Xem xét phản chứng có thể từ một Boas theo thuyết chính thể luận nghiên cứu của ông về phong cách, ý nghĩa, “tinh thần của một dân tộc”, văn bản, những giải thích thứ cấp, và tâm lý, tôi
Trang 1Franz Boas: Lịch sử văn hóa cho hiện tại, hay lịch sử tự nhiên đã lỗi thời?
Nguyên bản: Michel Verdon 2007 “Franz Boas: cultural history for the present, or obsolete
natural history?”, Journal of Royal Anthropological Institute, 13:2, pp.433-451
Tác giả: MICHEL VERDON, Université de Montréal Liên hệ: Dép d'anthropologie, Université
de Montréal, C.P 6128, Succursale Centre-ville, Montréal, Québec, Canada H3C 3J7
tự nhiên, điều này có nghĩa là nghiên cứu hiện tượng văn hóa xã hội thông qua những biểu hiện bên ngoài, và làm mất đi tính lịch sử, thậm chí cả những nền văn hóa đơn lẻ, từ nghiên cứu dân tộc học của Boas Xem xét phản chứng có thể từ một Boas theo thuyết chính thể luận (nghiên cứu của ông về phong cách, ý nghĩa, “tinh thần của một dân tộc”, văn bản, những giải thích thứ cấp, và tâm lý), tôi vẫn tìm thấy nhà lịch sử tự nhiên đó, và vẫn là người chi tiết Tất cả những khía cạnh này trong thực hành của ông hiện ra như những biểu hiện bề mặt
của tri thức (épistéme) cơ sở này, cung cấp một khung diễn giải duy nhất khiến người ta có
thể hợp nhất phần lớn những nghiên cứu dân tộc học của ông Nhìn chung, thế giới quan này
để lại rất ít, hoặc là không để lại khoảng trống nào cho các cá nhân và chủ thể của họ
Trong những năm gần đây, Boas tái xuất hiện như một nguồn cảm hứng cho rất nhiều các nhà nhân học.1 Trong quá trình đó, một số nhà nhân học coi ông như một nhà nhân học với cảm nhận sâu sắc về lịch sử (Bunzl 2004; Lewis 2001; Orta 2004), về cá nhân (Lewis
2001; Orta 2004) và về chủ thể (agency) (Lewis 2001), thậm chí còn dự đoán một số khía
cạnh của hậu hiện đại (Lewis 2001).2 Liệu đây có phải là cách hiểu đáng tin cậy về Boas, hay đây là một sáng kiến mới để phù hợp với hoàn cảnh mới? Tôi có xu hướng nghiêng về quan
Trang 2Thoáng qua, có vẻ như rất dễ dàng để tìm ra một Boas-nhà sử học, nhưng sẽ khó hơn
để tìm ra một Boas với những cảm nhận sâu sắc về cá nhân và chủ thể Cách diễn giải như thế này về Boas gây khó hiểu nếu như người ta bỏ qua không nhắc đến, và các tác giả thực sự đã
bỏ qua, rằng cách diễn giải đó chủ yếu bắt nguồn từ những cuốn sách của ông dành cho công
chúng rộng rãi (The mind of primitive man [Tư duy của người nguyên thủy] và Anthropology and Modern Life [Nhân học và đời sống hiện đại]), cũng như những tuyên bố trừu tượng
hơn, và thậm chí mang tính khái quát của ông Rất thú vị, nếu chú trọng hơn vào thực hành dân tộc học của Boas và đồng thời lưu ý đến một số những tuyên bố lý thuyết của ông, người
ta sẽ có được một quan điểm hoàn toàn khác
Ở phần đầu bài viết này, tôi sẽ chỉ ra rằng chỉ trích của Boas về thuyết tiến hóa, có lẽ
hơn bất cứ yếu tố nào khác, đã dẫn tới quan điểm theo thuyết cơ bản luận (elementaristic) (Stocking 1982b[1968]: 207) hay theo thuyết nguyên tử (atomistic) của ông về văn hóa (theo
cách dùng của tôi, từ “thuyết nguyên tử” có ý nghĩa trái ngược với từ “chính thể luận”) Dựa vào diễn giải của Foucault và Jacob về lịch sử tự nhiên thế kỷ XVIII như một ứng dụng trong việc phân loại các hiện tượng trên cơ sở đặc tính bên ngoài của chúng (Foucault 1966; Jacob 1970), tôi lập luận rằng quan điểm theo nguyên tử luận của Boas về văn hóa hoàn toàn khớp với quan điểm lịch sử tự nhiên trong thực hành dân tộc học của ông; cả nguyên tử luận và quan điểm lịch sử tự nhiên đều hiểu về hiện tượng văn hóa xã hội thông qua những biểu hiện bên ngoài của chúng
Phần đầu của bài báo chỉ hoàn toàn bàn luận về một Boas theo thuyết nguyên tử, trong khi phần thứ hai của bài báo xem xét một Boas theo thuyết chính thể luận, một Boas
“vượt qua bề ngoài” bằng cách nhận biết vai trò của “tinh thần của một dân tộc” (‘genius of a people') trong việc hình thành văn hóa; một Boas quan tâm đến phong cách, nghệ thuật và ý
nghĩa, quan tâm đến văn bản như một cánh cổng đi vào thế giới tư tưởng của những người bản địa và tạo ra một ngành nhân học tâm lý Chúng tôi cho rằng Boas này thoát ra khỏi lịch
sử tự nhiên
Ở điểm này, diễn giải của Foucault-Jacob về lịch sử tự nhiên chỉ ra tiềm năng tìm tòi của nó Tôi đã xem xét mọi khía cạnh trong những khía cạnh chính thể luận này, và trong mỗi trường hợp, tôi đều thấy Boas ứng xử giống như một nhà sử học tự nhiên theo phái Linnaean đang xem xét những sản phẩm văn hóa được thể hiện cụ thể Thông qua sự chứng minh này, một số giải thích lại có thể là độc đáo (đó có thể là những giải thích liên quan đến ý nghĩa,
hay mang tính tinh thần dân tộcơ [Volksgeist] những giải thích lại khác chỉ đơn giản tóm tắt
những quan điểm đã được nhiều người biết (ví dụ như phần viết về văn bản) Tuy nhiên, từ quan điểm của tôi, dù mới hay không, những giải thích này chỉ đơn thuần mang tính “chú ý đến tiểu tiết” (punctual) nếu không được hiểu trong sự sáng tạo cơ bản của bài viết: lối kiến trúc bao quát toàn bộ của bài viết
Trang 3Thực sự, vượt ra ngoài những suy xét lại mang tính cá nhân, diễn giải mang tính lịch
sử tự nhiên này giúp người ta có thể khớp nối những chiều hướng tách rời trong nhân học của Boas cho đến nay, và hòa nhập thực hành dân tộc học của ông thành một khuôn khổ diễn giải duy nhất Tóm lại, phần lớn những mặt đa dạng trong nghiên cứu dân tộc học của ông giờ đây
hiện ra như những biểu hiện bề mặt của tri thức [épistémè ] cơ sở và mang tính tổ chức này
Những kết luận rõ ràng tiếp theo là: ở cấp độ thực hành dân tộc học, tôi không tìm được bất
cứ thuyết chính thể luận nào, và tôi lập luận rằng nguyên tử luận-và-lịch sử tự nhiên của Boas
đã tách ông khỏi cảm nhận trung thực về lịch sử, về cá nhân và chủ thể
Cuộc chiến chống lại thuyết tiến hóa và một số hệ quả của cuộc chiến
Xem nhẹ phát minh, thuyết nguyên tử bắt nguồn từ đó
Ngay từ năm 1886, Boas đã bắt đầu công việc nghiên cứu ở vùng bờ biển Tây Bắc Thái Bình Dương và tìm cách để tái tạo lại lịch sử các nền văn hóa của khu vực này
(1974b[1888]) Với chuyên môn ban đầu là Vật lý, rồi tiếp tục học về Địa lý, ông sử dụng
những kỹ thuật của phương pháp Địa lý-Lịch sử Đức trong công việc ở khu vực bờ biển Tây Bắc Cụ thể, ông tái dựng lịch sử các nền văn hóa không có chữ viết hay tài liệu khảo cổ học
từ sự phân bố địa lý của các đặc điểm văn hóa, lần theo “sự lan truyền lịch sử và giao tiếp
lịch sử thông qua những nghiên cứu về phân bố địa lý” (1974g[1906]: 187; cũng xem Bunzl
1996: 53; Kluckhohn & Prufer 1959)
Các nhà sử học nhấn mạnh ảnh hưởng của địa lý lịch sử, cùng với việc Boas tham gia
vào ngành bảo tàng (museography) và “nhân học về nguyên thủy ” (“salvage anthropology”)
để giải thích về đặc điểm chủ yếu trong thực hành dân tộc học của ông Cụ thể, đó là những nghiên cứu về sự phân bố dựa trên quan điểm rời rạc, hay bị tách nhỏ về văn hóa, quan điểm nổi bật trong thực hành dân tộc học của ông mãi tới tận cuối những năm 1910, theo Benedict (1943: 28-9), nếu như không nói rằng đó là quan điểm hoàn toàn thống trị (Darnell 1997: 47; Voget 1975: 318; White 1963: 61)
Dù vậy, những giải thích kinh điển về thuyết nguyên tử luận của Boas vẫn để lại những câu hỏi bỏ ngỏ Ví dụ, mối quan tâm sớm và và mãnh liệt của Boas đối với thần thoại
và văn hóa dân gian (rõ ràng đã có từ năm 1886), có vẻ mâu thuẫn với thuyết nguyên tử luận mạnh mẽ này Một mặt, những nhà địa lý-lịch sử Đức tái dựng lịch sử thông qua sự phân bố địa lý thường bỏ qua thần thoại và văn hóa dân gian; mặt khác, các nhà nhân học Đức nghiêm
túc quan tâm đến thần thoại và văn hóa dân gian, cụ thể là “các nhà tâm lý học dân gian” (Völkerpsychologe), những người cũng ảnh hưởng đến Boas, lại không thực sự quan tâm đến
những tái dựng lịch sử Theo quan điểm của tôi, việc Boas chọn thần thoại ngay khi ông mới
bắt đầu nghiên vùng bờ biển Tây Bắc, cũng như những khái quát hóa ban đầu của ông về bản chất của thần thoại, bóng gió tới một công việc phải làm rất riêng biệt Từ năm 1886 cho
tới cuối đời mình, đó có vẻ là sự chống đối ngày càng rõ ràng của ông đối với phương pháp
và luận điểm của thuyết tiến hóa (Voget 1975: 323) và, vượt khỏi những điều trên, ông còn chống lại sự phân biệt chủng tộc hàm ý trong phương pháp và luận điểm đó Do đó, tôi lập luận rằng việc Boas lựa chọn thần thoại làm điểm khởi đầu xuất phát từ cảm hứng về mặt phương pháp luận và mang tính luận chiến
Trang 4Trên thực tế, Tylor và những người theo thuyết tiến hóa khác đã tuyên bố rằng khó lòng có thể giải thích những hiện tượng văn hóa xã hội phức tạp, ví dụ như thần thoại và truyện dân gian là những phát minh độc lập nếu chúng được tìm thấy ở những khu vực khác nhau Boas bày tỏ sự đồng tình bằng việc viết về thần thoại ở những khu vực dân cư lân cận:
“Có vẻ khó tin là cùng một sản phẩm phức tạp đó lại có hai nguồn gốc trong một khu vực hạn
hẹp” (1974e[1899]: 97; cũng xem Harris 1968: 260; Voget 1975: 324, 331) Ông nhận xét
rằng, nếu như vậy, chúng hẳn phải là kết quả của sự lưu truyền từ vùng nọ đến vùng kia
Có vẻ như Boas cho rằng, phần lớn những người theo thuyết tiến hóa giải thích về các điểm tương đồng giữa “các hiện tượng dân tộc học”3 từ góc độ những phát minh độc lập4 Và
hệ quả là, sự nổi bật mà ông gán cho sự truyền bá trở nên quan trọng trong việc ông phản đối những lý thuyết tiến hóa, và do đó, thần thoại và văn hóa dân gian cung cấp lý lẽ lý tưởng chống lại luận điểm tiến hóa của những sáng tạo độc lập Nó cũng củng cố mạnh mẽ thuyết
nguyên tử của ông, hay “quan điểm rời rạc của ông về văn hóa” (Stocking 1982b[1968]:
213)
Boas tiếp tục khái quát hóa bản chất của thần thoại Thậm chí ở những dân tộc sống cận kề, cơ bản cùng chia sẻ những tri thức chủ yếu, ông cũng quan sát thấy rằng thần thoại của họ có những dị bản khác nhau, bị mất đi và được bổ sung thêm các yếu tố trong quá trình
“dịch chuyển”; khi đó, ông đưa ra kết luận rằng, mặc dù phức tạp, thần thoại cho thấy đó không phải là hiện tượng tổng thể có hệ thống chặt chẽ: “Thần thoại của các bộ tộc khác nhau như chúng ta giờ đây tìm thấy chúng không phải là những sự hình thành có hệ thống chặt chẽ,
mà chúng đã dần dần phát triển và thu được hình thức hiện thời qua việc tiếp nhận và phát
triển các yếu tố ngoại lai” (1974e[1899]: 96), một kết luận ông rút ra vào khoảng năm 1891 (1940b[1891]) Tại sao ông lại kết luận sớm như thế rằng thần thoại không phải được hình
thành một cách có hệ thống chặt chẽ? Có thể đoán chừng do “những sự hình thành có hệ thống chặt chẽ” sẽ phải xuất hiện ở địa phương thông qua sự sáng tạo; tuy nhiên, như những
“hiện tượng được bồi dần” (accreted phenomena), chúng hẳn đã phát triển thông qua sự lưu truyền
Những kết luận này về thần thoại dẫn Boas tới chỗ phát triển một trong những kỹ thuật mạnh nhất của ông trong việc phê phán thuyết tiến hóa Điều ông đã đạt được một cách thuyết phục đến thế với thần thoại, ông lại liên tục thành công với những hiện tượng phức tạp tương tự, ví dụ như nghi lễ, nghệ thuật, sản phẩm văn học, tín ngưỡng tôtem giáo và những hiện tượng khác nữa Trong mỗi trường hợp, ông đều chỉ ra rằng người ta có thể tách các hiện tượng phức tạp nhất thành các yếu tố mà phân bố địa lý của những yếu tố này không bị trùng nhau Từ việc không có phạm vi ảnh hưởng này, hay từ việc “phân tách” những vùng phân bố của các đặc tính đa dạng, ông suy luận rằng chúng không thể được hợp nhất thành một hệ thống chặt chẽ, và vậy, chúng đã được bồi đắp dần Tôi gọi đây là phương pháp “phân tách”; phương pháp này đã dẫn dắt thành công tới chỗ giảm vị thế của sự phát minh và nâng cao vị thế của sự truyền bá Spier (1931) đã rất tài tình minh họa phương pháp này khi áp dụng nó
vào thần thoại, và một bài viết của Boas (1940d[1903]) về nghệ thuật cũng minh họa điều này
rất rõ
Phương pháp phân tích của Boas
Trang 5Trong cuốn sách “The Decorative Art of the North American Indians” [Nghệ thuật trang trí của người Da đỏ Bắc Mỹ] (1940d [1903]), Boas đã sử dụng hết sức hiệu quả kỹ
thuật phân tách này Những tác giả trước (những người theo thuyết tiến hóa) cho rằng nghệ thuật sơ khai tiến hóa từ những thể hiện mang tính hiện thực hướng tới những hình thức hình học đã được quy ước hóa; do đó, những thể hiện mang tính hiện thực, sẽ còn lại như những giải thích (hoặc ý nghĩa) cuối cùng của các cách trang trí hình học Những người khác tin rằng kỹ thuật và vật liệu tác động đến sự tiến hóa của cách trang trí Nhìn chung, những nhà văn trước kia về nghệ thuật sơ khai có xu hướng liên kết các hiện tượng nghệ thuật trong một chiều hướng nhân quả nào đó, tiếp tục giả định rằng sự tiến hóa này phải xảy ra một cách độc lập ở những bộ tộc khác nhau, thông qua những phát minh độc lập Boas không bị thuyết phục bởi điều bố này
Trước tiên, ông tách rời “phong cách trang trí được sử dụng trong những hiện vật nghi
lễ và phong cách trang trí được sử dụng trong những vật dụng hàng ngày” (1940d [1903]:
547) Phong cách đầu “thực tế hơn nhiều so với phong cách của những vật dụng hàng ngày”,
vậy nên “lý do quy ước hóa động cơ không thể chỉ là lý do kỹ thuật” (1940d [1903]: 547)
Điều này cũng khơi dậy những nghi ngờ nghiêm trọng về sự tiến hóa từ những hình thức mang tính hiện thực đến những hình thức hình học mà người ta đưa ra: “Nếu phong cách nghệ thuật hoàn toàn mang tính bản địa trong một bộ tộc cụ thể, và được phát triển hoặc từ việc quy ước những cách trang trí mang tính hiện thực hay từ việc xem xét kỹ lưỡng những động cơ kỹ thuật, chúng ta phải nghĩ rằng sẽ tìm thấy một phong cách khác biệt và những
động cơ khác biệt ở mỗi bộ tộc” (1940d [1903]: 553-4) Nói cách khác, nếu những khía cạnh
đa dạng của nghệ thuật – kỹ thuật, cách trang trí và ý nghĩa – được gắn lại với nhau, chúng ta hẳn phải tìm thấy những biến thể văn hóa có tính hệ thống, cho thấy những sự sáng tạo tách biệt Nhưng thực tế là chúng ta không tìm thấy
Sử dụng nghệ thuật của một số những người Da đỏ Bắc Mỹ, Boas chứng minh trường hợp của mình thông qua việc nghiên cứu cách trang trí Ông tập trung vào cách trang trí giày
moccasin [một loại giày của người Da đỏ] “phức tạp đến mức chắc chắn cách trang trí đó chỉ
có thể xuất phát từ một nơi” (1940d [1903]: 555) Dù vậy, khi nghiên cứu những diễn giải
của người Da đỏ về cách trang trí của họ, ông khám phá ra những lối giải thích khác nhau rất đáng kể, và đưa ra câu hỏi: nếu như những cách trang trí phức tạp không thể được tạo ra một cách độc lập, vậy những cách trang trí đơn giản hơn có thể được tạo ra một cách độc lập hay không? Ở đây, “những cách trang trí đơn giản hơn” nói đến “những yếu tố cấu thành” của
những cách trang trí phức tạp hơn (1940d[1903]: 556); Boas tổng kết những giải thích của
người “bản địa” về chúng và lại thấy không có sự gắn kết đó giữa cách trang trí và ý nghĩa
Sau khi đã tìm thấy “phong cách diễn giải” ở một số bộ tộc, Boas tiếp tục chỉ ra rằng
sự phân bố của những phong cách diễn giải không trùng lặp với bất kỳ phong cách nghệ thuật nào, và cuối cùng, ông chứng minh rằng “sự phân bố kỹ thuật không thống nhất với sự phân
bố các động cơ” (1940d[1903]: 560) Thực tế rằng các hợp phần/yếu tố nghệ thuật – kỹ thuật,
cách trang trí, sự diễn giải, và phong cách diễn giải – tất cả đều được tách ra, đưa ông đến chỗ tuyên bố lại một cách chắc chắn hơn hai luận điểm nền tảng của ông Luận điểm thứ nhất, một hiện tượng phức tạp như nghệ thuật của một bộ tộc không phải là một sự hình thành hữu
cơ mà là một hiện tượng được bồi đắp dần, kết quả của sự truyền bá các kỹ thuật, phong cách
Trang 6và sự diễn giải Luận điểm thứ hai, vì gắn với một phong cách cụ thể không có một sự diễn giải cụ thể nào, từ đó suy ra rằng những sự diễn giải “chắc hẳn phát triển sau khi người ta đã phát minh ra cách trang trí hay đưa cách trang trí đó vào; rằng cách trang trí đứng ở hàng thứ nhất, ý tưởng đứng ở hàng thứ hai, và ý tưởng không liên quan gì đến quá trình phát triển lịch
sử của chính cách trang trí” (1940d[1903]: 555); đây là một biến thể của lý thuyết của Boas
về việc lý giải thứ cấp (secondary explanation) điều mà ông lặp lại và khái quát hóa trong
đoạn cuối cùng (1940d[1903]: 563; đọc thêm về giải thích lại ở bên dưới) Do đó, trong một
phân tích duy nhất về sự tách biệt, Boas đã thành công trong việc làm tan vỡ những trật tự tiến hóa bắt rễ từ những kết nối sai lầm, chứng minh rằng những hiện tượng phức tạp như nghệ thuật có thể được bồi đắp dần
Các mối nguy văn hóa và cảm hứng từ lịch sử tự nhiên
Do có sự tách biệt (dissociation) chỉ ra sự rời rạc (fragmentation), thuyết nguyên tử
của Boas được củng cố Và đến lượt mình, thuyết nguyên tử lại tạo nên cái mà Orta (2004) gọi là tầm nhìn “entrôpi” (“entropic” vision) về văn hóa – văn hóa được hiểu như sự tập hợp
ngẫu nhiên các yếu tố văn hóa Nếu các yếu tố dịch chuyển, và sự phân bố địa lý của chúng
hiếm khi trùng hợp, khi đó chúng sẽ bị tách rời, mang tính tự trị cao, dịch chuyển theo những chiều hướng không dự đoán được, tập hợp lại với những đặc tính khác đến từ những chân trời văn hóa khác trong một bộ tộc cụ thể; sự kết hợp của chúng không mang tính hệ thống và tạo
nên những mối nguy [hazard] văn hóa (về mặt lý thuyết được hợp nhất lại bởi tinh thần của
một dân tộc, như chúng ta sẽ thấy) Viết về những yếu tố chủ yếu trong phương pháp của Boas và sử dụng nghiên cứu của Boas về thần thoại Tsimshia (1916) làm ví dụ, Leslie Spier phản ánh về vai trò mà lý thuyết của Boas về việc giải thích lại trong nhân học của Boas, và ông đã sáng suốt đưa ra kết luận:5
Nguyên tắc về những diễn giải lại là một hàm ý có ảnh hưởng sâu rộng Qua đó,
người ta có thể hiểu tại sao phần lớn các nhà nhân học lại nhìn nhận mỗi nền văn hóa như một khối những đặc điểm không tách biệt, kết nối với nhau qua một loạt những ngẫu nhiên lịch sử, những yếu tố không kết nối với nhau về mặt chức năng, nhưng
được tin là kết nối với nhau thông qua những chủ nhân của nền văn hóa đó do cách họ diễn giải về các đặc tính (Spier 1931: 455, nhấn mạnh bằng in nghiêng của tác giả) Đây là một phần của phương trình Thuyết nguyên tử này cũng còn liên quan chặt chẽ với quan điểm lịch sử tự nhiên của thế giới văn hóa Nhiều nhà bình luận, mạnh mẽ nhất là Lesser và Kroeber, đã nhấn mạnh mối quan tâm vĩnh cửu của Boas đối với lịch sử tự nhiên,
và cách nó tác động đến nhân học của ông (Boas 1940a[1887]; Harris 1968: 286-7; Kroeber
1959; Lesser 1981; cũng xem Kluckhohn & Prufer 1959: 39; Smith 1959; Stocking 1992: 123; Voget 1975: 323, 328) Tôi đưa ra tuyên bố về một điều cơ bản hơn nhiều Lịch sử tự nhiên mà tôi nói đến không chỉ đơn giản là cái còn lại từ những năm thiếu thời và những năm học đại học của Boas, một thiên hướng đơn giản đối với những góp nhặt và “toàn bộ lịch sử của một sự kiện duy nhất”, điều sẽ tô điểm thêm cho nhân học của ông Tôi nhìn nhận lịch sử
tự nhiên đó không phải như một tác động lịch sử trực tiếp, mà như một sự hội tụ: tôi thừa nhận rằng Boas hiểu thế giới văn hóa theo cách mà những nhà sử học tự nhiên thế kỷ XVIII
theo kiểu Linnaean hiểu về thế giới tự nhiên Tôi đồng tình rằng đó là tri thức [épistémè] nền
Trang 7tảng, cơ bản và lan tràn khắp của Boas, một tri thức hợp với quan điểm nguyên tử luận của
ông về văn hóa; trên thực tế, tôi nhìn nhận chúng như hai mặt của một đồng tiền
Foucault và Jacob tạo nên nguồn cảm hứng cho sự kết nối giữa nguyên tử luận và lịch
sử tự nhiên, với những diễn giải hào hứng của họ về lịch sử tự nhiên thế kỷ XVIII (Foucault 1966; Jacob 1970); đối với cả hai, sinh học chỉ nổi lên vào thế kỷ XIX với khái niệm tổ chức,
ngụ ý việc các cơ quan bên trong của động vật có mối liên hệ theo cách nhân quả Họ so sánh sinh học, với khái niệm then chốt của nó về sự tổ chức (“sự tương quan của Cuvier về
các phần” [bên trong]) với lịch sử tự nhiên của thế kỷ trước Theo họ, lịch sử tự nhiên này hoàn toàn thiếu bất cứ khái niệm nào về đời sống và tổ chức, hai khái niệm gắn liền với nhau
về mặt nhận thức luận; các nhà sử học tự nhiên của thế kỷ XVIII chỉ nhận thức về cơ thể sống
tập hợp thành loài được phân chia trên cơ sở đặc tính bên ngoài của chúng, hay cấu trúc có
thể nhìn thấy (ở đây “cấu trúc” không hàm ý sự tổ chức mà chỉ đơn giản là số lượng, hình
dạng, và sự sắp xếp tương đối những phần có thể nhìn thấy; Foucault 1966: 147; cũng xem
Foucault 1966: 144, 149, 156; Jacob 1970: 37, 42, 54 ff.)
Những sự hội tụ là rất đáng kinh ngạc Bất kể một số tuyên bố lý thuyết trái ngược, thuyết nguyên tử của Boas và nghiên cứu về phân bố hàm ý rằng người ta cần so sánh những
thể hiện bên ngoài của hiện tượng văn hóa-xã hội để chỉ ra những điểm tương đồng hay khác
biệt Hơn thế nữa, lịch sử tự nhiên kiểu Linnaean thiếu bất cứ khái niệm nào về sự tổ chức;
tương tự như vậy, một quan điểm entrôpi về văn hóa báo hiệu điều trái ngược của tổ chức, sự
hợp nhất, hay hệ thống; một thực thể có tổ chức, hay có hệ thống là một thực thể mà các phần của nó liên quan đến nhau, một thực thể mang tính phụ thuộc qua lại về mặt chức năng, một điều gì đó ngoại lai đối với nhân học tách rời của Boas, như Spier nhận xét Ở mức độ đó,
thuyết nguyên tử luận của Boas và lịch sử tự nhiên của thế kỷ XVIII là một phần của tri thức
đó Do đó, tôi sẽ lập luận rằng đặc điểm chính, nếu như không phải toàn bộ đặc điểm của thực hành nhân học của Boas, dù chúng mang tính nguyên tử luận hay được coi là mang tính
chính thể luận, ở mức độ đáng kể, bắt nguồn từ sự hội tụ trí thức (epistemic convergence)
này.6
Lịch sử tự nhiên của văn hóa và những hệ quả của nó
Sự thiếu hụt tính lịch sử của văn hóa
Người ta có thể đề cập đến cách hiểu của Boas về lịch sử thông qua bản tóm tắt một
trong những bài báo của ông, cụ thể là “The Mythology of the Bella Coola Indians” [Thần thoại của những người Da đỏ Bella Coola] (1974d[1898]) Trong bài viết này, ông cố gắng
giải thích nét đặc trưng trong thần thoại của người Bella Coola (chủ yếu là bản sắc địa phương mạnh mẽ và bản chất hệ thống của chúng) Ông sơ bộ vạch ra một số những đặc tính
đa dạng bên ngoài của những thần thoại này (sự nội giao trong làng, kiểu định cư, tầm quan trọng của hình dấu riêng, và vân vân), so sánh với những đặc tính của các vùng lân cận phía Nam và phía Bắc, cụ thể là những người Coast Salish và Bella Bella (Bella Bella là người Kwakiutl) Ông giả định rằng người Coast Salish có một “hình thức tổ chức xã hội đơn giản hơn” so với người Bella Bella bởi vì họ không có được những khu làng có các thị tộc đan chéo nhau Sau khi xem xét sự phân bố các đặc tính, ông suy luận rằng người Bella Coola có
Trang 8nguồn gốc từ người Coast Salish, và họ di cư về phía Bắc đến dòng sông Bella Coola Tiếp
đó, ông nhận xét rằng người Bella Coola cũng có chung một loạt các đặc điểm với những người hàng xóm Bella Bella ở phía bắc, nhưng ông không bàn luận về những nguồn gốc đa dạng có thể của những đặc tính này Ví dụ, ông không đặt ra khả năng rằng những đặc tính
đó, hay ít nhất một số trong số những đặc tính đó, chắc hẳn có nguồn gốc từ những người Bella Coola và sau đó được những người Bella Bella vay mượn; ông thực sự giả định rằng sự truyền bá chỉ xảy ra từ một hướng, từ những người Bella Bella tới những người Bella Coola Tại sao lại như vậy? Chỉ có thể phỏng đoán, nhưng bằng chứng hiện có cho thấy, chắc chắn ông đã đưa ra kết luận này từ thực tế rằng ông nghĩ người Bella Bella có một tổ chức xã hội phức tạp hơn
Thực tế, những cơ chế mà Boas viện dẫn để giải thích về sự truyền bá đem đến sự diễn giải như sau: ông giải thích về sự truyền bá từ những người Bella Bella đến người Bella
Coola qua thực tế rằng người Bella Coola cảm thấy một sự thấp kém hơn khi đối mặt với
người Bella Bella bởi vì họ không có hình dấu gia đình riêng Mong muốn bắt chước những người láng giềng phương Bắc, người Bella Coola tìm cách có được những hình dấu hiệu đó
đó bằng cách cưới những người đàn bà Bella Bella (ông không nhắc đến những người phụ nữ Bella Coola lấy chồng người Bella Bella) Bên cạnh hôn nhân khác chủng tộc, đối với Boas, những điểm tương đồng trong các nền văn hóa, và thậm chí cả cái mà ông gọi là “lối phân bố song song” (“parallelism of distribution” - sự phân bố hai hoặc ba đặc tính đôi lúc trùng nhau), gây ra những mối liên hệ tâm lý, và ông giải thích về điều này chủ yếu ở góc độ sự bắt chước
Trong chừng mực cảm nhận của tôi, lập luận này đại diện cho những tái dựng lịch sử
đa dạng của Boas, mà mọi tái dựng đó đều dựa trên nghiên cứu về sự phân bố (xem thêm White 1963) Ông lập sơ đồ những hiện tượng đa dạng, và những mối liên hệ lịch sử mà ông suy luận ra giữa các yếu tố văn hóa ở những nền văn hóa láng giềng thường chỉ ra sự truyền
bá Do sự truyền bá không có những giải thích cặn kẽ tại sao mọi người vay mượn, trừ lý do bắt chước, người ta có thể lập luận rằng “lịch sử” của chương trình “lịch sử văn hóa” của Boas ít nhiều đồng nghĩa với “di chuyển trong không gian” Vì di chuyển trong không gian cần có thời gian, nó thể hiện thành lịch sử.7 Tuy nhiên, điều trái ngược là việc không gian hóa thời gian này có vẻ như loại ra ý nghĩa thực của lịch sử.8
Đây là điều đáng ngạc nhiên ở một nhà nhân học rõ ràng và dứt khoát tuyên bố chủ
nghĩa lịch sử (historicism) của mình suốt từ đầu đến cuối sự nghiệp (1940c[1896]: 276; xem thêm 1940l[1932]: 250; 1940m[1936]: 305), và là người được sinh viên của mình cũng như
phần lớn các nhà bình luận hoan nghênh là theo chủ nghĩa lịch sử một cách cơ bản Nhưng, như Spier nhận xét,
Cần phải nói rõ rằng khi nói “mang tính lịch sử” Boas chỉ định nói rằng mỗi đặc tính văn hóa và hình thái cần phải có một hình thức trước đó riêng biệt Điều này không kéo theo nhu cầu phải đưa ra một hình ảnh đúng với thời gian có ảnh hưởng sâu rộng Nó đủ để đáp ứng mục đích của ông là nhìn thẳng vào bức tranh “trước và sau”
ở một địa điểm và thời gian nhất định (1959: 147; xem thêm Voget 1975: 328)
Bản thân Boas cũng viết rằng, “người ta sẽ thấy rằng nhân học khác với lịch sử, và giống với những ngành khoa học tự nhiên trong nỗ lực của nó để bất chấp những giá trị chủ
Trang 9quan của những điều đã xảy ra trong lịch sử; rằng nó cố gắng xem xét những điều đó một cách khách quan, đơn giản như một chuỗi các sự kiện, bất kể tác động của chúng lên tiến
trình văn minh hóa” (1974h[1907]: 270)
Điều này có phải là lịch sử không? Nếu dựa vào tuyên bố của Boas thì điều đó khó lòng là lịch sử, nhưng chúng ta cần phải thừa nhận rằng Boas đã tái dựng lại lịch sử của các
xã hội không có tài liệu viết, trước khi người ta tìm ra bằng chứng khảo cổ Tuy nhiên, cả các nhà địa lý lịch sử Đức làm việc khi không có tư liệu viết tay, và người ảnh hưởng đến Boas nhiều nhất – đặc biệt là Ritter và Fischer, theo Kluckhohn và Prufer (1959: 13-19) – cũng nghiên cứu con người thông qua những câu hỏi về “sự di cư, …chiếm đóng, thuộc địa hóa, giao thông, vận chuyển” (Ritter, trong Kluckhohn & Prufer 1959: 14), và về những mối quan
hệ nhân quả đa dạng (nghiên cứu của Fischer về cây chà là trong Kluckhohn & Prufer 1959: 18) Boas thì không làm như vậy
Nếu chúng ta bỏ qua Ritter và Fischer, liệu nhiều những tái dựng lịch sử của Boas có thể được coi là “lịch sử”? Tôi tin rằng chúng chỉ mang tính lịch sử một cách hời hợt Bất kể cách hiểu về lịch sử của tác giả có thể riêng biệt như thế nào, bất kể tác giả có thể mong muốn mình “khách quan” đến thế nào, liệu chúng ta có thể gọi các công trình là “mang tính lịch sử” nếu như không có những tác nhân lịch sử, quá trình lịch sử, và thậm chí những trình
tự nhân quả tối thiểu? Cuối cùng thì, đây thực sự là một dạng lịch sử mà Boas viết, đó là “sự kiện” lịch sử chủ yếu làm tương đồng với sự vay mượn mà không có tính chiến lược, đề cập đến yếu tố cá nhân con người, mà những “nguyên nhân” của chúng mang tính tâm lý (ngoại trừ những cuộc hôn nhân ngoài dòng tộc) và chủ yếu bao gồm thiên hướng tâm lý đối với việc bắt chước (lấy từ tâm lý tập thể của de Tarde) Thậm chí vào thời điểm Boas viết, và thậm chí khi người ta không có bất cứ hình thức tư liệu văn bản hay tư liệu khảo cổ nào, vẫn khó chấp nhận rằng không có lựa chọn nào, ngoài theo thuyết tiến hóa đối với lịch sử của Boas Và sau đó không thể ước đoán được những quá trình lịch sử đáng thuyết phục hơn, một
số tập hợp tối thiểu những trình tự nhân quả và những động cơ cá nhân đa dạng ngoài sự bắt chước Vì nhiều lý do khác nhau, ông chắc hẳn không muốn làm như vậy, nhưng đó không phải là một mục đích không thể đạt được
Là một người trung thành với thuyết của Boas, Spier nắm rất rõ về thực hành của
Boas Ông nhận thấy rằng “lịch sử” của Boas phải đối đầu với sự phân loại “trước và sau”
đối với những thực tế khách quan có thể định lượng, phải rút ra những suy luận về mối liên quan từ những phân bố không thay đổi trong không gian Nói cách khác, thậm chí đối với Spier và những người đương thời khác, thuyết lịch sử của Boas thiếu bất cứ chiều sâu thực sự nào (xem Kroeber 1946: 8; 1952 [1936]; Radin 1933: 17)
Thực tại mong manh của các nền văn hóa
Theo lý thuyết, các yếu tố văn hóa tập hợp lại trong một “địa điểm xã hội” cụ thể (trong một bộ tộc hay một “dân tộc”) cho thấy một nền văn hóa đơn lẻ; Boas nhận thấy sự tồn tại của chúng và ông thực sự viết về những nền văn hóa đơn lẻ Tuy nhiên, ông không quan tâm đến việc đơn giản thống kê những yếu tố văn hóa của một bộ tộc mà quan tâm đến việc tái dựng lịch sử của nó thông qua những nghiên cứu về sự phân bố Nghiên cứu về sự phân
Trang 10bố cũng còn dựa vào sự tồn tại của những nền văn hóa đơn lẻ Nhưng, điều trái ngược là, những nền văn hóa đơn lẻ trong nghiên cứu dân tộc học của Boas chủ yếu chỉ xuất hiện như một phương tiện để đạt đến mục đích mà gần như loại bỏ việc nghiên cứu chúng, hay lịch sử Trong thực tế, những phân bố địa lý của Boas cho thấy những đặc điểm giữa các nền văn hóa láng giềng tạo nên “khu vực văn hóa”, hay “vùng văn hóa”, theo cách nói của Stocking (1982a [1968]: 157), và ông tạo nên được biểu đồ như vậy trên cơ sở những đặc điểm bên ngoài của đặc tính (bao gồm thần thoại, niềm tin, hay nghi lễ được tách ra thành những đoạn nhỏ) Ông chủ yếu, nếu không phải là hoàn toàn, chú trọng vào những nền văn hóa khu vực này, và ông và các sinh viên của mình coi đây là tập hợp những nền văn hóa có mối quan hệ gần gũi nhất về mặt lịch sử
Trong thực hành dân tộc học của mình, chỉ trừ khi ông nghiên cứu các văn bản và một
số khía cạnh của tổ chức xã hội, những nền văn hóa đơn lẻ được biến thành những nền văn hóa khu vực; chúng được “khu vực hóa”, có thể nói như vậy.9 Do những sự hỗ trợ nghiên cứu hiếm khi tập trung trực tiếp vào chúng, những nền văn hóa đơn lẻ của Boas thường có vẻ là điều cần thiết về mặt lý thuyết chứ không phải là trọng tâm thực nghiệm Ở mức độ đó, chúng thiếu chiều sâu bản thể học (ontological depth), và do đó, thiếu chiều cạnh nội tại hay thiếu tổ chức.10
Nhiều người sẽ phản bác lại rằng đây khó lòng là toàn bộ câu chuyện về Boas Còn có một Boas chính thể luận khác, người nghiên cứu “tinh thần của một dân tộc” thông qua phong cách, văn bản, ý nghĩa, lý giải thứ cấp và tạo nên nhân học tâm lý trong quá trình đó Bây giờ tôi sẽ xem xét từng nhận định này
Phản chứng về một Boas theo thuyết nguyên tử và lịch sử tự nhiên?
“Tinh thần của một dân tộc” không thể thiếu được, nhưng bị phân loại, và phong cách
“được định lượng”
Từ kinh nghiệm của mình, Boas đã biết rằng các nền văn hóa có những phong cách có thể nhận biết Ngay từ năm 1887, trong những bài viết phê phán Otis Mason, người theo thuyết tiến hóa và là người phụ trách tại Bảo tàng Quốc gia Hoa Kỳ ở Washington, ông đã
nhấn mạnh rằng các đặc điểm văn hóa thu được ý nghĩa từ phong cách của một nền văn hóa (1974a[1887]: 62) Những tham chiếu về ý nghĩa và phong cách nói về một nhà nhân học
kiên quyết vượt qua những hình thức bên ngoài để đi đến chiều hướng nội tại của các nền văn hóa Nhưng làm cách nào mà ông có thể đi từ yếu tố văn hóa đến phong cách (hay mẫu hình, trong những bài viết sau này) và ý nghĩa của toàn bộ nền văn hóa?
Trong suốt 10 năm, Boas im lặng không nói gì về nguồn gốc của phong cách của một
bộ tộc Tuy nhiên, sau đó ông viết nhiều hơn về vấn đề này, đặc biệt sau những năm 1900,
“khi những phê bình của ông về thuyết tiến hóa cơ bản đã hoàn thiện”, mặc dù “tư tưởng của ông về vấn đề này không hề mang tính hệ thống và người ta phải góp nhặt tư tưởng đó từ những bài viết trên danh nghĩa lại về những chủ đề khác” (Stocking 1974: 6) Vậy những tư tưởng này là gì?
Sau khi tuyên bố rằng thần thoại phát triển thông qua sự bồi đắp chất liệu ngoại lai, trong phần trích dẫn được đưa ra ở trên (tr 435), ông ngay lập tức bổ sung: “Phần lớn những
Trang 11tài liệu này chắc hẳn đã được kế tục khi đã sẵn sàng, và được biến đổi theo hình thức phù hợp với tinh thần của dân tộc [Trong tiếng Đức, từ đó là Volksgeist], người đã vay mượn nó” (Boas 1974e[1899]: 97, nhấn mạnh bằng in nghiêng của tác giả)11 Hành động Volksgeist này
cho thấy một sự chuyển động vượt ra ngoài nguyên tử luận và lịch sử tự nhiên, hướng tới một cái gì đó sâu sắc hơn; liệu nó có tiết lộ một hình thức có tổ chức?
“Tinh thần của một dân tộc” của Boas tỏ ra là “một cái gì đó” có tác dụng đồng hóa những đặc tính mới được vay mượn thông qua việc phủ lên đó một phong cách, và rập khuôn những đặc tính được phát minh theo phong cách của nền văn hóa đó Do nó đúc nặn nên cả những đầu vào và sản phẩm văn hóa, nó khó lòng có thể là chiều hướng nội tại của một tổ
chức sống Người ta có thể gọi nó là “cái điều hành tinh thần” (“mental operator”) xử lý
những đầu vào và đầu ra văn hóa Nhưng nếu như Boas đùa cợt với một khái niệm như vậy trong nghiên cứu của mình về ngôn ngữ bởi vì ông hiểu bản chất phân loại của ngôn ngữ, ông
đã không bao giờ thành công trong việc ghép một khả năng trực giác tương tự vào công việc nghiên cứu dân tộc học của ông
Nếu đó không phải là cái điều hành tinh thần (mental operator), thì liệu đó có thể là
gì? Câu trả lời đòi hỏi người ta phải vòng vèo một chút Điều mà “tinh thần của một dân tộc” của Boas thực sự làm là đảm bảo rằng những đặc tính mới, chủ yếu là vay mượn, có chung phong cách với những đặc tính khác trong cùng văn hóa đó, vì ông xem nhẹ vai trò của sự sáng tạo Điều này gây nên điểm khác biệt chủ yếu Foucault viết rằng các nhà sử học tự nhiên coi cấu trúc là số lượng, hình dạng và sự sắp xếp các phần (xem tr 437), do đó, phân
biệt sự sắp xếp với tổ chức, và để cấu trúc sang một bên Việc cắm hoa có thể tiết lộ một
phong cách (phong cách của người Anh, người Nhật), nhưng không cho người ta thấy cách tổ chức bên trong, chứ đừng nói đến cấu trúc Và tương tự như vậy những phong cách có mối tương quan rõ ràng hơn Giai điệu, hay một phong cách âm nhạc, là việc sắp xếp các âm thanh Người ta có thể thay đổi chúng (trong những giới hạn nhất định, điều này không liên quan gì đến sự tương quan nhưng liên quan chặt chẽ đến quy ước); một số cách sắp xếp có thể nghe chối tai nhưng nó sẽ thể hiện một phong cách
Cũng giống như kiến trúc Người ta có thể nói rằng một nhà thờ theo trường phái Gôtích có cấu trúc, nhưng cách bố trí các yếu tố xung quanh cấu trúc đó không bổ sung cho cách tổ chức; nó định ra một phong cách Những người kiến trúc sư có thể tăng số lượng các nhà thờ nhỏ, cánh cửa hay các cửa sổ kính màu trong các nhà thờ lớn theo phong cách Gôtíc lên nhiều lần, hay tăng chiều cao, chiều dài mà không thay đổi nhiều sự sắp xếp chung và vẫn giữ lại phong cách đó Nhưng chúng ta chẳng thể tăng số lượng hay mở rộng nhiều ở những
thực thể có tổ chức (organized entities), ví dụ như các cơ thể sống Đây không còn là vấn đề
Trang 12Như tôi biết, Boas không mô tả trong một tài liệu nào về phong cách của cả nền văn hóa Ông chỉ nói về phong cách trong hai bối cảnh, cụ thể là trong nghiên cứu của ông về
nghệ thuật nguyên thủy và trong một bài viết về “văn học nguyên thủy”: ‘Stylistic Aspects of Primitive Literature’[“Các khía cạnh văn phong của văn học nguyên thủy”] (Boas 1940j
[1925]).12 Ở đây, Boas bắt đầu bằng nhận xét về một số khía cạnh hình thức của phong cách,
ví dụ như thực tế rằng các bài hát và các câu chuyện kể mang tính phổ quát và do đó, chắc hẳn chúng phải là hình thức cơ bản của hoạt động văn học; thêm nữa, thực tế rằng, trước khi người ta phát minh ra chữ viết, thơ ca không tách rời khỏi âm nhạc Khi đó, ông nhấn mạnh
sự khó khăn của việc đánh giá chính xác “đặc tính nhịp điệu của văn xuôi chính thức” trong văn học nguyên thủy, sự quan sát dẫn tới lời chỉ trích đầu tiên đối với những giải thích về sự xuất hiện của chúng
Sau khi đã chọn ra những đặc tính phổ quát của phong cách nguyên thủy, Boas tìm kiếm những đặc tính cụ thể:
Ngay khi chúng tôi đi sâu vào những hình thức nghệ thuật của một nhóm văn hóa, chúng tôi có thể quan sát rằng có những đặc tính riêng biệt, không phổ biến đối với loài người Điều này rõ ràng nhất ở những hình thức nhất định của đời sống văn hóa
trải dài qua những khu vực lớn mà không đạt được sự phân bố phổ quát (1940j[1925]:
495)
Trong phần thứ hai của bài viết, ông áp dụng phương pháp phân bố/phân tách của mình, nhận xét về sự hiện diện hoặc thiếu vắng các câu tục ngữ, câu đố, truyện con vật và sử
ca ở những khu vực khác nhau trên thế giới, và đưa ra kết luận:
Trên cơ sở sự phân bố những dạng này, người ta có thể rút ra hai kết luận: một là, những hình thức này không nhất thiết phải là những bước trong sự phát triển các hình thức văn học, nhưng chúng xảy ra trong những điều kiện nhất định; hai là, các hình thức không bị quyết định bởi chủng tộc, mà phụ thuộc vào những sự kiện lịch sử
(1940j[1925]: 496)
Nói cách khác, những câu chuyện phù hợp với điều kiện đời sống của các dân tộc, hay
mối quan tâm, bận tâm nổi trội của họ (1940j[1925]: 496 ff.) Nhìn chung, mặc dù sự phân
tách được sử dụng một cách khéo léo, ở đây, Boas bó buộc mình trong những khía cạnh hình thức của phong cách và sự phân bố của chúng để làm suy yếu những luận thuyết tiến hóa hay phân biệt chủng tộc (xem thêm Voget 1975: 329)
Nghệ thuật là gì? Trước Primitive Art [Nghệ thuật nguyên thủy] công bố năm 1927,
Boas đã viết về chủ đề này trong những năm trước đó (1883-1911, theo Stocking 1974) Ông hoặc sử dụng phương pháp phân tách để làm tung những diễn giải thông thường về sự tiến
hóa của nghệ thuật (1940d[1903]; xem phần bên trên), hay phản đối những luận thuyết tiến hóa đó thông qua sự so sánh chi tiết theo kiểu lịch sử tự nhiên (1940e[1908]) Trong cả hai trường hợp, thậm chí trong cuốn Primitive art [Nghệ thuật nguyên thủy], ông không viết về phong cách với tư cách là phong cách (Kroeber 1956: 158; Wax 1956) Nghĩa là, ông nghiên
cứu về phong cách như ông nghiên cứu lịch sử, đứng về mặt định lượng (kỹ thuật, vật liệu được sử dụng, sự phát minh đối lập với bắt chước); và do đó, được xác định số lượng, bị phá
vỡ thành những mảnh được bồi dần, phong cách đánh mất chất lượng phong cách của nó
Trang 13Thực sự “tinh thần của một dân tộc” của Boas biến đổi những điểm khác biệt (của những đặc tính đa dạng đi vào một nền văn hóa) thành điểm tương đồng văn hóa; có thể nói rằng nó có tác dụng tạo ra phong cách/mẫu hình văn hóa và tính độc nhất Do đó, thông qua
chủ thể của tinh thần dân tộc, Boas vẫn nghĩ về mặt sự phân chia đặc tính theo điểm tương
đồng và khác biệt (của phong cách) giữa các yếu tố “bên trong” và “bên ngoài” một nền văn hóa cụ thể13 trên cơ sở những đặc tính rõ nét của chúng Do đó, tinh thần dân tộc không “sắp xếp”, tổ chức, hay điều chỉnh những hoạt động phong phú của các cơ thể xã hội; nó ít nhiều tạo nên những sự kiểm kê mang tính phong cách
Bị giằng xé giữa những yếu tố bị dịch chuyển và tri thức rằng các nền văn hóa có thể không được mẫu hình hóa một cách triệt để nhưng dù sao cũng thể hiện những phong cách có thể nhận biết, Boas gợi lên tinh thần của một dân tộc nhưng không mô tả cách nó được vận hành.14 Như vậy, tinh thần dân tộc nổi lên như một quy luật lý thuyết tất yếu, được đưa ra để
giải thích về sự tồn tại của phong cách Như một điều gì đó không xác định mà cần phải được biểu thị chứ không phải thừa nhận là đúng, và những cách vận hành của nó cần phải được
hiểu một phần, nó có giá trị như một petitio principii [lập luận quanh quẩn] (tinh thần dân tộc là như thế đối với toàn bộ truyền thống Đức, kể từ Herder trở đi) Vì lý do này, tôi coi nó
không phải như cái vận hành tinh thần (mental operator) mà như một “nguyên lý” bị suy yếu, một “nguyên lý của sự đồng hóa và đồng nhất văn hóa” Và, với tư cách là một “nguyên lý”, liệu nó có thể mang giá trị lý giả hơn những “tác dụng” hay “nguyên lý” của ngành hóa học hay y học trước đó?
Boas và văn bản
Tuy nhiên, còn có những Boas khác Bản thân ông khuyến khích chúng ta “tìm kiếm
những đặc điểm tâm lý chung, không phải trong điểm tương đồng hướng ngoại của những hiện tượng của các tộc người mà trong điểm tương đồng của các quá trình tâm lý” (1974i[1910]: 247, tác giả nhấn mạnh bằng in nghiêng); theo những người khác, ông phớt lờ
những tác động tương đồng hướng ra bên ngoài để tìm thấy “ý nghĩa nội tại” của chúng (Jacknis 1985: 79; Stocking 1974: 4-5), và coi nhẹ hình thức bên ngoài cho quá trình (Jacknis 1996: 202) Và trên tất cả, có một nhà nhân học quan tâm đến văn bản do chúng thể hiện văn hóa của người bản địa như cách họ nhìn thấy, những người đã đưa ra lý thuyết giải thích thứ cấp, và tạo nên một ngành nhân học mang nặng tính tâm lý Tôi sẽ xem xét những Boas đa dạng này, bắt đầu với một Boas sưu tầm văn bản Sự tập trung vào văn bản, nếu có, sẽ phải chỉ ra mối quan tâm đến những nền văn hóa riêng lẻ và chiều hướng nội tại của những nền văn hóa này
Tuy nhiên, các thực tế có vẻ như gây ra ấn tượng sai lầm về một suy luận như vậy Trên thực tế, những văn bản đó trước hết và trên tất cả là những thần thoại, câu chuyện và bài hát (Jacknis 1996: 197; White 1963: 23) Và tại sao Boas lại sưu tầm những sản phẩm văn hóa cụ thể đó? Bởi vì, đối với ông, chúng tạo thành “sự thể hiện về nền văn hóa theo cách người Da đỏ nhìn thấy nó” Hơn thế nữa, một số lập luận rằng, bởi vì ông có thể tạo chúng thành các sản phẩm “khách quan” (Briggs & Bauman 1999; Darnell 2001: 42; Jacknis 1996: 197)
Trang 14Briggs và Bauman đã chỉ ra cách mà Boas, thậm chí khi hợp tác với Hunt, xây dựng nên những văn bản này, và tiếp tục “giải văn bản” (detextualized) chúng (1999: 486, 491), bỏ
đi mọi “dấu vết diễn ngôn trong sự tham gia tích cực có ý thức của những người hợp tác với ông” (1999: 514), một quá trình mà họ coi là “sự thể hiện khách quan”
Những văn bản của Boas cũng giống hiện vật do chính nội dung của chúng (xem Berman 1996: 236; Briggs & Bauman 1999: 504), và phần lớn các văn bản về tổ chức xã hội nói về phong tục tập quán Boas có vẻ như ít quan tâm đến những hành vi không chính thức (Codere 1959: 61);15 không giống hành vi không chính thức, phong tục là những hình thức hành vi đã được mã hóa, những mẩu được tách nhỏ của hành vi được “văn bản hóa”, có thể nói như vậy Trên tất cả, Boas coi phong tục và mọi hiện tượng dân tộc học là “hiện tượng
tâm lý” (Boas 1974f[1904]: 23; Lyman & O'Brien 2003) Những hiện tượng này tồn tại trong
tư duy các cá nhân; do đó, trong nghiên cứu của Boas về phong tục, các cá nhân không hoạt động cũng không tương tác mà đứng ra như những người “mang phong tục”
Boas cũng còn thể hiện cá nhân như những người “mang văn bản” chứ không phải như những tác nhân văn hóa Tại sao? Bởi vì, theo logic, văn bản là cách tốt nhất để ông chiếm hữu lại hiện tượng tâm lý, và theo chính định nghĩa của ông, văn bản liên quan đến một điều, cụ thể là tư duy Không phải là tư duy của người kể cụ thể này hay người kể cụ thể khác, mà là tư duy tập thể của một dân tộc tạo nên văn hóa; và cuối cùng, tư duy tập thể này
chẳng là gì ngoài tinh thần dân tộc (Berman 1996: 220; Briggs & Bauman 1999: 498; Bunzl 1996: 68; Codere 1959: 61; Stocking 1982b[1968]: 223, 224; Voget 1975: 335).16
Những văn bản này, do đó, là những thể hiện bề mặt bên ngoài, “khách quan” về một cái gì đó bên trong, nhưng chưa bao giờ được nắm bắt, vì Boas không bao giờ phân tích những văn bản của mình từ quan điểm văn hóa Nhiều người bình luận đã lưu ý rằng đối với Boas, việc sưu tầm văn bản là “cách để người bản xứ tự nói lên” mà không có sự can thiệp của nhà dân tộc học (Berman 1996: 219, 220; Boas 1935: v; Jacknis 1996: 197; Mead 1959: 32) Nhưng để cho thần thoại, truyện dân gian, bài hát, hay những văn bản khác cho phép
chúng ta hiểu kỹ về một nền văn hóa, để cho các văn bản “nói lên”, chúng cần có sự diễn giải, hoặc từ phía người kể hoặc từ phía nhà dân tộc học Boas tránh những sự diễn giải như
vậy Do đó, kể từ Sapir trở đi, phần lớn những người bình luận lưu ý rằng các văn bản của Boas rất khó hiểu về mặt văn hóa bởi vì chúng thiếu bất cứ bối cảnh và lý giải nào (Berman 1996: 216, 250; Briggs & Bauman 1999: 512; Kroeber 1956: 152; Radin 1933: 8-9; Rohner
& Rohner 1969: xxiii; Sapir 1912: 197-8; White 1963: 55, 59)
Tuy thế, nếu không được giải thích, liệu văn bản có thể có bất cứ giá trị diễn giải nào nữa hay không, cho biết rõ tại sao người ta lại trình diễn phong tục này hay phong tục khác? Văn bản khó lòng mà có được giá trị đó, do luận thuyết của Boas về bản chất thứ cấp của lý giải văn hóa
Boas và những lý giải thứ cấp
Nguồn gốc trí tuệ có thể của lý thuyết
Ngay từ năm 1891, Boas đã đưa ra kết luận rằng thần thoại được tạo thành từ những đoạn được bồi đắp dần, và rằng những yếu tố của chúng “chưa từng có bất kỳ ý nghĩa nào, ít nhất ở những bộ tộc sở hữu chúng mà ta tìm thấy Do đó, người ta không thể giải thích chúng