1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Bối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia" doc

25 311 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 529,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào một phân tích đa cấp đối với các số liệu thu thập được gần đây tại 34 quốc gia trong khuôn khổ chương trình điều tra xã hội quốc tế ISSP, bài báo này, xét trên một phương diện lớ

Trang 1

Bối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia

Knud Knudsen và Kari Wearness

Bằng cách tập trung vào bối cảnh quốc gia và các nhân tố cá nhân ảnh hưởng đến sự đóng góp tương đối và tuyệt đối của người vợ và người chồng trong gia đình, các nhà khoa học

đã có thể hiểu rõ hơn về sự bố trí và chia sẻ công việc nhà trong gia đình giữa các cặp vợ chồng Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra mối liên hệ giữa quyền hạn của người phụ

nữ và sự chia sẻ công việc nội trợ trong gia đình Tuy nhiên, những tác động được ghi lại thì lại chỉ ra điều hoàn toàn ngược lại Các tác giả cho rằng mô hình xuyên quốc gia ít được công bố về những ảnh hưởng mang tính chất tương đối phản ánh sự thật là bối cảnh đất nước ảnh hưởng đến sự tham gia của cả vợ và chồng theo cùng một chiều hướng Người

ta cũng nói đến giả thuyết “discount” liên quan đến tác động qua lại đối với những nỗ lực mang tính tương đối và tác động không qua lại đến sự đóng góp của người vợ và người chồng vào công việc nội trợ trong gia đình Hơn nữa, việc mở rộng mô hình tác động trong

đó có cả tác động liên quan sự phát triển của nền kinh tế như là một biến số giải thích cho cấp độ phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô thừa nhận sắc thái các khía cạnh mang tính chất bối cảnh của đất nước có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định làm việc nhà của người vợ và người chồng Trong khuôn khổ mở rộng của việc trao quyền cho phụ nữ mà ban đầu nó còn rất yếu này, thì mối quan hệ tương đối liên quan đến sự phân chia lại là mạnh mẽ hơn Dựa vào một phân tích đa cấp đối với các số liệu thu thập được gần đây tại 34 quốc gia trong khuôn khổ chương trình điều tra xã hội quốc tế (ISSP), bài báo này, xét trên một phương diện lớn hơn ở mức có thể tính cho đến thời điểm này, đã cùng lúc phân tích những đóng góp mang tính tuyệt đối và tương đối của người vợ và người chồng, đồng thời nó cũng điều tra những tác động qua lại giữa áp lực về nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô và những yếu tố ở cấp

độ cá nhân trong ảnh hưởng đến lao động nội trợ trong gia đình của các cặp vợ chồng

Nguồn: Knud Knudsen and Kari Waerness "National Context and Spouses' Housework in

34 Countries" Europian Sociological Review Volume 24 Number 1 2008 Pp 97-113

………

Giới thiệu

Các nghiên cứu xã hội học gần đây đã bỏ ra rất nhiều nỗ lực để giải thích cho sự phân chia công việc gia đình trên phương diện giới theo khuôn khổ bối cảnh quốc gia (Batalova và Cohen, 2002; Fuwa, 2004; Yodanis, 2005), thông thường thì mặc nhiên người ta thấy rằng tác động của việc trao quyền cho phụ nữ trong xã hội chính là đặt lên vai họ một đống các công việc ở nhà Mặc dù ở một khía cạnh nào đó thì điều này là hoàn toàn ngược lại, tuy nhiên thì những phát hiện đã chỉ ra rằng (Fuwa, 2004) (i) những người vợ sống ở các quốc gia có chủ nghĩa quân bình về giới nhiều hơn thì được hưởng sự phân chia công việc nội trợ trong gia đình với ít sự không công bằng hơn, (ii) những đặc điểm cụ thể ở cấp độ cá nhân

có ảnh hưởng một cách hệ thống đến sự đóng góp tương đối của người vợ, và (iii) ảnh hưởng của tính cách người chồng đến sự chia sẻ của người vợ tăng lên cùng với sự trao quyền cho phụ nữ - điều này chỉ ra một ảnh hưởng “discount” đối với phụ nữ ở những quốc gia ít có chủ nghĩa quân bình hơn Những hướng tiếp cận từ nhiều cấp độ như vậy đã mang

Trang 2

đến những hiểu biết quan trọng về mối quan hệ qua lại giữa áp lực của nền kinh tế ở cấp độ

vĩ mô và vi mô đến những công việc không hề được trả lương này của các cặp vợ chồng

Tuy nhiên, những nghiên cứu mang tính so sánh trên diện rộng như vậy lại bị hạn chế ít nhất là ở ba chiều hướng Chiều hướng thứ nhất, chúng chỉ tập trung vào sự tham gia tương đối Bằng cách làm như vậy, các nhà nghiên cứu mạo hiểm là đã không để ý tới sự phù hợp giữa ảnh hưởng của bối cảnh quốc gia đến sự đóng góp của nam giới và phụ nữ, và chính vì vậy họ không thể nắm bắt được sự phân chia về giới trong lao động ở gia đình Chiều hướng thứ hai, xét trên phương diện cá nhân thì mối quan hệ giữa sự tham gia tuyệt đối và tương đối của vợ và chồng vẫn chưa hề được khám phá Cái nhìn ở góc độ rất hẹp này đã gây cản trở cho việc tìm hiểu rõ hơn về ảnh hưởng qua lại của các nhân tố ở tầm vi mô và các đặc điểm ở tầm vĩ mô đến những công việc được trả không được trả lương này của các cặp vợ chồng Thứ ba, các nhà nghiên cứu đã bị hạn chế bởi những số liệu hiện có và bởi tính chất không chính xác của những tiêu chuẩn sẵn có mà có thể bóp méo đi những ảnh hưởng ở tầm

vĩ mô trong các nghiên cứu so sánh, và vì thế nó có thể đưa lại những phát hiện không xác thực và mập mờ không rõ ràng

Áp dụng những số liệu mới phát hiện từ 34 quốc gia (ISSP, 2002) cùng với những quy chuẩn dựa vào cả thời gian và nhiệm vụ, bài báo này là một trong số những nghiên cứu có phương pháp hệ thống nhằm vào phân tích bối cảnh quốc gia có ảnh hưởng như thế nào đến toàn bộ và một phần công việc nội trợ của người vợ và người chồng trong gia đình Người

ta tranh luận rằng sự trao quyền cho phụ nữ ở cấp độ cao như vậy sẽ có thể mang lại kết quả

là một mô hình xuyên quốc gia ít được công bố về sự tham gia trong tương đối Chúng tôi phân tích việc phân chia công việc gia đình trên tầm vi mô phản ánh những nỗ lực tuyệt đối của cả người vợ và người chồng như thế nào trong những phạm trù khác nhau của sự bất bình đẳng về giới trên tầm vĩ mô Từ đó chúng tôi đưa ra gợi ý rằng điều tra sự đóng góp tổng thể và tương đối cùng với nhau có thể sẽ mang lại những hiểu biết sâu sắc hơn về cơ chế ẩn chứa đằng sau việc bố trí và chia sẻ công việc gia đình của các cặp vợ chồng Xét trên một khía cạnh rộng lớn hơn thì nghiên cứu này kiểm tra giả thuyết tác động qua lại trong sự bất bình đẳng giới ở cấp độ cao trên tầm vĩ mô làm giảm tác động của các nhân tố

ở cấp độ cá nhân như thế nào Ngược lại với đòi hỏi “discount”, chúng tôi thấy rất ít lý do

để có thể mong đợi bất kỳ một tác động qua lại nào trong việc biến những nguyên tắc cơ bản của đặc điểm cá nhân sang sự đóng góp tuyệt đối của người vợ hay người chồng Và chúng tôi đề xuất một chuỗi lý luận làm thế nào để cho hai nguyên lý cơ bản có vẻ như đối lập với nhau này có thể hòa hợp, tương thích với nhau

Những thảo luận trong bài báo này đưa đến một tranh luận rộng rãi về việc trao quyền cho phụ nữ, và dựa trên mô hình giả định rằng sự bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và kinh tế có ảnh hưởng đến công việc nội trợ của nam giới và phụ nữ ở trong gia đình (Hook, 2006) Tuy nhiên thì chuỗi lý luận về nguyên nhân được nhìn nhận một cách quá đơn giản

và người ta cho rằng nó nên được đánh giá theo những giải thích mang tính chất phức tạp hơn Bằng cách làm như vậy, chúng tôi đã có thể kiểm tra sự phù hợp trong sự phát triển kinh tế đất nước đồng thời điều tra được các sức ép kinh tế có tác động như thế nào đến sự bất bình đẳng giới trên tầm vĩ mô Hướng tiếp cận toàn diện này đã đưa ra khung chương trình cho những giả thiết thử nghiệm về ảnh hưởng có thể của bối cảnh đất nước đến sự đóng góp tuyệt đối của người vợ và người chồng theo những hướng khác nhau Chúng tôi sẽ lập luận rằng những nỗ lực trong công việc nội trợ của người phụ nữ sẽ trở nên nhạy cảm hơn đối với việc trao quyền cho phụ nữ và nỗ lực của nam giới đối với các hoạt động tạo dựng kinh tế thì lại trùng lặp với quan điểm của Baker (1981) Những phân tích mở rộng trên nhiều cấp độ như vậy khi được áp dụng một cách cẩn thận đã tạo ra nền tảng cho những

Trang 3

lập luận mang sắc thái mới trong mối quan hệ giữa trao quyền cho phụ nữ trên cấp độ vĩ mô

và sự phân chia công việc nội trợ dựa trên nền tảng giới ở cấp độ vi mô

Ba khái niệm trung tâm liên quan đến những tác động mang tính chất giả định trong việc sử dụng toàn thời gian và sử dụng tương đối số thời gian (Bianchi et al., 2000; Hook, 2006)

Để minh hoạ cho sự sẵn sàng về mặt thời gian của người vợ, việc đảm nhiệm các nhiệm vụ khác ngoài gia đình sẽ tạo điều kiện cho người vợ dành ít thời gian cho công việc gia đình hơn và có vẻ như là sự đóng góp tương đối của họ cũng thấp hơn, còn đối với những việc khác thì vẫn cân bằng nhau Trên cơ sở như vậy, chúng tôi mong chờ có những yếu tố mang tính chất cá nhân có thể làm ảnh hưởng đến những nỗ lực tương đối và tổng thể theo một hướng song song với nhau, cụ thể là nếu có ít việc nhà dành cho phụ nữ hơn thì sẽ làm giảm

sự đóng góp cuả họ trong khi ít việc nhà cho nam giới lại có xu hướng làm tăng sự đóng góp của người phụ nữ

Những cơ chế trên tầm vĩ mô

Những giải thích trên tầm vĩ mô cho rằng những áp lực về mặt cấu trúc và văn hoá đã hình thành nên những cách thức mà trong đó các cặp vợ chồng thực hiện nghĩa vụ của họ (Geist, 2005) Theo cách này thì trao quyền cho phụ nữ xét trên phương diện quốc gia có thể ảnh hưởng đến sự nỗ lực của đối tác của họ cũng như mức độ đóng góp trung bình đối với các công việc nội trợ trong gia đình của người phụ nữ.(Blumberg, 1984; Batalova và Cohen, 2002; Yadanis, 2005)

Cũng giống như Fuwa (2004), chúng tôi cho rằng mức độ bình đẳng giới của một quốc gia

có thể liên quan đến những khía cạnh rộng lớn hơn thế1, điều này được thể hiện trong mức lương của người phụ nữ, vị trí của họ trong công việc, con đường sự nghiệp của họ và địa vị chính trị của họ cũng như là được thể hiện ở trong các hệ tư tưởng nổi bật về giới Hơn thế

Trang 4

nữa, Hook (2006) đã tranh luận rằng vị trí của người phụ nữ trong xã hội bị cột chặt bởi những nỗ lực chính trị của quốc gia trong các điều lệ, chính sách gia đình và các sáng kiến

về bình đẳng giới Từ đó, bình đẳng giới trên tầm vĩ mô kéo theo nó là những cơ chế về mặt cấu trúc trên diện rộng (Grommo và Lingsom, 1986; Gerson 1993; Iversen và Rosenbluth, 2006) Phát triển dựa trên phân tích của Hook (2006) về những công việc không hề được trả lương này của nam giới, chúng tôi hy vọng rằng khi có ít sự bất bình đẳng hơn ở trong xã hội thì sẽ dẫn đến việc người ta phải dành ít thời gian cho những nhiệm vụ thuộc về nội trợ trong gia đình Đi sâu hơn vào tranh luận, chúng tôi cho rằng chính những ảnh hưởng này

đã tác động đến cả hai giới, chính vì vậy mà ở những quốc gia có sự bình đẳng về giới hơn thì cả người vợ và chồng đều dành ít thời gian hơn cho các công việc trong gia đình.2

Những cơ chế ảnh hưởng đến nỗ lực tuyệt đối của cả hai vợ chồng có thể làm biến đổi những mô hình xuyên quốc gia về đóng góp tương đối và đồng thời nó có thể giải thích cho những phát hiện mâu thuẫn nhau về trao quyền cho phụ nữ - trong đó có mối quan hệ giữa phân chia công việc gia đình được ghi lại trong tài liệu (Baxter, 1977; Batalova và Cohen, 2002; Fuwa, 2004; Yodanis 2005)

Sự tương tác qua lại giữa cấp độ vĩ mô và vi mô

Sự bất bình đẳng về giới trên cấp độ vĩ mô có thể tác động qua lại với các yếu tố cá nhân trong phạm trù phân chia công việc nội trợ trong gia đình (Blumberg, 1984) Fuwa (2004) cho rằng trong các điều kiện bối cảnh của đất nước ít mà có được sự trao quyền cho phụ nữ thì tài sản cá nhân của phụ nữ có thể cũng không có ảnh hưởng gì nhiều lắm đến sự đóng góp của họ Ở các quốc gia Bắc Âu nơi có chủ nghĩa quân bình nhiều hơn thì những người

vợ vẫn có thể thương lượng để làm ít các công việc nhà hơn một cách có hiệu quả dựa trên những đặc điểm trong phạm trù cá nhân của họ Hiểu theo một chiều hướng nữa thì những người phụ nữ ở các quốc gia ít có chủ nghĩa quân bình hơn thường phải làm ít việc nhà hơn dựa vào tác động của những tài sản cá nhân mà họ có được

Mặc dù có thể có những lập luận có lý về tác động trên tầm vĩ mô đến ảnh hưởng vi mô của

sự phân chia dựa trên khía cạnh giới đối với các công việc nhà, dường như người ta thấy còn thiếu chứng cứ để chứng minh rằng những điều này có thể tạo ra sự chuyển biến từ những đặc điểm cá nhân sang toàn bộ khối lượng công việc nhà Thông thường thì chúng tôi

hy vọng sự sẵn có về mặt thời gian và thời gian dành cho việc nội trợ trong gia đình nhiều hay ít cũng sẽ ở một tỷ lệ tương đương nhau bất kể bối cảnh trong nước là như thế nào Tuy nhiên thì một điều không chắc chắn sẽ thành hiện thực đó là phụ nữ ở những quốc gia có chủ nghĩa quân bình kém hơn thì nên dành ít thời gian hơn cho công việc nội trợ theo những quan điểm hiện đại về giới hay những nguồn lực về mối quan hệ mạnh mẽ Cứ theo cái nền tảng này thì chúng tôi không mong chờ bất kỳ một sự tương tác qua lại nào trong khối lượng công việc nội trợ mà người chồng và người vợ sẽ phải gánh vác ở trong gia đình mặc

dù không cần thiết phải tranh luận xung quanh cái giả thuyết về “discount” đối với sự đóng góp tương đối như vậy Những nghịch lý như thế này vẫn có thể hoà giải được Điều này được bắt đầu bởi đòi hỏi rằng ảnh hưởng liên tục đến sự đóng góp tuyệt đối có thể có giá trị khác trong những khái niệm truyền thống về sự chia sẻ công việc gia đình của người vợ, dựa trên mức độ tham gia toàn bộ của cả vợ và chồng trong bối cảnh sẵn có của một quốc gia Phân tích tác động trên tầm vĩ mô đến ảnh hưởng tuyệt đối và tương đối trên cấp độ vi

mô sẽ cung cấp cơ sở để thử nghiệm kết quả của những tranh luận đã nêu trên

Quan điểm/ triển vọng

Trang 5

Những phát hiện không tương thích nhau và những mô hình tác động mang tính hệ thống trong tài liệu nghiên cứu nhấn mạnh vào những thách thức được phát hiện ra trong nghiên cứu xuyên quốc gia liên quan đến sự hà khắc về chuẩn mực, hạn chế sự không sát thực và siết chặt trật tự nhân quả (Yodanis, 2005) Những vấn đề này dường như bị phóng đại lên khi có nghiên cứu về những mô hình tại nhiều quốc gia khác nhau trong đó các mô hình đã biến đổi rất lớn theo tính chất lịch sử của kinh nghiệm, văn hoá và ngôn ngữ (Lee và Haas, 1993; Kittel, 2006; Mills et al., 2006)3 Trong những so sánh giữa các quốc gia với nhau, nhà nghiên cứu sẽ phải dựa trên những chuẩn mực mà trong một số trường hợp có thể sẽ ít

có cơ sở hơn những phân tích thông thường cụ thể đối với từng quốc gia, và thường phải đưa ra nhiều giả định mang tính chất suy đoán về cấu trúc nhân quả hơn là trong những nghiên cứu truyền thống Tóm lại, điều này hàm chứa rằng một hướng tiếp cận ít chặt chẽ hơn có thể vẫn sẽ có nghĩa hơn trong những nghiên cứu như vậy Chính vì vậy, chúng tôi đã quyết định áp dụng một chiến lược phân tích mở, bắt đầu bằng một mô hình đơn giản về ảnh hưởng trên tầm vĩ mô và vi mô và một chuỗi phân tích HLM, tránh những chi tiết phức tạp của các cấu trúc nhân quả hoặc các mô hình khuôn khổ Trong giai đoạn thứ hai, mô hình này sau đó được mở rộng đến sự phát triển kinh tế trên tầm vĩ mô và sự trao quyền cho phụ nữ

Tranh luận trên đây đưa ra hai giả thuyết, một là công việc nội trợ mang tính tương đối và giả thuyết thứ hai là công việc nhà mang tính tuyệt đối Giả thuyết thứ nhất công nhận ảnh hưởng của sự bất bình đẳng giới trên tầm vĩ mô đến sự phân chia công việc gia đình dựa trên phạm trù giới trên tầm vi mô (tương đối) nói lên những cơ chế trên phạm trù cá nhân

và gợi ra sự tác động qua lại giữa hai cấp độ Những giả định này là phù hợp với những tranh luận đã nêu trong nghiên cứu gần đây (Fuwa, 2004) mặc dù họ cũng có nêu lên một số câu hỏi theo lối kinh nghiệm và lý thuyết như đã lưu ý từ ngay đầu bài viết Tuy nhiên, giả thuyết thứ hai cho rằng những ảnh hưởng tương tự đến sự đóng tuyệt đối của vợ và chồng liên quan đến ảnh hưởng trên tầm vĩ mô và các cơ chế ở cấp độ cá nhân (Hook, 2006), điều

đó nói lên rằng không có sự ảnh hưởng qua lại nào giữa các cấp độ dành cho công việc nội trợ một cách tuyệt đối Những giả thuyết sau này không được kiểm tra trước theo lối kinh nghiệm trong khuôn khổ bối cảnh xuyên quốc gia trên diện rộng tương tự như vậy bởi vì nguồn số liệu chính cho các nghiên cứu phù hợp trước đây (ISSP, 1994) không bao gồm những thông tin về sự tham gia tuyệt đối

Số liệu và phương pháp

Đầu tiên, những số liệu trong bài này được lấy từ chương trình điều tra xã hội quốc tế (ISSP) Chương trình điều tra xã hội quốc tế là một khảo sát được tiến hành hàng năm tại các nước trên thế giới Bắt đầu từ năm 1986, mỗi năm người ta chọn một chủ đề khác nhau coi như là một module để tập trung điều tra cùng với những chủ đề tiêu chuẩn làm nền tảng Những module được chọn làm chủ đề nghiên cứu chẳng hạn như thái độ đối với bất bình đẳng, đặc điểm dân tộc và vai trò giới thường được lặp đi lặp lại thông thường theo chu kỳ khoảng 5 đến 10 năm Chúng tôi sử dụng số liệu từ năm 2002 với chủ đề Gia đình và thay đổi vai trò giới III Trong phần chính, module của năm 2002 lặp lại chủ đề nghiên cứu của cuộc điều tra Gia đình và vai trò giới trong chương trình nghiên cứu xã hội quốc tế năm

1994 Những số liệu này sẵn có tại nguồn Zentralarchiv fur Empirische Sozialforschung, đại học Cologne.4

Số liệu từ chương trình điều tra xã hội quốc tế được thu thập từ khoảng 15 đến 20 nghìn bảng hỏi được tiến hành cùng với những điều tra quốc gia thường xuyên hoặc tiến hành như

là một điều tra riêng biệt Ban đầu, bảng hỏi được viết bằng tiếng Anh chuẩn và sau đó được dịch ra ngôn ngữ của từng nước tiến hành điều tra Tất cả các mẫu đều là mẫu có thể xảy ra

Trang 6

Module năm 2002 được tiến hành ở 34 quốc gia là Australia, Áo, Brazil, Bulgaria, Chile, Cyprus, Cộng hoà Séc, Đan Mạch, Đức, Anh, Phần Lan, Flanders, Pháp, Ailen, Hungary, Israel, Nhật Bản, Latvia, Mexico, Had Lan, New Zealand, Bắc Ailen, Na Uy, Philipines, Ba Lan, Bồ đào Nha, Nga, Slovenia, cộng hoà Slovakia, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ, Đài Loan và Mỹ Nghiên cứu này bao gồm những thành viên mà ở thời điểm nghiên cứu đã lập gia đình hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trong độ tuổi từ 25 đến 64 và trong số các cặp vợ chồng với nhau thì chỉ có một người trả lời Sau khi đã loại bỏ những trường hợp không có đầy đủ số liệu về các biến số chủ yếu, nghiên cứu này đã sử dụng 17.496 trường hợp Cỡ mẫu cuối cùng biến đổi từ 320 (Bungary) đến 990 (Đài Loan).5 Mặc dù không phải

là không có điểm yếu nhưng chương trình nghiên cứu xã hội quốc tế là một trong những bộ

số liệu ít ỏi cung cấp thông tin về khối lượng và sự phân chia công việc nội trợ trên diện rộng đối với các nước công nghiệp phát triển Vì module 2002 của chương trình nghiên cứu

xã hội quốc tế bao gồm cả những biến số dựa trên trách nhiệm được áp dụng trước đó cùng với các quy chuẩn về việc sử dụng thời gian, chính vì vậy nó đã làm nền cho việc so sánh cùng với những phát hiện trước đó cũng như là cho các phân tích mở rộng

Phân tích đa cấp được tiến hành, sử dụng phần mềm HLM 6.0 Hướng tiếp cận như vậy có

vẻ rất hữu ích khi phân tích số liệu mà trong đó các cá nhân được phân vào thành những nhóm lớn hơn Phân tích HLM giúp người ta có thể tận dụng những ưu điểm của cấu trúc tầng của số liệu bằng cách đồng thời điều tra ảnh hưởng của các biến số ở tầm vi mô và vĩ

mô trên quan điểm cá nhân, cùng lúc đó điều chỉnh sự tương quan có thể giữa những sai sót

do số liệu tầng mang lại (Hox, 1995) Vì thế mà trong phân tích dưới đây người ta kết hợp

cả hai cấp độ: cấp quốc gia và cấp cá nhân Để khám phá những ảnh hưởng trên tầm quốc gia, chúng tôi kiểm tra xem liệu phần mặt phẳng bị chắn của phương trình ở cấp độ cá nhân

có biến đổi so với mức độ bình đẳng giới của quốc gia như đã đưa ra trong tiêu chuẩn tạo quyền giới của chương trình phát triển liên hiệp quốc hay không.Tất cả các biến số ở cấp quốc gia và cấp cá nhân đều được tập trung vào ý nghĩa quan trọng của chúng bởi vậy mà phần mặt phẳng bị chắn có thể đựơc hiểu là kết quả được đoán trước đối với một cặp vợ chồng có các đặc điểm trung bình tại một quốc gia có số điểm tiêu chuẩn tạo quyền giới ở mức trung bình Mô hình cho phép các hệ số hồi quy của ba biến số chính ở cấp độ cá nhân (thu nhập tương đối, thời gian sẵn có, thái độ giới) có thể biến đổi theo từng quốc gia và từ

đó có thể phát hiện ra được những ảnh hưởng tác động qua lại cụ thể giữa các yếu tố ở tầm

vĩ mô và vi mô Các biến số điều khiển về tuổi tác, thời gian liên quan đến công việc của người chồng, số con và sự giáo dục con cái được xem là những ảnh hưởng cố định trên mỗi quốc gia Những tỷ lệ tương tự cũng được áp dụng cho tuổi tác, giới (phụ nữ) và sự tương tác giữa giới và thái độ về giới cũng được cho là phù hợp trong các nghiên cứu so sánh đã

có trong tài liệu

Các biến số kết quả: Sự phân chia giới và khối lượng công việc nhà

Chiến lược nghiên cứu của chúng tôi cho phép sử dụng sự tham gia tổng thể và tương đối của vợ và chồng như là những biến số độc lập trong chuỗi các phân tích đặc trưng HLM Bằng cách kiểm tra mô hình kết quả đối với tổng số thời gian sử dụng bên cạnh những tiêu chuẩn dựa vào thời gian khi nói đến những đóng góp tương đối, chúng tôi hy vọng rằng sẽ

có một sự hiểu biết sâu sắc hơn về công việc nội trợ của các cặp vợ chồng trong những điều kiện khác nhau của từng quốc gia khác nhau Các nhà nghiên cứu trước đây bị giới hạn bởi những số liệu sẵn có và tận dụng chương trình nghiên cứu xã hội quốc tế (ISSP) Bản chất không đúng của phạm vi 5 điểm thứ tự được áp dụng đối với các chỉ số vốn có (luôn luôn là phụ nữ, thường là phụ nữ, đồng đều, thường là nam giới, luôn luôn là nam giới) có thể rất

mơ hồ, khó hiểu trong nghiên cứu so sánh do vai trò khác nhau của từng quốc gia trong sự

Trang 7

khát khao về xã hội và sự tiêu chuẩn hoá liên quan đến các câu trả lời của người tham gia (Hook, 2006:640) Bị giới hạn trong tiêu chuẩn tổng kết dựa trên nghĩa vụ về sự tham gia làm các công việc nhà của phụ nữ, điều mà có thể làm méo mó những ảnh hưởng trên tầm

vĩ mô trong các nghiên cứu so sánh, điều này có thể xuất hiện khả năng đưa đến những phát hiện không chính xác và mơ hồ, lưỡng nghĩa Chính vì lý do này mà cần thiết phải có những phân tích mở rộng đối với các số liệu quốc gia trên diện rộng cùng với những tiêu chuẩn bổ sung cho sự tham gia tổng thể và tương đối vào các công việc nội trợ trong gia đình

Những người tham gia vào chương trình điều tra xã hội quốc tế năm 2002 được hỏi câu hỏi như sau: “trong gia đình của anh/chị thì ai là người làm những công việc sau đây…?” cùng với các phạm trù câu trả lời như sau: luôn luôn là tôi (1), thường là tôi (2), trung bình thì cả hai người cùng làm, thường là vợ/chồng tôi làm, luôn là vợ/chồng (5) của tôi làm, một người khác.6 Biến số này bao gồm các công việc nội trợ trong nhà và những công việc này thường được nhắc tới như là “nhiệm vụ của phụ nữ” Những công việc này có xu hướng trở nên ngày càng tốn nhiều thời gian, không mấy dễ chịu, theo trình tự nhiều hơn và họ thường không mấy thận trọng khi hoàn thành công việc (Baxter, 1997; Cotrane, 2000; Batalova và Cohen, 2002) Biến số chia sẻ công việc gia đình được thiết kế từ đáp án cho những câu hỏi liên quan đến 4 công việc như sau: giặt giũ, mua thực phẩm, chăm sóc người ốm trong gia đình và nấu ăn.7Các câu trả lời có liên quan đến giới tính của người tham gia, được tính tổng và chia cho số câu trả lời hoàn thiện và mức độ được tính từ 1 đến 5 với mức 5 là chỉ

số cho biết người vợ phải làm nhiều việc nhà hơn chồng Chiến lược này đảm bảo chỉ số công việc nội trợ gần nhất ở mức có thể đối với tiêu chuẩn được đưa ra bởi Batalova và Cohen (2002) và khiến cho các phát hiện của chúng tôi có thể được so sánh với những phát hiện trong nghiên cứu xuyên quốc gia gần đây trong tài liệu đã được đưa vào số liệu của chương trình điều tra xã hội quốc tế năm 1994 (Fuwa, 2004; Yodanis, 2005)

Ngay sau đó, người tham gia được hỏi câu hỏi liên quan đến các công việc nhà cụ thể như sau:

“Tính trung bình thì mỗi tuần, riêng bản thân anh/chị dành bao nhiêu giờ để làm việc nhà, không kể việc chăm sóc con cái và thời gian dành cho các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí?” Tiếp theo đó là câu hỏi:

“Thế còn vợ/ chồng của anh/chị thì sao? Tính trung bình mỗi tuần, riêng bản thân chị ấy/anh

ấy dành bao nhiêu giờ để làm việc nhà không kể việc chăm sóc con cái và thời gian dành cho các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí?”

Thời gian dành cho công việc nội trợ của những người tham gia được ghi chép lại liên quan đến giới tính của họ, cung cấp cơ sở cho những tiêu chuẩn về tổng số thời gian mà họ dành

cho các công việc gia đình Như vậy, công việc nhà của người vợ và công việc nhà của người chồng là biến số chỉ ra khối lượng thời gian mà mỗi người vợ hoặc chồng dành cho

những công việc đó theo từng tuần Đưa ra chuỗi các câu hỏi như vậy, chúng tôi giả định rằng công việc đưa ra sẽ cung cấp một cái khung cho các câu hỏi liên quan đến vấn đề thời gian

Bằng cách nhóm hai biến số sử dụng thời gian này với nhau, chúng tôi đã có thể cấu trúc nên một tiêu chuẩn bổ sung về phân chia công việc nội trợ theo giới, trong trường hợp này

có thể gọi tên là sự đóng góp của người vợ - tức là chỉ ra tỷ lệ đóng góp của người vợ trong

tổng số thời gian mà cặp vợ chồng dành cho các công việc nội trợ trong gia đình Chính vì

Trang 8

thế mà chương trình điều tra xã hội quốc tế 2002 áp dụng cả hai trường hợp công việc và tiêu chuẩn dựa vào thời gian của sự tham gia một cách tương đối Trong các nghiên cứu trước đây, có thể người ta sẽ thích biến số dựa vào thời gian được sử dụng đã ghi chép lại (Fuwa, 2004:755), tuy nhiên thì điều này lại không sẵn có ở trong module của chương trình nghiên cứu xã hội quốc tế năm 1994 Tiếp cận của chúng tôi cung cấp cơ sở cho việc lặp lại các phân tích cũng như là làm nổi bật các phân tích trước đó.8

Đã có rất nhiều nghiên cứu và tranh luận về điều gì có thể đưa ra tiêu chuẩn tốt nhất về các công việc nội trợ trong gia đình xét theo chiều hướng tổng thể và tương đối: những tiêu chuẩn dựa trên nghiên cứu tự báo cáo hay nhật ký chi tiết về thời gian Những ước tính cách điệu hoá (dựa trên bảng hỏi) thường được xem là kém chính xác hơn so với những ước tính dựa trên nhật ký thời gian (Bianchi et al., 2000; Kan, 2006; Hook, 2006); tuy nhiên thì không có một sự nhất trí nào trong tài liệu cho rằng một tiêu chí này lại rõ ràng thuận lợi hơn so với một tiêu chí khác (Kitterod và Lyngstad, 2005; Yadanis, 2005) Mặc dù cũng có một số điểm yếu trong các tiêu chí của chúng tôi, nhưng các hướng tiếp cận tương tự vẫn được sử dụng thường xuyên trong nghiên cứu xuyên quốc gia

Bảng 1: Số liệu mô tả ở cấp độ cá nhân

Thu nhập tương đối 0-4

(4: vợ kiếm nhiều hơn rất

nhiều)

Thời gian sẵn có: Số giờ

làm việc theo từng tuần của

vợ

Tư tưởng giới 0-4

(4: tư tưởng chủ nghĩa quân

bình)

Giới tính: người tham gia là

phụ nữ =1, người tham gia

Trang 9

Số liệu thống kê mô tả cho các biến số kết quả được đặt ở đầu của bảng 1 Mean và SD cho các chỉ số phân chia công việc nội trợ (dựa trên nhiệm vụ) gần như là giống với các phát hiện dựa trên chương trình điều tra xã hội quốc tế năm 1994 (Batalova và Cohen, 2002: 747; Fuwa, 2004:756), có thể nó chỉ ra một tỷ lệ trung bình thấp hơn chút ít (sự bất bình đẳng giới nhiều hơn) ở năm 2002 Những phân tích sâu hơn đã chỉ ra rằng bốn biến số kết quả như mong đợi có liên quan với nhau ở cấp độ cá nhân: số giờ làm việc nhà của vợ theo

từng tuần có tương quan một cách tích cực đến sự chia sẻ công việc nội trợ (0.29) và sự đóng góp của người vợ/ her share (0.38), trong khi đó sự tương quan giữa hai tiêu chí về những tác động tương đối là 0.54 Số giờ làm việc nhà của người chồng tính theo tuần có

tương quan theo chiều hướng đối lập với các tiêu chí tương đối (-0.25,-0.61), trong khi đó

nó lại có tương quan một cách tích cực (0.23) với số giờ làm việc trong tuần của người vợ

Các biến số độc lập ở cấp độ cá nhân

Có ba biến số độc lập ở cấp độ cá nhân Do chương trình điều tra xã hội quốc tế không bao gồm các thông tin phù hợp về thu nhập thực tế, cho nên người ta đã áp dụng biến số thu nhập tương đối với câu hỏi: ‘Xem xét tất cả các nguồn thu nhập, thì giữa anh/chị và

vợ/chồng/đối tác của anh/chị ai là người có thu nhập cao hơn?” Phạm trù trả lời cho câu hỏi này được xếp từ “vợ/chồng/đối tác của tôi không có thu nhập”(1), “tôi có thu nhập cao hơn rất nhiều”(2)- cho đến “vợ/chồng/đối tác của tôi có thu nhập cao hơn rất nhiều”(6) và “tôi không có thu nhập”(7) Câu trả lời là “không biết” được cho là có cùng giá trị với câu trả lời

‘chúng tôi có thu nhập bằng nhau”(4) Câu trả lời có liên quan đến giới tính của người trả lời và được thay đổi tỷ lệ từ 0 đến 4 trong đó tỷ lệ ở mức 4 nói lên rằng người vợ có thu nhập cao hơn rất nhiều so với chồng Những cặp mà chỉ có 1 người có thu nhập thì được cho điểm là 0 nếu như chỉ có người chồng làm việc và điểm 4 nếu như chỉ có người vợ làm việc

Biến số Thời gian sắn có dựa trên thông tin của người tham gia và vợ/chồng/đối tác của họ

dành cho các công việc trên thị trường lao động ở bên ngoài gia đình Sau khi liên kết các

câu trả lời với giới tính của người trả lời, chúng tôi thấy xuất hiện hai biến song song thời gian sẵn có (số giờ làm việc trong tuần mà người vợ thường làm trên thị trường lao động)

và số thời gian làm việc trong tuần của người chồng (thông thường người chồng dành bao

nhiêu thời gian để làm việc trên thị trường lao động ngoài gia đình) Biến đầu tiên là một trong ba biến số giải thích tập trung ở cấp độ cá nhân, biến số sau đó được sử dụng như là một biến điều khiển (xem dưới đây)

Hệ tư tưởng giới nghĩa là để phản ánh sự hỗ trợ của những người tham gia đối với một hệ tư

tưởng giới theo chủ nghĩa quân bình Chỉ số thái độ này được dựa trên phản ứng đối với những tuyên bố sau: “có công việc là tốt nhưng những cái mà hầu hết phụ nữ thật sự mong muốn là có một gia đình và có con cái”, “làm nội trợ thì cũng chiếm nhiều thời gian chẳng khác nào làm việc để kiếm sống”, “trách nhiệm của nam giới là làm việc và kiếm tiền còn trách nhiệm của phụ nữ là chăm sóc gia đình”, “tóm lại là đời sống gia đình sẽ trở nên tồi tệ hơn khi người phụ nữ có một công việc làm toàn thời gian”, và “một đứa trẻ chưa đến độ tuổi đi học sẽ bị thiệt thòi nhiều hơn nếu mẹ của nó đi làm” Phạm trù câu trả lời được sắp xếp từ “rất đồng ý”(1) đến “rất phản đối”(5) Sau khi tính tổng và thay đổi tỷ lệ, chỉ số được xếp hàng từ 0 đến 4, với điểm số càng cao thì sẽ hàm chứa thái độ càng tích cực đối với sự bình đẳng giới.9 Nghiên cứu trước đây đưa ra những ảnh hưởng khác nhau của định hướng

hệ tư tưởng đối với nam giới và phụ nữ và vì vậy chúng tôi tính đến cả một thuật ngữ về sự

tương tác qua lại (phụ nữ x hệ tư tưởng giới)

Trang 10

Cùng với ba biến số giải thích tập trung ở cấp độ vi mô này, những biến số khác cũng được

kể đến như là những biến điều khiển Chúng tôi cũng đề cập đến số giờ làm việc trong từng

tuần trên thị trường lao động ngoài gia đình của người chồng Những biến số khác như Tuổi tác, Age squared như là ảnh hưởng không trực tiếp cũng có thể sẽ được xem xét (Batalova

và Cohen, 2002) Giới được đo đối với phụ nữ là 1 và đối với nam giới là 0 và chính vì vậy

nó bao gồm thêm một biến nữa gọi là biến Nữ giới Lý do chính giải thích cho việc đưa yếu

tố giới vào phân tích này như là một biến số điều khiển là vì nghiên cứu trước đây đã tìm thấy sự không thống nhất trong báo cáo của các cặp vợ chồng, đặc biệt là đối với sự phân chia tương đối các công việc nội trợ trong gia đình (Kamo, 2000)

Trình độ giáo dục của những người tham gia được đo theo trình tự sắp xếp thứ tự từ “không

được giáo dục chính thức”(0) đến “học xong đại học”(5) Biến số Con cái chỉ ra xem những

người tham gia có con cái ở độ tuổi dưới 18 trong gia đình (1) hay là không có (0) dựa trên những câu hỏi về thành phần gia đình Một lần nữa, những nghiên cứu trước đây cho rằng

số con ảnh hưởng đến công việc nội trợ của cả vợ và chồng (Bianchi et al., 2000) Cùng với những biến số điều khiển này, một chỉ số về sự chung sống chung thuỷ của đối tác cũng có được ưu tiên xem xét (Batalova và Cohen, 2002) Tuy nhiên thì có một tiêu chí tin cậy không sẵn có ở trong số liệu của chương trình điều tra xã hội quốc tế năm 2002 Các số liệu thống kê mô tả cho các biến số giải thích ở cấp độ cá nhân được đưa ra ở trong bảng 1

Biến số ở cấp độ quốc gia

Chúng tôi muốn đo mức độ trao quyền cho phụ nữ trên một phạm trù rộng lớn hơn, cũng

khái niệm hoá giống như là mức độ bình đẳng giới của một quốc gia (Fuwa, 2004) Về vấn

đề này, chúng tôi sử dụng tiêu chí bình đẳng giới từ báo cáo phát triển con người (2004) của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) Tiêu chí bình đẳng giới nói tới mức độ tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực chính trị, cơ hội chuyên môn, và sức mạnh kinh tế của

họ (UNDP, 2004) Cụ thể hơn, chỉ số tiêu chí bình đẳng giới được xây dựng từ sự kết hợp tỷ

lệ phần trăm số ghế trong quốc hội do phụ nữ chiếm giữ, tỷ lệ nữ tham gia vào các vị trí điều hành, lãnh đạo, tỷ lệ cán bộ có trình độ và công nhân kỹ thuật là nữ và mức độ thu nhập của nữ giới so với nam giới Những nghiên cứu xuyên quốc gia gần đây đã giới thiệu tiêu chí bình đẳng giới như là một chỉ số phù hợp nhất cho bình đẳng giới trên cấp độ vĩ mô (Fuwa, 2004:756) Vì những lý do như vậy và cũng vì tính có thể so sánh được mà đầu tiên chúng tôi tập trung vào biến số ở tầm quốc gia này trong các phân tích sau đây.10 Tiêu chí

áp dụng dựa trên điểm số tiêu chí bình đẳng giới của UNDP trong vòng ba năm kể từ năm

2002 trở về trước Với mục đích đơn giản hoá sự diễn giải trong phân tích đa cấp, chúng tôi

đã thay đổi tỷ lệ biến số này, giờ đây biến sẽ được sắp xếp bắt đầu từ 0 đối với những quốc gia có điểm số chỉ tiêu bình đẳng giới thấp nhất (chẳng hạn như Nga hay Chile) đến biến số

1 cho những quốc gia có điểm số chỉ tiêu bình đẳng giới cao nhất (chẳng hạn như Na Uy và Thuỵ Điển).11 Số liệu mô tả ở cấp độ quốc gia được trình bày ở bảng 2 cùng với giá trị trung

bình cho bốn biến số kết quả Phân chia công việc nội trợ gia đình, công việc nội trợ của phụ nữ, công việc nội trợ của nam giới, và chia sẻ công việc nhà của người vợ trong gia đình

Bảng 2: Số liệu thống kê mô tả ở cấp độ quốc gia

Quốc gia Tiêu chí tạo

quyền về giới của UNDP, 0-1

Phân chia trung bình công việc nhà

Số giờ trung bình làm việc nhà của phụ nữ mỗi

Số giờ trung bình làm việc nhà của nam giới

Sự đóng góp trung bình của phụ nữ trong công

Trang 11

(1:MAX) Cao: phụ nữ

làm nhiều hơn

tuần mỗi tuần việc nhà của

cả hai vợ chồng

Trang 12

khiến cho khó mà có thể chia tách các cơ chế hoặc các nguồn cụ thể theo khái niệm cũng như theo cách truyền thống kinh nghiệm Trong những nghiên cứu xuyên quốc gia về công việc nội trợ trong gia đình, người ta đã đưa ra rất nhiều giải pháp cho thách thức này Fuwa (2004) những phân tích bổ sung của các biến số cạnh tranh trên tầm vĩ mô (tại một thời điểm) có thể phân biệt được những phát hiện chính, tuy nhiên vẫn nhấn mạnh vào tác động của bình đẳng giới trên cấp độ vĩ mô.12 Trong nghiên cứu của mình về công việc không được trả công này của nam giới, Hook (2006) khái niệm hoá bối cảnh quốc gia liên quan đến các công việc và chính sách của phụ nữ như là một cơ chế chính nhưng không xem xét sâu hơn về những giải thích cơ bản trên tầm vĩ mô.13

Khi xem xét các mô hình xuyên quốc gia về lao động nội trợ trong gia đình trên diện rộng (cả nỗ lực tương đối và tổng thể) thì người ta có thể tranh luận rằng mức độ kinh tế của một quốc gia có thể được xem xét ít nhất như là một động lực bổ sung trên tầm vĩ mô cho việc trao quyền cho phụ nữ Bánh lái chính của công cuộc hiện đại hoá chính là sự phát triển của nền kinh tế tiên tiến và các thể chế về chính trị, cái được cho là đã phân bổ nguồn lực và quyền lực một cách có lý trí thay cho sự phân bổ chỉ dựa trên cơ sở quy đổ (Jackson, 1998) Các thể chế hiện đại có thể không mấy quan tâm đến bình đẳng giới đến như vậy và do đó

nó có thể ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng giới trên nhiều khía cạnh Tuy nhiên sự phát triển

về kinh tế cũng hàm chứa theo nó là những công nghệ tiên tiến hơn, người ta có thể áp dụng những thiết bị gia đình sao cho có thể tiết kiệm thời gian nhiều hơn bên cạnh nền kinh

tế dịch vụ hiện đại Do vậy người ta hoàn toàn có thể tranh luận rằng một nền kinh tế phát triển sẽ có ảnh hưởng đến khối lượng công việc nhà của các cặp vợ chồng

Mặc dù theo truyền thống thì khó mà có thể gỡ rối được trật tự nguyên nhân của hiện tượng tương quan ở cấp độ cao như vậy nhưng một mô hình kết hợp cả việc trao quyền cho phụ

nữ và phát triển kinh tế giống như là những yếu tố giải thích ở cấp độ vĩ mô có thể được xem như là một hướng tiếp cận thực tế và mang lại kết quả nhiều hơn Mong đợi thăm dò về một phân tích mang tính chất phát hiện đó là bối cảnh quốc gia có thể ảnh hưởng đến công việc không được trả lương của cả hai giới trong những chiều hướng khác nhau Giả thiết trong bối cảnh ý nghĩa của vai trò giới truyền thống (phụ nữ gắn liền với phạm vi gia đình còn nam giới thì gắn liền với phạm vi kinh tế) trong xã hội công nghiệp hoá thì người ta có thể tranh luận rằng những nỗ lực của người vợ ở trong gia đình có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi sự trao quyền cho phụ nữ trên tầm vĩ mô trong khi những nỗ lực của người chồng thì lại được tạo điều kiện nhiều hơn trong mức độ phát triển của nền kinh tế quốc gia

Những mong đợi như vậy là tương thích với ý kiến của Baker về sự phân chia thời gian phù hợp cho nam giới và phụ nữ Những phân tích mở rộng vì thế mà có thể làm tăng hiểu biết của chúng ta về mối quan hệ giữa công việc nội trợ tổng thể và tương đối trong phạm vi

khuôn khổ xuyên quốc gia Mức độ phát triển kinh tế được đo bằng tổng sản lượng nội địa

của quốc gia trên đầu người Để có được tính so sánh cho chỉ tiêu bình đẳng giới trong phân tích đa cấp, tổng sản lượng nội địa đã được thay đổi tỷ lệ với mức từ 0 (thấp nhất) đến 1 (cao nhất) Điều này được tiến hành trên cả 34 quốc gia từ năm 1999 đến năm 2004, và lại

sử dụng báo cáo phát triển con người của chương trình phát triển liên hiệp quốc Do vậy, mức độ cuối cùng là mức trung bình cho khoảng thời gian tương đối là 2 năm.14

Phân tích theo lối kinh nghiệm

Cột 1 ở bảng 2 chỉ ra rằng tính trung bình thì Phần Lan và Thuỵ Điển là hai quốc gia có chỉ

số phân chia công việc nhà (dựa trên trách nhiệm) theo chủ nghĩa quân bình nhiều nhất (3,62 và 3,63) và Nhật Bản có chỉ số ít nhất (4,35) Điểm số ở mức 3 điểm chỉ ra mức độ phân chia công việc đồng đều, như vậy có thể thấy là thậm chí ở các quốc gia có chủ nghĩa

Ngày đăng: 19/03/2014, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số liệu mô tả ở cấp độ cá nhân - Báo cáo "Bối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia" doc
Bảng 1 Số liệu mô tả ở cấp độ cá nhân (Trang 8)
Bảng 2: Số liệu thống kê mô tả ở cấp độ quốc gia - Báo cáo "Bối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia" doc
Bảng 2 Số liệu thống kê mô tả ở cấp độ quốc gia (Trang 10)
Hình 1 phác hoạ thời gian dành cho công việc nội trợ đối với phụ nữ theo cấp độ tiêu chí  bình đẳng giới qua từng quốc gia - Báo cáo "Bối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia" doc
Hình 1 phác hoạ thời gian dành cho công việc nội trợ đối với phụ nữ theo cấp độ tiêu chí bình đẳng giới qua từng quốc gia (Trang 13)
Bảng 4: HLM mở rộng với sự trao quyền giới và sự phát triển kinh tế là các biến số ở tầm vĩ - Báo cáo "Bối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia" doc
Bảng 4 HLM mở rộng với sự trao quyền giới và sự phát triển kinh tế là các biến số ở tầm vĩ (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w