Trong hoàn cảnh năm 1895 (khi giai cấp vô sản đứng lên lãnh đạo

cách mạnh Nga), lời chú chim ưng đã trở thành lời tuyên ngôn cách mạng sinh động của

những người vô sản mạnh mẽ, tự do, không cam chịu Âm hưởng lịch sử “ùa tràn vào tác

phẩm” và làm cho hình tượng càng thêm lung linh, bay bổng Chim Ưng trở thành hiện

thân của con người, tiếng chim thành tiếng lòng của con người ý thức được cuộc đời, được những khả năng của mình, và không ngừng đấu tranh cho tự do, hạnh phúc

Con người tự do trong truyện ngắn Macxim Gorki còn sáng ngời và bất tử bởi vẻ đẹp

từ trái tim, tâm hồn Những con người ấy yêu tự do, luôn hướng về tự do và không điều gì trên đời có thể trói buộc, ngăn cản họ tìm đến với chân trời tự do bất tận Họ sống giữa cộng đồng, hòa nhập với cộng đồng nhưng họ nổi bật hơn tất cả với những sắc màu cá tính không sao trộn lẫn Giữa nền trời biếc xanh hòa bình, nhân vật tự do là những tia sáng, những ánh chớp, những cánh chim nhấn nhá táo bạo, độc đáo, không để điều gì khuất phục

Truyện ngắn Maka Tsudra, dù xuất hiện cùng hai tiếng “khổ đau” (bút danh Macxim

Gorki), nhưng lại mang âm hưởng của khúc anh hùng ca bi tráng và dữ dội Câu chuyện kể lại cuộc trò chuyện giữa nhân vật "tôi" và ông lão người du mục Maka Lão du mục là một con người tự do, đã thuật lại một huyền thoại về tình yêu vô thường của Zobar và Radda

Họ là những con người du mục, con người của thảo nguyên và của tự do vô hạn Họ yêu nhau nhưng yêu tự do hơn tất thảy, vì thế, họ thà chết chứ không để bản thân bị ràng buộc bởi tình yêu và bởi những nghĩ suy vụn vặt, tầm thường Lời hát của Zorba ngập tràn ánh sáng, lồng lộng cuồng phong:

“Hây! Hây! Lồng ngực ta rực lửa

Và cánh thảo nguyên trời rộng mênh mông!

Như gió cuốn, phi nhanh con tuấn mã, Cánh tay ta rắn chắc, vững như đồng!

Cảnh thảo nguyên còn khoác màn đêm tối Nhưng chân trời sẽ lóe ánh bình minh!

Trang 26

tự do ấy dám vươn cao giữa đêm tối, dám hy vọng về ánh bình minh và không bao giờ để bản thân bị nhan sắc những “nàng trăng” làm cho vướng víu, chùn bước Lời chàng nói với người con gái tuyệt diệu nhất nhân gian cũng phần nào thể hiện: trái tim chàng vĩnh viễn

không thể thuộc về ai khác ngoài tự do: “Tôi lấy cô làm vợ, trước thượng đế, trước danh

dự tôi, trước cha cô và trước mọi người Nhưng hãy nhớ lấy; đừng có bó buộc tự do của tôi; tôi là người tự do; tôi muốn sống ra sao, tôi sẽ sống như thế” Trước lời lẽ đanh thép

của cánh đại bàng oai phong ấy, mọi cô gái kiều diễm, e lệ trên đời đều sẽ bị khuất phục,

sẽ ngưỡng mộ Zobar trong nỗi nuối tiếc khôn nguôi vì mãi mãi không thể với tới chàng Nhưng Radda thì không Nàng không phải những chú bồ câu nhỏ bé bị uy nghiêm của đại bàng làm tổn thương Nàng là cánh phượng hoàng, là ngọn lửa của trời cao Trước lời ngạo nghễ của Zobar, nàng không ngại đáp trả Nàng quất chiếc roi da dài vào chân, để chàng té ngã rồi nằm cười thầm Nàng đã kéo cánh đại bàng đang vươn cao về với mặt đất, một cách đầy đau đớn Trong đêm tối, nàng đến bên Zobar, khi chàng ta rút dao phòng vệ, Radda bất

ngờ lôi ra một khẩu súng Phượng hoàng kiêu kì đối đầu cùng đại bàng hùng dũng “Hai

con người đứng nhìn nhau như hai con ác thú, thế mà cả hai đều đẹp đẽ, gan dạ như nhau”

Lửa từ tim họ sáng bừng cả không gian đồi núi, những ngôi sao trên trời dường như bị cả hai làm cho lu mờ Khi Radda cất lên tiếng nói, lửa từ tim nàng và từ tim Zobar bừng bừng,

nóng hổi: “Tôi chưa yêu ai bao giờ, Loiko ạ, tôi chỉ yêu anh Nhưng tôi còn yêu tự do nữa!

Tự do thì tôi yêu hơn cả anh Nhưng không có anh thì tôi không thể sống được, cũng như anh không thể sống thiếu tôi Chiếc hôn của tôi sẽ làm cho anh quên cuộc sống của anh

và những bài ca sôi nổi của anh sẽ không còn vang trên thảo nguyên nữa; anh sẽ hát những bài tình ca êm dịu cho tôi, cho Radda nghe Tôi đã nói như vậy, nghĩa là ngày mai anh sẽ quy phục tôi như quy phục người huynh trưởng của anh trong trại” Radda nói như

thế, để Zobar từ bỏ tự do của mình và vĩnh viễn bị nàng trói buộc Hai con người ấy yêu nhau, đồng thời lại tuyên chiến với nhau, vì họ không thể để tình cảm nam nữ bình thường trói buộc tự do vĩnh hằng, cao cả Họ dùng ngôn từ làm tổn thương nhau, thử lòng nhau để rồi cuối cùng, họ giết chết nhau Sáng hôm sau, Zobar đâm vào giữa tim Radda một nhát

Trang 27

23

đau đớn để rồi chấp nhận bị Danilo đâm ngược lại Radda chết giữa đống tóc đen thuyền, Zobar thì “phủ phục” dưới chân nàng Cái chết của họ không bị lụy, mà bi hùng Họ chết nhưng linh hồn họ bất tử Họ đã chết để có thể chạm đến tự do vĩnh hằng Linh hồn họ từ đấy mãi thuộc về trời cao, trở thành những vì tinh tú tự do, tự tại Trong những khoảng

không vô cùng, tác giả đã trông thấy “bóng dáng đẹp đẽ và kiêu hãnh của Radda Qua

mấy ngón tay thon thả, rám nắng của nàng máu rỉ ra từng giọt rỏ xuống đất thành những ngôi sao màu đỏ rực như lửa Và theo gót nàng là chàng Loiko dũng cảm, dưới những món tóc ấy ứa ra những giọt nước mắt to và lạnh rơi mau” Có hai tâm hồn tự do tuyệt đẹp

không thể sống thiếu nhau, nhưng lại không thể chịu đựng sự vướng víu của sợi dây tơ hồng, thế là họ chết cùng nhau Vì tự do, con người sẵn sàng hi sinh tất cả Sự hi sinh ấy làm họ sống mãi Lão Maka, cũng như Macxim Gorki đã hát vang lên khúc hùng ca tự do đầy tự hào

Nếu Zobar và Radda sẵn sàng chết vì tự do và tình yêu thì tâm hồn Đankô có lẽ còn sáng đẹp hơn khi chàng sẵn sàng hi sinh để tìm và dẫn đoàn người đến với tự do, hạnh phúc Bằng ý chí, niềm tin sắt đá, Đankô đã thúc đẩy những con người nhỏ bé đứng lên và đi, đi

vào bóng tối, vì chàng tin rằng “rừng cũng có chỗ kết thúc, mọi cái trên đời đều có chỗ kết

thúc” Kết thúc của rừng rậm sẽ là thảo nguyên, kết thúc của đêm đen sẽ là ánh sáng Khi

đã tìm thấy không gian, ánh sáng, cuộc đời tăm tối, lo sợ, trốn tránh sẽ được khai sáng, sẽ trở thành tự do hiên ngang Chàng dẫn đầu đoàn người Mặc kệ họ la ó, chửi mắng và đòi bắt giết chàng, Đankô vẫn cứ hết lòng yêu mến, tin tưởng, giúp đỡ họ Chàng muốn tự do cho tất cả và không ngại xé toang lồng ngực, lấy trái tim mình soi sáng đêm đen Vì có một

tâm hồn lớn lao, cao đẹp như thế, nên tim chàng có “lửa mặt trời” Macxim Gorki đã trân

trọng thổi vào tim Đankô ánh lửa xanh biếc, nó làm những người muốn đánh giết chàng càng trở nên tầm thường, bé nhỏ, làm bóng đêm sợ hãi thoái lui và rừng rậm phải cúi mình

mở đường cho Đankô bước đi Cuối cùng, Đankô đã dẫn đoàn người đến với ánh sáng tự

do Đó cũng là lúc Đankô ngã xuống Máu chàng nhuộm đỏ dòng sông, cùng ánh hoàng hôn nhuộm đỏ trang truyện, làm nên cảnh tượng huyền diệu, huy hoàng Tâm hồn chàng mãi mãi tuyệt đẹp, mãi mãi hướng về tự do Đến tận lúc Đankô chết đi, tim chàng vẫn cứ cháy bừng bừng và nó chỉ lóe lên rồi tắt ngấm khi có kẻ ích kỷ giẫm đạp lên nó Thế nào mãi sau này, những tia lửa mặt trời ấy vẫn không chút toan tính, vẫn bập bùng soi sáng những đêm đen trên thảo nguyên, soi sáng đường cho con người tìm đến tự do

Nói về tâm hồn tự do chân chính, thuần khiết không thể không nói đến hình tượng

Chim Ưng trong Bài ca Chim Ưng Macxim Gorki đã chọn lọc một hình tượng rất hùng

tráng, rất phù hợp khi nói đến tự do Chim Ưng là bạn của mây, của gió, là tia sét trong những trận cuồng phong, là ánh sáng trong những ngày mây mù mịt, là hiện thân của tự do,

Trang 28

24

dũng mãnh Chim Ưng đã làm chủ bầu trời, đã chiến đấu dũng cảm Dù cho trận chiến có làm chim ngã xuống khe núi ẩm thấp, tối tăm, chật hẹp, ánh mắt nó vẫn cứ hướng về trời cao vời vợi và dù cho toàn thân thương tích, rỉ máu, lòng nó vẫn chẳng thấy đau, vẫn muốn

tiếp tục tắm trong “hạnh phúc của chiến đấu” Tâm hồn hướng về tự do, tin vào tự do đã

trở thành “chiếc băng gạc” nâng niu những vết thương, biến chúng trở thành dấu tích đầy

tự hào của sức mạnh Mặc kệ toàn thân thương tích, mặc kệ máu đã nhuốm đỏ dòng sông, Chim Ưng vẫn muốn quay lại bầu trời và đã dùng toàn bộ sức tàn để vươn mình phóng lên

cao một lần cuối cùng Cảnh tượng ấy quá đỗi huy hoàng: “Lên đến miệng vực, Chim dang

cánh, hít một hơi dài cho đầy lồng ngực, mắt sáng quắt lên, rồi đâm bổ xuống” Cuối cùng,

dòng thác cuốn lấy chim, phủ bọt lên toàn thân và đưa Chim ra biển Cái chết của Chim Ưng thật vĩ đại, phi thường Không bị thương, tang tóc, không đau khổ Tất cả những gì đọng lại trên trang giấy chỉ còn là tâm hồn của con Chim dũng cảm, tự do Bọt nước trắng

xóa làm cảnh tượng càng thêm thi vị và giọng hát của Rahim như cao hơn, vang hơn: “Ôi!

Chim Ưng dũng cảm! Người đã đổ máu trong cuộc chiến đấu với kẻ thù Nhưng rồi đây những giọt máu nóng hổi của người, như những tia lửa, sẽ lóe lên trong bóng đêm của cuộc sống và nhiều trái tim quả cảm sẽ cháy bùng lên vì niềm khao khát điên cuồng vươn tới tự

do, vươn tới ánh sáng ” Và Rahim, cũng như Macxim Gorki đã phải cảm thán: “Ta ca ngợi sự điên cuồng của những người dũng cảm!” Có dũng cảm mới dám băng mình vượt

bão như loài chim báo bão (“Bài ca chim báo bão”); có dũng cảm mới dám lao mình xuống

dòng thác dữ để cảm nhận tự do len vào từng thớ thịt như Chim Ưng; có dũng cảm mới dám đâm người mình yêu, có dũng cảm mới dám lấy trái tim mình ra soi đường, Những con người dũng cảm, cuồng nhiệt, đã sống một cuộc đời đầy hãnh diện, đã chết đi một cách

uy nghiêm trong sự kính nể của con người, trong sự trân quý, nâng niu của tự nhiên và sẽ sống mãi trong những bản anh hùng ca bất hủ, thấm đượm giai điệu dân gian

Những trang văn của Gorki là lời tự hào khẳng định: nơi đâu trên nước Nga xinh đẹp cũng có những ngọn gió tự do, phóng khoáng, mát rượi Họ sống với tư tưởng cao đẹp, sống trong những tư tưởng cao đẹp Dòng máu họ ấm áp tình thương, tâm hồn họ trong sáng như dòng Volga thơ mộng Họ điểm tô ánh nắng cho những trang văn lãng mạn của Macxim Gorki

Để ánh sáng càng nổi bật, bóng tối cần xuất hiện Song hành cùng những khúc hoan

ca thăng hoa phải có những khúc trầm ngâm xao xuyến Tự do không phải luôn xứng đáng được ngợi ca Một tâm hồn tự do cao quý cần là một tâm hồn sống giữa cộng đồng, biết hướng về trời xanh nhưng không được quên cộng đồng Macxim Gorki là nhà văn của nhân dân cùng khổ, là trái tim biết cảm thương và trân quý con người, do đó, ngòi bút của ông dẫu có lãng mạn bay bổng đến đâu thì cuối cùng, vẫn hướng về con người với hiện thực

Trang 29

25

cuộc sống Ông ngợi ca tự do và phê phán lối sống ích kỷ, vị kỷ Những kẻ bất chấp tất cả

để sống tự do theo bản năng, làm tổn thương người khác để thỏa mãn ham muốn là những đối tượng được Gorki họa nên bằng cảm hứng phê phán với sắc thái tối tăm, đường nét biến dạng Tiêu biểu cho kiểu nhân vật ấy là Larra, một bóng đen lẩn khuất trong những cánh

rừng già (Bà lão Izerghin) Hắn cũng hiện lên qua một truyền thuyết mà bào lão Izerghin

kể lại, nhưng hắn khác hoàn toàn Đankô Hắn mang bóng đêm đến cuộc sống Lara là con của một thiếu nữ với đại bàng Hắn không chịu dung hòa cái tôi với cộng đồng Hắn muốn

tự do hoang dã và không ngại thủ đoạn để có được “tự do” Larra giết chết một cô gái chỉ

vì hắn bị cô cự tuyệt hắn bị cộng đồng đuổi đi và vì sự ích kỷ, độc ác Đáng sợ hơn, Larra phải chịu đựng một lời nguyền: bất tử Hắn bất tử trong niềm cô độc, sống vô ích, sống mờ nhạt, và chỉ có thể sống thôi, không thể chết Hắn không thể vươn đến bầu trời, không thể thoát lhoir cánh rừng cô quạnh và mãi mãi không thể tìm thấy hạnh phúc Sự sống bất diệt trở thành hình phạt lớn nhất cho một kẻ không có nhân tính Đó cũng là lời phê phán gián tiếp mà Gorki dành cho những kẻ chỉ biết đến tự do của cá nhân

Bà lão Izerghin - người gắn kết hai câu chuyện - cũng là người dung hòa hai phẩm chất của Larra và Đankô Bà có câu chuyện của riêng mình Ở đó, bà đã sống thật tự do: bà yêu nhiều người, đi nhiều nơi và sống hết mình trong từng khoảnh khắc Bà cũng muốn cống hiến, nhưng rồi chỉ sống vì mình Dẫu chỉ sống vì mình, nhưng bà đã hết mình hòa nhập với cộng đồng Bà đã nghe, đã thấy và kể lại biết bao câu chuyện dân gian ý nghĩa; ở

đó, có những con người đẹp như Đankô, soi sáng trái tim biết bao thế hệ; có những bóng đêm như Larra, ai cũng muốn tránh xa Bà lão Izerghin, chính là hiện thân bình dị cho nhân dân và cho những tác giả dân gian mà Macxim Gorki yêu quý, kính trọng

Đối lập với Đankô là Larra, đối lập với Chim Ưng là Rắn Nước Chim Ưng oai hùng bao nhiêu, tự do bao nhiêu, thì Rắn lại hèn nhát và tù túng bấy nhiêu Nó quẩn quanh sống trên mặt đất và hài lòng với sự sống ngột ngạt, bí bách của mình Nó không vươn lên bầu trời vì ở đó không có điểm tựa Nó chỉ quăng mình lên một khoảng bé nhỏ mà lại dựa vào

đó để đánh giá cả bầu trời Nó không có ý chí chí, nó tồn tại, và sống mãi một cuộc đời tầm thường, vô vị Nó cười chê ý chí của những người tự do nhưng lại không thấy được sự thảm hại, đáng thương của kẻ hèn nhát

Con rắn ấy, giống rất nhiều người trong xã hội: những con người cam chịu Như lão

Maka đã nói về những người cày đất: “Hắn sinh ra có phải để xới đất rồi chết mà cũng

chẳng có thì giờ để bới cho mình một cái huyệt không? Hắn có biết thế nào là tự do không? Hắn có hiểu được khoảng rộng bao la của thảo nguyên không? Tiếng nói của sóng bể có làm cho lòng hắn vui sướng không? Hắn là thằng tôi mọi ngay từ khi mới lọt lòng và suốt đời vẫn cái thân hắn đây?” Những lời ấy xứng đáng vì đó là lời của một người du mục tự

Trang 30

26

do, đã đi và đã thấy rất nhiều, đã hiểu được và đã sống được một cuộc đời tự do Đó cũng chính là lời nhắn nhủ của tác giả dành cho những thanh niên bấy giờ Ông muốn họ tự vấn, muốn họ nhìn nhận một cách nghiêm túc và sâu sắc hơn về hai tiếng “tự do”

Tóm lại, hình tượng tự do mang sắc thái ngợi ca là đặc điểm nổi bật cho truyện ngắn giai đoạn đầu - truyện ngắn lãng mạn của Macxim Gorki Qua những câu chuyện đầy chất thơ và những dáng hình kỳ vĩ, những tâm hồn cao thượng, Macxim Gorki đã thành công thổi vào nền văn học Nga một làn gió trong lành, mát rượi Cơn gió ấy mang theo những cánh hoa, ngọn cỏ của văn hóa dân gian, thấp thoáng hương vị đồng nội, làm giàu đẹp thêm tâm hồn con người Những truyện ngắn về con người, về hình tượng tự do sẽ mãi là khúc ngân vang đưa con người đến với trời xanh cao rộng, đến với biển cả và thảo nguyên tự do, bất tận

2.2.2 Nhân vật con người du thủ du thực

Giai đoạn nước Nga nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX vô cùng phức tạp, đặc biệt sau cải cách ruộng đất (1861), quần chúng lao động bị bóc lột nặng nề, nhiều cuộc đấu tranh

nổ ra khắp nơi; thiên tai, mất mùa đói kém xảy ra liên miên, sự phát triển của nền kinh tế

tư bản kéo theo sự sụp đổ của nền kinh tế nông nghiệp những biến động vô cùng to lớn trong xã hội nước Nga khiến cho nhiều người thất nghiệp, vô gia cư nhiều vô kể, họ tạo thành những “đoàn người chân đất”, “những dân du thủ du thực”, đó là những con người

“lạc loài” bị giai cấp ruồng bỏ, tách khỏi giai cấp của mình, đã mất những nét đặc trưng nhất của bộ mặt giai cấp”, trở thành những người lang thang, dân thu thủ du thực, thế nên những người dân du thủ du thực được xem là sản phẩm của xã hội Nga thế kỷ XIX Cuộc sống của họ là chuỗi ngày long đong, vô bờ bến, không có nơi ăn chốn ở nào ổn định cả,

như đúng tên gọi của họ “du thủ du thực”, sống bằng đủ mọi nghề từ làm công ở bến tàu,

đi chài lưới, ăn xin

Macxim Gorki biết rõ tường tận những con người du thủ du thực không phải thông qua sách vở mà bằng chính cuộc đời, con người của mình, trong tác phẩm của ông, ta luôn thấy một nhân vật “tôi” - một lao động trí thức nghèo luôn đồng hành, chứng kiến, nghe được tất cả câu chuyện của những con người mà anh ta đã gặp Thế nên ông không chỉ thấy được những số phận đáng thương, nhỏ bé của họ ở bên ngoài, ông không nhìn họ bằng đôi mắt thương hại của kẻ bề trên, mà ông còn hiểu rõ, nhìn thấy và khai thác ở họ những điều cốt lõi bên trong, ông đi sâu vào nội tâm, khai thác được những phần con người bên trong

họ

Macxim Gorki - với bút pháp hiện thực tài tình của mình, đã thể hiện sinh động, chân thực cảnh đời đói khát, cùng quẫn, đau khổ của những cảnh đời lao động bần cùng dưới

Trang 31

27

đáy xã hội, những người du thủ du thực Trong truyện Manva, bác nông dân Vaxili đã rời

bỏ ruộng làng đi làm nghề chài lưới ở biển phải than thở rằng “Bà con nông dân chúng

mình nào có cần gì nhiều đâu Căn nhà gỗ, bánh mì đủ ăn và ngày lễ thêm cốc rượu thế

mà cũng không có” Hay Êmêlian trong Êmêlian Pilai đã nói về số phận đau đớn, tủi nhục

của mình đầy xót xa “Đời tôi ra sao! Một kiếp chó! Không có cái ổ mà nằm, cái xương mà

gặm: còn tệ hơn con chó! Tớ có phải là người nữa đâu? Không, không phải là người cậu

ạ, còn tệ hơn con sâu, con thú!” Hay trong đoạn mở đầu truyện Tsenkasơ, Gorki cũng miêu

tả chân thực sống động cái khung cảnh lao động ồn ào náo nhiệt nơi bến cảng, phơi bày

những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, làm ông phải “tức cười đến chảy nước mắt” : “Những

con người rách rưới, mồ hôi nhễ nhại, ngây độn vì mệt mỏi, vì tiếng ồn ào, vì khi trời oi bức và những máy móc cực khỏe, lấp lánh dưới ánh nắng, phô ra cái vẻ vạm vỡ phương phi của mình, những máy móc do những con người ấy tạo ra và chuyển động được rút cuộc cũng không phải bằng hơi nước, mà bằng bắp thịt và máu của những người tạo ra chúng-

sự so sánh ấy là cả một bản trường ca mỉa mai tàn ác” hay Manva cùng từng chua xót mà

thốt lên thân phận của những người đàn bà trong làng, suốt đời làm nô lệ “Như ở trong cái

hố: vừa tối tăm vừa chật chội, - Manva nhếch mép cười mỉa - nhất là thân phận đàn bà: đời chỉ toàn nước mắt” (Manva) Hay "từng toán dân đói”, “trong năm đói khổ ấy” trong Người bạn đường của tôi

Cuộc sống khắc nghiệt, môi trường đầy rẫy những xấu xa tưởng như nuốt chửng hết thảy những phẩm chất cao quý tốt đẹp trong họ, nhưng lại không phải thế, trong cái hoàn cảnh ấy, phần “người” bên trong lại sáng ngời lên Ở đó người đọc bắt gặp được một tên cướp Êmêlian bị cuộc sống áp bức dồn ép tận cùng, tưởng như mất đi nhân tính, tìm đến

một lối thoát duy nhất là cướp của giết người, anh ta sẵn sàng “mua hạnh phúc của mình

bằng tính mạng của kẻ khác” lại dừng tay trước cảnh đời khốn khổ của cô gái đáng thương

mà trở thành người anh hùng hành hiệp trượng nghĩa, chẳng màng tiền bạc (Êmêlian Pilai)

Hay là chàng anh hùng Đankô đã dùng trái tim mình soi sáng cho đoạn đường tìm đến một

vùng đất mới, trái tim anh ta rực cháy làm “bóng tối tan tác và run lẫy bẫy”, nhưng rồi anh

cũng bị chính đoàn người ấy quên lãng, họ nhẫn tâm đá trái tim của chàng dũng sĩ kiêu kì qua một bên, họ háo hức vui mừng bên chiến thắng nhưng chẳng nhớ được ai đã tạo nên điều kì diệu ấy, nhưng dẫu sao chàng anh hùng Đankô vẫn kiêu hãnh và hân hoan cho tận phút giây cuối cùng, bên cạnh đó ta còn thấy được sự đối lập giữa cái cao cả của người anh hùng Đankô và cái ích kỷ, ngu xuẩn của đoàn người Họ trốn tránh và sợ hãi sự khắc nghiệt của thiên nhiên, trốn tránh sự bành trướng thế lực của bộ lạc khác, chính nỗi sợ ấy đã nuốt dần tâm trí họ, họ lạc lối và cần người dẫn đường, họ trông chờ vào Đankô nhưng rồi họ

mù mịt, chán nản và đổ tội cho chàng, thế nên Gorki luôn có cái nhìn đúng đắn về nhân vật của ông, ông không lãng mạn hóa họ, ông ca ngợi vẻ đẹp của họ, nhưng cũng phê phán

Ngày đăng: 22/11/2022, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Trần Thanh Địch (1998), Tìm hiểu truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Tác giả: Trần Thanh Địch
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1998
3. Trần Minh Đức, Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết, http://www.talawas.org/?p=14131, ngày truy cập 16/10/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết
Tác giả: Trần Minh Đức
4. Nguyễn Hải Hà (2014), Nhà văn suốt đời ca ngợi cái đẹp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn suốt đời ca ngợi cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Hải Hà
Năm: 2014
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2011) (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
6. Phạm Mạnh Hùng, Cao Xuân Hạo (2018) (đồng chủ biên), Tuyển truyện ngắn Macxim Gorki, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển truyện ngắn Macxim Gorki
Nhà XB: NXB Thanh niên
7. Trần Đình Sử (2005), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
8. Trần Đình Sử (2008), Giáo trình Lí luận văn học (tập 2) - Tác phẩm và thể loại, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận văn học (tập 2) - Tác phẩm và thể loại
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
9. Trần Đình Sử (2017), Tự sự học - Một số vấn đề lý luận và lịch sử (tập 1), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học - Một số vấn đề lý luận và lịch sử (tập 1)
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm