1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CHƯƠNG TRÌNH môn TỔNG QUAN DU LỊCH và KHÁCH sạn

65 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan du lịch và khách sạn
Tác giả Nhóm Biên Soạn
Người hướng dẫn Đào Thị Thủy, Chủ biên
Trường học Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình
Chuyên ngành Du lịch và khách sạn
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 446 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG TRÌNH MÔN TỔNG QUAN DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH GIÁO TRÌNH MÔN HỌC TỔNG QUAN DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN NGHỀ KỸ THUẬT CHẾ BIẾN MÓN ĂN[.]

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH

GIÁO TRÌNH

MÔN HỌC: TỔNG QUAN DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN

NGHỀ: KỸ THUẬT CHẾ BIẾN MÓN ĂN TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP

Ban hành kèm theo Quyết định số: / QĐ-… ngày … tháng … năm

của Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình

Trang 2

Ninh Bình, năm 2021

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thểđược phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo vàtham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinhdoanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu tấtyếu của xã hội, không những là ngành kinh tế mũi nhọn của các quốc gia màcòn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các miền trong một đấtnước

Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam không ngừng xây dựngchiến lược phát triển nguồn nhân lực làm cơ sở cho việc thực hiện công tácquy hoạch, kế hoạch và giải pháp thực hiện, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịchcủa đất nước

Để đáp ứng yêu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành dulịch, Tổng cục du lịch đã xác định môn Tổng quan du lịch và khách sạn là mộttrong những môn học cơ sở ngành, đồng thời là tài liệu tham khảo cho những

ai có nhu cầu tìm hiểu bước đầu về hoạt động du lịch

Giáo trình " Tổng quan du lịch và khách sạn" được biên soạn nhằm trang bịcho học viên những vấn đề cơ bản về du lịch một các có hệ thống trước khihọc tập những môn chuyên môn khác

Lần đầu tiên cuốn giáo trình được biên soạn, chắc chắn không tránh đượcthiếu sót Chúng tôi trân trọng cảm ơn và mong muốn nhận được sự đóng gópcủa những nhà nghiên cứu và tất cả những người quan tâm đẻ cuốn sách đượcchỉnh sửa, bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 4

CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC

Tên môn học: Tổng quan du lịch và khách sạn

Mã môn học: MH 07

Vị trí tính chất của môn học:

- V trí: Là môn h c đ c b trí gi ng d y sau các môn h c chung vàị ọ ượ ố ả ạ ọ

tr c các môn h c/mô đun chuyên môn ngh ướ ọ ề

- Tính ch t: Là môn h c c s ấ ọ ơ ở

Mục tiêu môn học:

- Về kiến thức:

+ Trình bày được kiến thức khái quát về du lịch và khách sạn;

+ Trình bày được khái niệm, cơ cấu khách sạn và tổ chức trong mộtkhách sạn

+ Trình bày được mối liên hệ giữa ngành du lịch với các ngành kinh tếkhác;

- Về kỹ năng:

+ Phân loại được một số loại hình lưu trú trong hoạt động du lịch;

+ Phân tích được mối liên hệ giữa ngành du lịch với các ngành kinh tếkhác;

+ Phân loại và xếp hạng được các loại khách sạn

- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có ý thức học tập nghiêm túc, phát huy

tính sáng tạo và rèn luyện khả năng thuyết trình cho sinh viên

Nội dung của môn học:

Trang 5

- Phân tích đ c nhu c u du l ch trong ho t đ ng du l ch;ượ ầ ị ạ ộ ị

- Phân lo i đ c m t s lo i hình du l ch trong ho t đ ng du l ch.ạ ượ ộ ố ạ ị ạ ộ ị

- Có ý th c h c t p nghiêm túc, phát huy tính sáng t o và rèn luy nứ ọ ậ ạ ệ

kh năng t duy cho sinh viên.ả ư

Theo định nghĩa của Tổ chức du lịch thế giới ( WTO ) :

Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên 2khía cạnh :

- Thứ nhất : Du lịch là một dạng nghỉ ngơi dưỡng sức, tham quan tíchcực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xemdanh lam thắng cảnh

Trang 6

- Thứ hai : Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao

về nhiều mặt : nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và vănhóa dân tộc; về mặt kinh tế du lịch là lĩn vực kinh doanh mang lại hiệu quả rấtlớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tại chỗ

Luật du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khoá

XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:

Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

1.2 Khái niệm về khách du lịch ( Du khách)

Theo tổ chức Du lịch thế giới, khác du lịch là những người có các đặcđiểm đặc trưng sau:

- Là người đi khỏi nơi cư trú của mình;

- Không theo đuổi mục đích kinh tế;

- Đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên;

- Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tuỳ quan niệm từng nước

Tại các nước đều có các định nghĩa riêng về khách du lịch Tuy nhiên,điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịchlà:

Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên củamình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừmục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thưòi gian lưu trú lại ở nơiđến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng khôngquá thời gian một năm

Khách du lịch là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với cácmục tiêu như nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình

Theo luật Du lịch Việt Nam:

Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, từ trường hợp

đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.

Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản: Khách du lịch quốc

tế và khách du lịch nội địa

1.2.1 Khách du lịch quốc tế

Năm 1989, tại hội nghị liên minh quốc hội về du lịch được tổ chức tạiLahaye đã ra tuyên bố " Lahaye về du lịch" trong đó đưa ra khái niệm vềkhách du lịch quốc tế như sau :

Trang 7

- Sau khi kết thúc đợt tham quan phải rời khỏi nước đến tham quan để

về nước nơi cư trú của mình hoặc đi đến một nước khác

Như vậy có thể hiểu : Khách du lịch quốc tế: Là khách du lịch mà điểm

xuất phát và điểm đến du lịch thuộc phạm vi lãnh thổ của hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau.

Luật du lịch Việt nam đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế :

Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch

Như vậy nhóm khách du lịch quốc tế được phân chia thành 2 loại

- Khách du lịch quôc tế đi vào : Là người nước ngoài và người của mộtquốc gia nào đó định cư ở nước khác vào quốc gia đó đi du lịch

- Khách du lịch quốc tế đi ra : Là công dân của một quốc gia và ngườinước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch

Những đối tượng sau đây không được công nhận là khách du lịch quốc

tế :

- Những người đến một nước để thừa hành một nhiệm vụ nào đó

- Những người sang nước khác để hành nghề hoặc tham gia các hoạtđộng kinh doanh ở nước đến

- Những người nhập cư vào nước đến

- Học sinh, sinh viên hoặc nghiên cứu sinh, thực tập sinh sống tạm trú ởnước ngoài

- Những người thường xuyên qua lại biên giới

- Những hành khách đi xuyên qua một quốc gia

1.2.2 Khách du lịch nội địa

- Khách du lịch nội địa: Là công dân Việt Nam , người nước ngoài thường

trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam (theo luật Du lịch

Việt Nam 2005)

Trang 8

Ngoài ra tại một số nước còn phân biệt khái niệm khách du lịch trong nước

1.3 Khái niệm về điểm du lịch

Các điểm du lịch, khu du lịch là yếu tố cấu thành rất quan trọng của mộtđiểm đến du lịch

Trong một chuyến đi, khách du lịch thường quan tâm tới nhiều yếu tố như:vận chuyển, lưu trú, ăn uống, mua sắm, tham quan Trong các yếu tố đó, vấn

đề được khách du lịch đặc biệt quan tâm là tại điểm đến có cái gì để cho họtham quan, thưởng thức và hoạt động theo đúng ý thích của họ Khác đến mộtnơi nào đó không phải với mục đích chính là ngủ, đi lại bằng một pưhơng tiệnnào đó mà chủ yếu là để có cảm giác mới do các điểm du lịch mang lại

Cần hiểu rằng, điểm du lịch rất quan trọng đối với quyết định đi du lịch củakhách du lịch, nhưng chi tiêu của khách du lịch tại các điểm du lịch thườngchiếm tỷ trọng không lớn trong tổng chi tiêu của khách du lịch trong mộtchuyến đi

Thực tế cho thấy, một người khách quyết định đến một nơi nào đó (điểmđến du lịch) trước hết là nơi đó có thể cung cấp cho họ những cảm giác khácvới nơi họ thường sống Một số người sống ở nông thôn thích tìm đến nơiđông đúc, nhộn nhịp, có nhiều công trình kiến trúc đẹp ở thành phố; một sốngười sống ở vùng núi thích đi thăm thành phố hoặc vùng biển; trong khi đóngười sống ở thành phố thích đến nơi có thể thư giãn, nghỉ ngơi, không khítrong lành, yên tĩnh như vùng biển, vùng núi, hồ, vùng quê

Như vậy, điểm du lịch rất đa dạng, nó có thể là một bãi biển ;

Theo luật Du lịch Việt Nam năm 2005 Điểm đến du lịch được định nghĩanhư sau:

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.

1.4 Cơ sở lưu trú du lịch

Theo điều 4 trong luật du lịch, cơ sở lưu trú du lịch được hiểu như sau :"

Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ

Trang 9

khác phục vụ khách lưu trú trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủyếu".

Hiểu một cách cụ thể, thì cơ sở lưu trú du lịch chính là nơi khách có thể ăn

nghỉ, trú ngụ được trong thời gian rời xa nơi ở thường xuyên của mình để đi

du lịch quốc tế bị động Loại hình này là cơ sở cho các mối quan hệ hợp táccùng có lợi về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các quốc gia

+ Du lịch nội điạ : Chuyến đi của người đi du lịch từ chỗ này sang chỗ khácnhưng trong phạm vi đất nước mình Điểm đến và điểm xuất phát nằm tronglãnh thổ quốc gia mình

2.2 Căn cứ vào mục đích của chuyến đi

2.2.1 Theo mục đích chung

a) Du lịch tham quan

 Tham quan là hành vi quan trọng của con người với mục đích chính lànâng cao hiểu biết cho cá nhân, loại hình du lịch này thoả mãn lòng ham hiểubiết và ham thích nâng cao văn hoá thông qua các chuyến đi du lịch đến nhữngnơi lạ để tìm hiểu các di sản văn hoá, di tích lịch sử, các công trình kiến trúcnghệ thuật, các lễ hội độc đáo, các làng nghề thủ công truyền thống, các bảnlàng của ngưòi dân tộc thiểu số, phong tục tập quán và tìm hiểu những thànhquả kinh tế, chế độ xã hội, chất lượng cuộc sống của mỗi địa phương mỗi quốcgia và có thể là một phong cảnh thiên nhiên kỳ thú… Loại hình du lịch thamquan có tác dụng nhận thức là rất lớn, tác dụng giải trí không hiện hình hoặc

có ý nghĩa thứ yếu Thời gian lưu lại của khách đối với loại hình này trongthời gian rất ngắn, thường kéo dài một giờ, hoặc một vài phút Đối tượng củaloại hình du lịch này thường là những người có văn hoá cao như nhà giáo, nhàkhoa học, nhà sử học, nhà báo… Ưu thế của loại hình du lịch này là đại bộ

Trang 10

phận không chịu ảnh hưởng của tính mùa vụ Điều này nó giúp cho sự cânbằng trong việc phát triển du lịch.

c) Du lịch nghỉ dưỡng

Du khách tìm đến các bãi biển, vùng suối nước khoáng, nước nóng có giátrị y học cao để chữa bệnh Bên cạnh đó do đời sống công nghiệp, sự làm việccăng thẳng nên tranh thủ những ngày nghỉ tìm đến với thiên nhiên, hoà mìnhvào thiên nhiên để thay đổi môi trường sống hàng ngày, tránh tình trạng stress

Vì vậy, không gian du lịch phải thoáng mát, yên tĩnh Và điều quan trọng làphải có đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp Thời gian lưu lại của khách đối vớiloại hình du lịch này là rất lớn Đối tượng khách chủ yếu của loại hình du lịchnày công nhân lao động, người già.

2.2.2 Theo mục đích riêng

a) Du lịch thể thao

Nhu cầu, sở thích của khách gắn với các môn thể thao Loại hình này cóhai loại khách chính đó là vận động viên trực tiếp tham gia thi tài ở các kì ThếVận hội, Worldcup hoặc đến các vùng có tiềm năng thể thao như leo núi, trượttuyết, săn bắn, bơi lội… (chủ động) và các cổ động viên xem các cuộc thi đấu

và cổ vũ (bị động) Loại hình du lịch thể thao là một trong những loại hìnhđem lại nguôn thu rất lớn cho địa phương vì nó thu hut một lượng lớn khách

du lịch Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia trên thế giới ngày càng ra sứcchạy đua để được đăng cai một kì Thế vận hội, Worldcup bên cạnh việc thulợi nhuận là quảng bá hình hình ảnh đất nước nhằm mục đích phát triển du lịch b) Du lịch tôn giáo

 Loại hình này thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những ngườitheo các tôn giáo khác nhau (hiện nay, trên thế giới có các tôn giáo lớn nhưđạo Hồi, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, Nho giáo, Do Thái…) Đây

là loại hình du lịch lâu đời rất phổ biến ở các nước tư bản Vì tôn giáo là nhu

Trang 11

cầu tinh thần và là tín ngưỡng trong những cá nhân theo tôn giáo của họ, do đódộng cơ đi và đến những nơi cội nguồn của tôn giáo là mong muốn và lànguyện vọng hàng năm của họ.

2.2.3 Theo trách nhiệm

Du lịch MICE

MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sựkiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác MICE - viếttắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hộithảo) và Exhibition (triển lãm) Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting IncentiveConference Event Bởi vậy các đoàn khách MICE thường rất đông (vài trămkhách) và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường (do Ban tổchức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4 - 5sao, dịch vụ cao, tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu…).MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ởcác nước

2.3 Căn cứ theo phương tiện vận chuyển

2.3.1 Du lịch đường bộ

a) Du lịch xe đạp

Vừa kết hợp tham quan và thể thao Du khách có thể xâm nhập dễ dàngvới cuộc sống dân cư bản xứ và đi tới những nơi đường sá chưa phát triển b) Du lịch bằng xe ô tô

Loại hình du lịch này gắn liền với kỹ nghệ sản xuất xe hơi Sử dụng xe ô

tô đi được nhiều nơ, thích hợp với nhiều dạng địa hình Các gia đình thườngdùng xe ô tô để nghỉ ngơi cuối tuần Đặc biệt với sự phát triển của du lịch nộiđịa gắn liền với loại hình du lịch ô tô

2.3.2 Du lịch đường không

Là loại hình du lịch tiên tiến nhất đáp ứng nhu cầu của khách, có thể tơitham quan nghỉ dưỡng tại những nước, những vùng xa xôi nhất, tranh thủ sửdụng những ngày nghỉ cuối tuần trong thời gian di chuyển ngắn nhất Nhượcđiểm là giá thành vận chuyển cao, không phù hợp với tầng lớp có nhu cầuthấp

2.3.3 Du lịch đường thủy

Đối tượng chính là những khách có thu nhập cao Loại hình du lịch này

là trọn gói, đặc biệt thích hợp với những chuyên du lịch dài ngày, ghé thămnhiều nơi, nhiều quốc gia

Trang 12

2.4 Căn cứ vào phương thức hợp đồng

1.2.4.1 Du lịch trọn gói

Khách du lịch thường kí hợp đồng trọn gói với các công ty lữ hành khimuốn tham gia vào một tuyết du lịch với một số tiền nhất định Thường cáccác dịch vụ trọng gói mà công ty lữ hành liên kết với các đơn vị kinh doanhkhác nhau cung cấp cho khách đó là:

b) Nhu cầu du lịch

Nhu cầu du lịch là sự mong muốn của con người đi đến một nơi khác với nơi ở thường xuyên của mình để có được những xúc cảm mới, trải nghiệm mới, hiểu biết mới, để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khoẻ, tạo sự thoải mái dễ chịu về tinh thần.

Nhu cầu du lịch khác với nhu cầu của khách du lịch Nhu cầu du lịch khôngphải là nhu cầu cơ bản, do vậy nhu cầu du lịch chỉ được thoả mãn trong điềukiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về kinh tế, kỹ thuật, xã hội còn nhu cầucủa khách du lịch là những mong muốn cụ thể của khách du lịch trong một

Trang 13

chuyến du lịch cụ thể, nó bao gồm: nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng vànhu cầu bổ sung.

- Nhu cầu thiết yếu trong du lịch là những nhu cầu về vận chuyển, lưu trú

và ăn uống cần phải được thoả mãn trong chuyến hành trình du lịch

- Nhu cầu đặc trưng là những nhu cầu xác định mục đích chính của chuyến

đi, ví dụ nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan, giải trí, thăm viếng, tham gia lễ hội,học tập nghiêm cứu

- Nhu cầu bổ sung là những nhu cầu chưa định hình trước, nó phát sinhtrong chuyến hành trình du lịch như thông tin, tư vấn, mua sắm, thẩm mỹ

3.1.2 Phân loại nhu cầu du lịch

Về cơ bản, nhu cầu du lịch được phân làm 3 nhóm: nhu cầu thực tế, nhucầu bị kìm chế và không có nhu cầu

a) Nhu cầu thực tế:

Là nhu cầu du lịch được thoả mãn, được thực hiện trong thực tế Nhu cầuthực tế được thể hiện qua chỉ tiêu: số lượt khách đi du lịch trong một khoảngthời gian nào đó

b) Nhu cầu bị kìm chế:

Là nhu cầu của một bộ phậm dân cư muốn đi du lịch nhưng không thựchiện được vì một lý do nào đó

c) Không có nhu cầu:

Gồm những người có đủ điều kiện nhưng không muốn đi du lịch và nhữngngười trong suốt cuộc đời không thể đi du lịch vì lý do hoàn cảnh gia đình, sứckhoẻ, lối sống, văn hoá

3.2 Sản phẩm du lịch

3.2.1 Khái niệm

Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầucủa khách du lịch trong chuyến đi du lịch

Sản phẩm du lịch bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có 5 yếu tố chính:

- Điểm thu hút khách (các di sản văn hoá, vườn quốc gia, bãi biển, côngtrình kiến trúc lễ hội, phong tục tập quán)

- Khả năng tiếp cận của điểm dến (cơ sở hạ tầng, các loại phương tiện vậnchuyển, lịch trình hoạt động của các loại phương tiện đó )

- Các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến (các cơ sở lưu trú, nhà hàng, cáccửa hàng bán lẻ, các khu vui chơi giải trí, khu thể thao )

- Hình ảnh của điểm đến

Trang 14

- Giá cả hàng hoá, dịch vụ điểm đến

Các dịch vụ thuộc sản phẩm du lịch rất đa dạng (lưu trú, ăn uống, vậnchuyển, tham quan, phục vụ hội nghị, vui chơi giải trí )

3.2.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thứ yếu cao cấp của du khách.Mặc dù trong suốt chuyến đi họ phải thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt Do đónhu cầu du lịch chỉ được đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rỗi, có thu nhậpcao Nguời ta sẽ đi du lịch nhiều hơn nếu thu nhập tăng và ngược lại sẽ bỏ cắtgiảm nếu thu nhập bị giảm xuống bao gồm 4 đặc điểm của dịch vụ đó là:

* Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể) Thực

ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể Mặc dù trongcấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa Tuy nhiên sản phẩm du lịch là không

cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cáchtrang trí phòng đón tiếp…) Việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnhtranh khó khăn hơn trong kinh doanh hàng hóa

* Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy mà

khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua gây khókhăn cho việc chọn sản phẩm Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch là rấtquan trọng

* Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du

lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng Do đó không thểđưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất

ra sản phẩm du lịch

* Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch

vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống….Do đó về cơbản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ hỏng

Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có một đặc điểm khác:

- Sản phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ

- Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch

4 Một số loại hình cơ sở lưu trú du lịch tiêu biểu

4.1 Hotel

Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụcần thiết phục vụ khách du lịch

Trang 15

Trong các loại hình cơ sở lưu trú du lịch, khách sạn là loại hình cơ sở lưu trúchủ yếu, đặc thù nhất, đặt hầu hết ở các đô thị, các điểm du lịch trên thế giới.phổ biến nhất của ngành du lịch nói chung và của hệ thống cơ sở lưu trú dulịch nói riêng Trong hệ thống cơ sở lưu trú khách sạn là loại hình cơ sở lưu trútiêu biểu nhất, phát triển nhất về dịch vụ, chất lượng, đa dạng về thể loại, có sốlượng lớn, có mặt hầu hết ở các đô thị, các điểm du lịch trên thế giới TrongĐiều 4 – Luật du lịch của nước ta cũng đã để cập “Khách sạn là cơ sở lưu trú

du lịch chủ yếu” để nói lên vị trí quan trọng của khách sạn Chính vì vị tríquan trọng của loại hình khách sạn trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch nênviệc nghiên cứu chi tiết về khách sạn đã được dành một chương trình riêng(Chương 3) Trong nội dung của chương này chỉ tập trung nghiên cứu các loạihình cơ sở lưu trú khác

Trong thực tê, nhiều nhà nghiên cứu về du lịch ở Việt Nam đã có công tìmkiếm một thuật ngũ tiếng Việt tương đương với motel có người dịch là kháchsạn ven đường, khách sạn tự phục vụ, thậm chí có người còn dịch là nhà trọ,nhà nghỉ Việc định nghĩa motel theo những cách trên chỉ phản ánh được một

số đặc điểm của motel (chẳng hạn có nhứng motel không ở ven đường mà lại

ở những khu nghỉ dưỡng, nếu gọi là khách sạn ven đường sẽ không chínhxác) Việc đưa ra một thuật ngữ tương đương với motel trong tiếng Việt còngặp một trở ngại rất lớn, đó là trong thực tế ở Việt Nam có rất ít motel, thậmchí có thể xem như là chưa có motel theo đúng nghĩa Do đó khó có sự liên hệ,chưa có sự đặt tên cụ thể đối với loại hình cơ sở lưu trú du lịch này

Hiện nay loại hình cơ sở lưu trú motel khá phổ biến ở nước ta Bên cạnhnhững loại hình lưu trú cao cấp như resort, khách sạn, khu nghỉ dưỡng thì dukhách thường hướng đến những loại hình lưu trú đơn giản Và từ đó Motel đã

ra đời mang đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn

Trang 16

Theo thống kê, hàng năm khách du lịch tại nước ta tăng cao trong số đóthì lượng khách du lịch bụi chiếm tỉ lệ rất cao Đối tượng này thường thích tự

do và chủ động trong việc đi lại và ăn ở Loại hình Motel đã được những đốitượng du lịch bụi lựa chọn thường xuyên Không chỉ có vậy những khách dulịch nước ngoài cũng ưa thích loại hình này Vì vậy, phân khúc này đang đượcrất nhiều các chủ đầu tư khai thác

Có thể đưa ra khái niệm về motel như sau: Motel là một loại hình cơ sở lưu

trú du lịch, thường được xây dựng ven đường quốc lộ, những đầu mối giao thông quan trọng, ngoại ô thành phố, hoặc ở những khu du lịch với kiến trúc đơn giản, thấo tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị chủ yếu để đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách đi bằng xe cơ giới, chủng loại dịch vụ ít và thường

có các dịch vụ liên quan đến xe cơ giới, ngoài ra khách tự phục vụ lấy một số nhu cầu của mình.

4.2.2 Các thể loại

a) Motel ven đường (tranzit motel):

Đâylà thể loại motel phổ biến nhất, nó thường có vị trí ở ven các trụcđường giao thông hoặc ở các đầu mối giao thông, có nhiều dịch vụ liên quanđến ôtô, chủ yếu phục vụ cho đối tượng là khác dừng chân trong nhữngchuyến đi bằng ôtô, xe máy, thời gian lưu trú của khách ngắn (thường là một,hai ngày) Thể loại này phổ biến ở Mỹ va Tây Âu

b) Motel nghỉ dưỡng (tourist motel)

Là thể loại motel thường được xây dựng gần những nơi có cảnh quan đẹp,tài nguyên thiên nhiên phòng phú, thời tiết khí hậu thuận lợi Thể loại này chủyếu dành cho đối tượng khách đi nghỉ, lưu trú trong thời gian tương đối dài Thểloại này phổ biến nhiều nhất ở Châu Âu

c) Motel ngoại ô (suburb motel)

Là thể loại motel chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách đi nghỉ cuối tuần,thông thường được xây dựng ở ngoại ô các thành phố lớn, phổ biến ở Tây Âu

và Mỹ Ngày nay cùng với sự phát triển đa dạng của nhu cầu du lịch của khác,các motel cũng ngày càng đa dạng hoá hoạt động của mình như xây dựngthêm bể nơi, sân tennis nhằm thu hút khách đến nhiều hơn và kéo dài thờigian lưu trú tại motel lâu hơn Motel ngày càng phát triển và trở thành đối thủcạnh tranh trực tiếp của khách sạn

4.2.3 Đặc điểm

a) Đặc điểm về vị trí

Trang 17

Tuỳ thuộc vào từng thể loại mà motel có vị trí khác nhau Đối với motel venđường: vị trí ở gần những trục đường giao thông chính (những đường cao tốc)hoặc ở đầu mối giao thông quan trọng, đối với motel nghỉ dưỡng thườn có vịtrí ở những khu nghỉ dưỡng, gắn với những địa điểm có phong cảnh đẹp, khíhậu ôn hoà Motel ngoại ô: có vị trí ở nghoại ô nhứng thành phố lớn, thôngthường có thể ở gần những khu rừng ngoại ô hoặc ở gần những cánh đồng,dòng sông, bãi biển Nhìn chung các motel thường có vị trí không ở các trungtâm đô thị, tuy nhiên trong thực tế vẫn tồn tại những motel ở ngay trung tâm

đô thị, nhưng triường hợp này không phổ biến

b) Đặc điểm về kiến trúc, xây dựng:

- Kiến trúc đơn giản, thường là nhà có mái, thấp tầng (thấp hơn ba tầng,nhưng phổ biến nhất vẫn là một đến hai tầng)

- Được xây dựng bằng những vật liệu đơn giản, hơn 50% số motel đượcxây dựng theo kiểu nhà lắp ghép

- Thường có hiên rộng, lối đi ngoài hành lang, ít có motel xây dựng theokiểu có hang ở giữa (các buồng ngủ ở hai bên hành lang)

- Có diện tích mặt bằng tương đối lơn, thường có sân rộng, vườn cây

- Thường có ga – ra để xe cho khách, đặc biệt đối với thể loại motel giaothông còn có cả những khu du lịch phục vụ cho việc bảo dưỡng, sửa chữa ô

tô, xe máy

c) Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật:

- Cơ sở vật chất kỹ thuật chung của motel chủ yếu là công trình nhà ở, sânvườn, gara (khu để xe ô tô), đường giao thông nội bộ, các hệ thống điện, cấpthoát nước, phòng cháy chữa cháy Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật củamotel có chất lượng cũng như giá trị thấp hơn so với các loại hình cơ sở lưutrú khác như khách sạn, tàu du lịch, làng du lịch

- Cơ sở vật chất kỹ thuật trong kinh doanh lưu trú của motel thường chiếm

tỷ trọng lớn trong giá trị của motel Trong nhóm này tập trung vào các trangthiết bị trong buồng ngủ của khách

Trong buồng ngủ của motel thường có đầy đủ các trang thiết bị tiện nghinhư trong buồng ngủ của khách sạn thông thường Trong buồng ngủ thường

có từ hai đến ba giường Một điều đặc biệt trong buồng ngủ của khách thường

có nhiều phòng, có cả bếp với các thiết bị đun nấu để khách có thể tự nấunướng, có thiết bị giặt là để khách tự phục vụ (đây là điểm khác biệt so với cáckhách sạn thông thường)

Trang 18

Trong các Motel, cơ sở vật chất ở bộ phận lễ tâm thường đơn giản hơnnhiều so với khách sạn, vì công việc chính của lễ tâm chỉ là giao chìa khoá chokhách và đáp ứng một số ít các dịch vụ có liên quan Bộ phận buồng cũngthường đơn giản, thậm chí có nhiều motel không có bộ phận phục vụ buồng

mà chỉ có bộ phận thu dọn, vệ sinh

d) Các đặc điểm về sản phẩm

Sản phẩm của motel ngoài những đặc điểm chung như các sản phẩm trong

hệ thống cơ sở lưu trú du lịch còn có các đặc điểm riêng như:

- Giá rẻ (thấp hơn nhiều so với giá dịch vụ của khách sạn cao cấp, tàu dulịch, làng du lịch)

- Chủng loại sản phẩm thường đơn giản, số lượng ít, chất lượng thườngkhông cao Đặc biệt đối với các dịch vụ ăn uống và giặt là khách thường phảitự phục vụ

- Thời gian lưu trú của khách tại các motel phụ thuộc vào từng thể loạimotel Đối với motel giao thông, khách thường lưu trú trong thời gian ngắn(dưới 4 ngày) Đối với thể loại motel ngoại ô, khách thường lưu trú trong thờigian ngắn (đi nghỉ cuối tuần); Đối với thể loại motel nghỉ dưỡng lại ngược lại,khách thường lưu trú trong thời gian tương đối dài (Cũng chính vì thời giantương đối dài nên họ chọn motel để tiết kiệm chi phí)

e) Đặc điểm về đối tượng khách:

- Khách đi du lịch bằng xe cơ giới chiếm đa số (đặc biệt là đối với cácmotel giao thông)

- Khách thường có khả năng thanh toán không quá cao Thường là nhữngkhách du lịch có thu nhập trung bình

- Yêu cầu về chất lượng dịch vụ ở mức trung bình

- Tập trung nhiều ở giới trẻ, thường đi theo từng cặp, nhóm bạn hoặc cả giađình

g) Đặc điểm về tổ chức lao động:

Tổ chức lao động trong các motel thường đơn giản hơn so với các kháchsạn, tỉ lệ nhân viên phục vụ buồng cũng thấp hơn (do chủng loại và số lượngdịch vụ ít hơn)

Tính chuyên môn hoá ở motel thấp hơn so với khách sạn, bộ phận lễ tânthường rất đơn giản

4.2.4 Những ưu thế, hạn chế.

Trang 19

Qua việc phân tích những đặc điểm của motel, ta thấy loại hình cơ sở lưutrú du lịch này có những ưu thế và hạn chế cơ bản sau:

a) Ưu thế:

- Giá rẻ hơn so với nhiều loại hình cơ sở lưu trú du lịch khác (đặc biệt là sovới khách sạn, làng du lịch, tàu du lịch, resort)

- Thuận tiện cho thị trường khách du lịch bằng ôtô

- Tổ chức lao động đơn giản, dịch vụ ít do đó tiết kiệm được chi phí kinh doanh.b) Hạn chế: Loại hình này có nhiều hạn chế như:

- Dịch vụ ít, chất lượng không cao

- Tính chuyên môn hoá không cao

- Chủ yếu thu hút được những đối tượng khách có thu nhập trung bình

- Khách phải tự phục vụ lấy một phần các dịch vụ

du lịch còn có kiểu sinh hoạt đặc trưng theo kiểu cộng đồng, nhóm nhỏ củakhách du lịch Như vậy có thể khái niệm làng du lịch như sau:

Làng du lịch (Tourism Village) là loại hình cơ sở lưu trú du lịch tổng hợp thường được xây dựng theo quần thể trên một diện tích rộng được quy hoạch gần các tài nguyên du lịch Loại hình cơ sở lưu trú này có kết cấu hạ tầng mang tính chất quần thể với những ngôi nhà riêng biệt cho khách lưu trú cùng với nhiều loại dịch vụ khác đáp ứng các nhu cầu của khách.

Với khái niệm trên, cần phải phân biệt rõ: Thứ nhất, làng du lịch với Resort

là hai loại hình cơ sở lưu trú du lịch hoàn toàn khác nhau Thứ hai, làng dulịch là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch khác với làng du lịch mang ý nghĩa

là một điểm tham quan du lịch (không có các cơ sở lưu trú chuyên nghiệp)

4.3.2 Các thể loại

Tuỳ theo tiêu chí phân loại có thể chia làng du lịch theo các thể loại khácnhau Theo cách phân loại hiện nay ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đó

Trang 20

là căn cứ vào cơ sở vật chất kỹ thuật của làng du lịch và chất lượng phục vụ cóthể chia thành hai loại cơ bản:

- Làng du lịch cao cấp: Đó là quần thể các biệt thự và các công trình dịch

vụ có kiến trúc độc đáo được xây dựng trên một diện tích khá rộng thường ởnơi có những tài nguyên du lịch tự nhiên Làng du lịch cao cấp có cơ sở vậtchất kỹ thuật hiện đại, với nhiều loại dịch vụ phong phú, chất lượng cao,thường bán cho khách theo giá trọn gói, có các chuyên gia, huấn luyện viênhướng dẫn khách trong các hoạt động thể thao, giải trí, vui chơi, chăm sóc sứckhoẻ

- Làng du lịch địa phương: Đó là những làng du lịch mang đậm phong cáchkiến trúc, văn phong của địa phương (có thể là những ngôi làng cũ cải tạo lại),

có cơ sở vật chất kỹ thuật ở mức trung bình, tính đồng bộ không cao, phục vụkhách du lịch muốn hoà mình vào văn hoá địa phương

Hiện nay ở Việt Nam chủ yếu tồn tại hai thể loại làng du lịch nói trên và nó

là loại hình cơ sở lưu trú mới xuất hiện so với các loại hình cơ sở lưu trú phổbiến khác như khách sạn, nhà nghỉ, bãi cắm trại

Ngoài ra, căn cứ vào vị trí địa lý của làng du lịch có thể chia ra các thể loạisau:

và đều là những điểm đặc trưng để chỉ ra chúng cùng một loại hình như:

- Tính quần thể: Khu vực lưu trú của khách đều là những ngôi nhà riêngbiệt, bố trí theo một quần thể thống nhất

- Có khu vực sinh hoạt chung, khu vực các dịch vụ như thương mại, ănuống, vui chơi, giải trí

- Gắn với các tài nguyên du lịch, thường là ở những nơi có cảnh quan thiênnhiên đẹp, khí hậu tốt (tài nguyên du lịch tự nhiên) hoặc ở những vùng có kiếntrúc, bản sắc văn hoá đặc sắc (tài nguyên du lịch nhân văn)

- Dịch vụ đa dạng, phong phú, đáp ứng khá đầy đủ các nhu cẩu của kháchlưu trú

Trang 21

Tuy nhiên khi xem xét cụ thể các đặc điểm về kiến trúc xây dựng, cơ sởvật chất kỹ thuật, sản phẩm đối tượng khách chúng lại có những đặc điểmkhác biết nhất định Do đó chúng ta sẽ xem xét đặc điểm của từng thể loại làng dulịch.

a) Đặc điểm của làng du lịch cao cấp

+ Đặc điểm về vị trí:

Làng du lịch cao cấp thường có vị trí ở gần những nơi có tài nguyên du lịchtự nhiên có giá trị Điều kiện về khí hậu thuận lợi, phù hợp với sinh hoat của

du khách

+ Đặc điểm về kiến trúc và xây dựng:

- Làng du lịch cao cấp được kiến trúc theo lối quần thể, nhưng mang tínhhiện đại, tính thẩm mỹ, tính đồng bộ cao Đa số các làng du lịch cao cấp đượcquy hoạch tổng thể và xây dựng mới từ đầu (để đảm bảo các yêu cầu về cơ sởvật chất kỹ thuật)

- Làng du lịch cao cấp cũng thường được chia thành những khu vực chủyếu sau:

Khu vực lưu trú của khách: thường là những biệt thự riêng biệt hoặc cácbungalow cao cấp, đáp ứng sự riêng tư của khách

Khu vực sinh hoạt chung của làng du lịch cao cấp thường được xây dựngrất hiện đại, có bãi đậu xe, khu vực nhà hàng, cửa hàng, trung tâm thương mại,văn phòng, vườn cây khu vực này tương tự như các Resort

Khu vực phục vụ chuyên đề thể thao, vui chơi, giải trí: mỗi làng du lịchcao cấp thường quan tâm tổ chức những chương trình hoạt động theo nhữngchuyên đề nhất định (như thể thao, giải trí, tắm biển ) Cơ sở vật chất kỹthuật ở khu vực này được xây dựng hiện đại, tiện nghi, đồng bộ

+ Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật:

- Cơ sở vật chất kỹ thuật của làng du lịch cao cấp có mức độ cao (khác biệtvới làng du lịch địa phương)

- Có khu vực dịch vụ theo các chương trình hoạt động, các chuyên đề củalàng du lịch

- Buồng khách của làng du lịch có trang thiết bị, hiện đại, tiện nghi cao cấp.Tuy nhiên, đối với một số làng du lịch để đáp ứng nhu cầu của một số kháchmuốn tách biệt khỏi môi trường hiện đại họ thường xây dựng những bungalowcho khách lưu trú với trang thiết bị tiện nghi đơn giản

+ Đặc điểm về sản phẩm

Trang 22

Sản phẩm của làng du lịch cao cấp có chất lượng cao, hầu hết được bándưới hình thức trọn gói (bao gồm: ăn ở, lưu trú, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng,hướng dẫn, tư vấn ) với mức giá khá cao.

+ Đặc điểm về đối tượng khách:

- Thích hợp với đối tượng khách muốn trở lại cuộc sống yên bình, thíchhợp với khách nghỉ dưỡng

- Đa số khách ở lứa tuổi trung niên

- Yêu thích văn hoá, phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt của địa phương

- Thường đi theo nhóm không qua đông hoặc đi theo cặp

- Đa số người có khả năng thanh toán cao

- Thời gian lưu trú dài

b) Đặc điểm của làng du lịch địa phương:

+ Đặc điểm về vị trí

Làng du lịch địa phương có vị trí ở những nơi gần gũi với các nguồn tàinguyên du lịch, có khí hậu tốt, môi trường tự nhiên xã hội lành mạnh

+ Đặc điểm về kiến trúc và xây dựng

Làng du lịch địa pưhơng có kiến trúc địa phương vừa mang những yếu tốtriêng về mặt văn hoá, vừa phù hợp với môi trường xuang quanh tạo cho kháchsự gần gũi với thiên nhiên và văn hoá, con người địa pưhơng, quy hoạch củalàng du lịch địa phương cũng gồm ba khu vực chủ yếu:

- Khu vực lưu trú của khách: thường là những ngôi nhà riêng biệt hoặc cácbungalow đáp ứng sự riêng tư của khách

- Khu vực công cộng: Thông thường cá làng du lịch thường có khu vựcsinh hoạt chung như quảng trường, nhà thờ, hồ nước, rừng cây, sông, nhàtruyền thống

- Khu vực dịch vụ và sinh hoạt: bao gồm các nhà hàng, quán bar, quán đặcsản, sàn nhày, rạp chiếu bóng, bãi đỗ xe

- Kiến trúc của làng du lịch địa phương mang đậm phong cách địa phương(do đa số làng du lịch tự nhiên vốn có từ trước được cải tạo lại) Những làng du

Trang 23

lịch được xây mới thường có phong cách vừa mang bản sắc văn hoá vừa độcđáo riêng biệt nhầm hấp dẫn du khách.

* Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật

- Cơ sở vật chất kỹ thuật của làng du lịch địa phương thường có chất lượng

ở mức trung bình và cao hơn

- Một số làng du lịch tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có từ trước cảitạo thành nơi thu hút và phục vụ khách

- Hệ thống các cơ sở phục vụ khách du lịch như nhà hàng, quán bar, dịch vụbổ sung, bãi đạu xe cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị tương tự như cácloại hình cơ sở lưu trú du lịch phổ biến khác

- Khu vực lưu trú của khách: Bao gồm quần thể các nhà nghỉ, biệt thự, nhà

ở của cư dân cải tạo lại hoặc các bungalow

- Buồng khác (hoặc nhà nghỉ cho khách ở) trong làng du lịch đại phươngnhìn chung được trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ nhu cầu lưu trú củakhách, với chất lượng trung bình và thường mang tính dân tộc, văn hoá địaphương trong trang trí

* Đặc điểm về đối tượng khách

- Khách đa dạng về tuổi tác, thu nhập, dân tộc phong cách sống

- Khách thường muốn tìm về với đời sống dân dã, bình di nơi thôn quê,yêu thích văn hoá, phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt của địa phương

* Đặc điểm về lao động:

- Đội ngũ lao động ở làng du lịch địa phương có tính chuyên môn hoákhông cao, quá trình phục vụ nhiểu lúc mang tính tự phát, chưa được đào tạođúng mức

- Tuy nhiên, trong quá trình phục vụ và giao tiếp có thể khai thác đượcnhiều yếu tố văn hoá (phong tục tập quán, tôn giáo, tính ngưỡng ) của từngđịa phương tạo những sức hấp dẫn riêng đối với khách

Trang 24

4.3.4 Những ưu thế và hạn chế

Với mỗi thể loại làng du lịch có những điểm khác biệt nhất định do đóchúng cũng có những ưu thế và hạn chế khác nhau Chúng ta sẽ xem xét ưuthế và hạn chế của từng thể loại làng du lịch

a) Đối với làng du lịch cao cấp:

Ưu thế nổi bật của loại hình cơ sở lưu trú du lịch này là:

- Chất lượng cao, khách được thực sự hoà mình vào thiên nhiên với tínhchất du lịch tích cực, hưởng trọn vẹn các dịch vụ của một kỳ nghỉ

- Lực lượng lao động được đào tạo bài bản, có tính chuyên môn hoá cao

Có các chuyên gia hướng dẫn khách trong các chương trình giải trí, thể thao

- Sản phẩm trọn gói do đó tận thu được khả năng tiêu dùng của khách Một số hạn chế của loại hình lưu trú này:

- Chi phí đầu tư, xây dựng cũng như tiến hành hoạt động kinh doanh, phục

vụ khá cao Khó khăn trong việc hạ giá thành và cạnh tranh với một số loạihình cơ sở lưu trú du lịch khác

- Chi phí kinh doanh thường không cao cho nên có thể hạ được giá thànhcác sản phẩm du lịch

- Đối tượng khách tương đối đa dạng

Một số hạn chế của loại hình cơ sở lưu trú này:

- Chất lượng chưa cao

- Lực lượng lao động hạn chế về tính chuyên môn hoá

4.4 Camping (Bãi cắm trại)

4.4.1 Khái niệm

Trong sự phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch, có thể nói lều trạicùng với nhà nghỉ, nhà trọ là một trong hai loại hình cơ sở lưu trú ra đời sớmnhất Thời kỳ xa xưa, trong những chuyến đi việc cắm trại là một cách lưu trúphổ biến, đặc biệt khi ở điểm đến chưa có hoặc không có những nhà trọ cho

Trang 25

khách thuê Cho đến thế kỷ 18,19 ở Châu Âu loại hình cơ sở lưu trú này vẫncon thịnh hành đặc biệt trong những lễ hội có số lượng khách thập phươngtham dự đông (có những khu đất riêng cho khách căm trại và hình thức nàyđến nay vẫn còn tồn tại)

Bãi cắm trại là loại hình cơ sở lưu trú du lịch được xây dựng trên một khu đất rộng gắn nơi có nguồn tài nguyên du lịch phục vụ khách cắm trại hoặc đỗ các caravan Nơi đây có thể có một số dịch vụ cơ bản nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách.

- Bãi cắm trại kinh doanh (bãi cắm trại du lịch): Là khu vực được xây dựng

và quy hoạch cho du khách thuê để cắm trại (vì mục đích kinh doanh), thường

có các công trình xây dựng đi kèm để đáp ứng một số nh cầu của khách dulịch, như khu vực đón tiếp, khu bán hàng, ăn uống, tắm giặt, thể thao, kinhdoanh dịch vụ bổ sung

4.4.3 Đặc điểm

a) Đặc điểm về vị trí và kiến trúc xây dựng

- Đa số các bãi cắm trại được quy hoạch ở những khu đất có cảnh quan đẹp( hoặc độc đáo) gần gũi với thiên nhiên như bờ biển, ven sông, rừng núi, thácnước thậm chí có những bãi cắm trại kinh doanh còn được xây dựng trênnhững sa mạc

- Đối với thể loại bãi cắm trại hoang dã và bãi cắm trại địa phương do tínhchất là khách thường không có chủ định từ trước trong việc lựa chọn nơi hạtrại nên vị trí của nó còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của chuyến du lịch vàđiểm đến du lịch Còn đối với thể loại bãi cắm trại kinh doanh người ta thườnglựa chọn những khu vực thích hợp cho việc cắm trại của du khách, đa số khuvực này có nhiều cây cối, có không gian rộng rãi, yên tĩnh không khí tronglành

Trang 26

- Trừ một số ít những lều trại cụ thể được dựng bằng lều (nếu có thì thường

có ở thể loại lều trại kinh doanh, ở đây người ta đã dựng sẵn những căn lềunhỏ cho khách thuê, nó gần như những bungalow nhưng tiện nghi cũng nhưxây dựng đơn giản hơn nhiều) còn đa số nơi ở cũng khách đó là những chiếctrại được dựng mới Việc dựng lều trại trong du lịch thường đơn giản vì người

ta có những mẫu trại có sẵn rất thuận tiện cho việc lắp ghép

b) Đặc điểm về vật chất kỹ thuật:

Ngoài phần thân lều trại đã được mô tả trên, trong lều trại của khách còn cóthể được trang bị một số trang thiết bị nhất định, đa số lều trại đều có bàn ghếnhỏ gọn, một số ít có giường ngủ còn đa số dùng túi ngủ thay thế Về đồ điệnmáy đối với thể loại lều trại hoang dã và lều trại địa phương nó phụ thuộc vàokhả năng vận chuyển mang theo các trang thiết bị của khách, còn với thể loạilều trại kinh doanh người ta cũng ít trang bị những đồ dùng này Vì thực tế ởlều trại là muốn tìm cảm giác gần gũi tự nhiên sơ khai, hơn nữa họ có nhữnghình thức giải trí khác (như đốt lửa trại, ca hát, nhảy múa, ăn uống) nên khôngcần nhiều điến đồ điện máy

Đối với thể loại lều trại kinh doanh về cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải kểđến những khu vực được xây dựng và phục vụ khách, như khu đón tiếp, lễ tân,nhà hàng, quán giải khát hay quán cà phê, khu vực kinh doanh dịch vụ bổsung, cửa hàng, khu vực cho thuê trang thiết bị, nhà làm việc, nhà kho, một sốmơi thậm chí còn có cả bể bơi, sân bóng chuyền, bóng đá

Đối với thể loại lều trại hoang dã và lều trại địa phương các trang thiết bịtuỳ thuộc vào khách, nếu khách đi du lịch bằng ô tô họ thường mang theonhiều trang thiết bị hơn, thậm chí nếu họ còn kéo theo carvan (chiếc thùng xenhỏ trong đó có những thiết bị nấu nướng, tắm giặt hoặc trang bị như mộtcabin nhỏ có giường ngủ) trang thiết bị của họ khá đầy đủ Còn nếu khách đi

du lịch bằng phương tiện khác như xe máy, xe đạp, đi bộ thông thường trangthiết bị của họ sẽ gọn nhẹ đến mức tối thiểu

Trang 27

d) Đặc điểm về đối tượng khách:

- Đa số khách ở độ tuổi thanh niên

- Thường đi du lịch theo đoàn, nhóm có từ 4 người trở lên hoặc đi theo giađình

- Phù hợp với những khách thường muốn tiết kiệm chi phí cho chuyến dulịch của mình

- Thích cảm giác gần gũi thiên nhiên cũng như thích có những sinh hoạt tậpthể vui vẻ

e)Tổ chức lao động:

Tổ chức lao động ở loại hình cơ sở lưu trú này rất đơn giản, số lượng laođộng ít, không đòi hỏi nhiều về chuyên môn như các loại hình cơ sở lưu trúkhác

4.4.4 Những ưu điểm và hạn chế

4.5 Tàu du lịch (Tourist Cruise)

4.5.1 Khái niệm

Tàu du lịch trong tiếng Anh có nghĩa là Cruise (có nghĩa là tàu thuỷ, đichơi trên biển bằng tàu thuỷ) đó là những tàu thuỷ chuyên vận chuyển kháchtrong hành trình dài ngày Do đó con tàu này còn được xem như một kháchsạn trên biển, trong tầu có đầy đủ nhà hàng, quán giải khát, phòng ngủ, bể bơi,nơi vui chơi giải trí cho khách Trong một số tài liệu về du lịch người ta còngọi lọai hình này là khách sạn nổ

Có thể đưa ra khái niệm tầu du lịch với ý nghĩa là một loại hình cơ sở lưu

trú du lịch như sau: Tàu du lịch là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch di động

đó là những chiếc tàu thuỷ khá lớn có các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.

4.5.2 Các thể loại

Căn cứ vào quy mô của tàu du lịch có thể chia ra các thể loại như: Tàu dulịch loại lớn, tàu du lịch loại trung bình và tàu du lịch loại nhỏ

Trang 28

Theo cách phân loại phổ biến trên thế giới người ta căn cứ vào chất lượngtrang thiết bị, dịch vụ cũng như giá cả dịch vụ trên tàu du lịch để chia ra cácloại sau:

- Tàu du lịch bình dân: Là những tàu du lịch có chất lượng, trang thiết bịtiện nghi trung bình, mức giá không cao

- Tàu du lịch tiêu chuẩn là những tàu dulịch có chất lượng, trang thiết bị tiên nghi khá cao

- Tàu du lịch hạng sang là những tàu du lịch có chất lương, trang thiết bịsang trọng, mức giá cao

Tàu du lịch hạng đặc biệt là những tàu du lịch có chất lượng, trang thiết bịđặc biệt, mức giá rất cao

4.5.3 Đặc điểm

a) Đặc điểm về vị trí:

Đây là đặc điểm khác biệt so với tất cả các loại hình cơ sở lưu trú mà chúng

ta đã xem xét, tàu dulịch không có vị trí cố định Nó thường có những bếncảng gốc rồi từ đó thực hiện chuyến đi của mình theo những lịch trình nhấtđịnh, nó thường ghé vào những cảng biển gần những điểm du lịch cho khách

cơ thể tham quan hoặc để lấy thêm nhiên liệu, thực phẩm

b) Đặc điểm về kiến trúc xây dựng:

Phần cơ bản của tàu du lịch chính là một thân tàu thuỷ, tất nhiên nó đượckiến trúc để phù hợp nhất với việc chuyên chở khách du lịch

Tàu du lịch thường có hình dáng đẹp đẽ, trang trí riêng biệt để hấp dẫn dukhách, Người a thường vận dụng những công nghệ tiên tiến nhất trong côngnghiệp đóng tàu để đóng những tàu du lịch như công nghệ giảm sóc, giảm lắc,công nghệ vật liệu có độ an toàn cao

c) Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật:

Thông thường trên tàu du lịch thường có nhiều tầng, có khu vực kỹ thuậtriêng và chiếm một tỷ trọng nhỏ, phần lớn là khu vực lưu trú của khách (thiết

kế thưo kiểu cabin) ngoài ra tuỳ theo quy mô của tàu nó còn có các nhà hàn,quán giải khát, bar, cafe, rạp chiếu bóng, sản nhảy các tàu du lịch ngày nayđều có bể bơi, sân tennis và thường được xây dựng trên sân thượng của tàu

Có thể cơ sở vật chất kỹ thuật cảu tàu du lịch thành các nhóm:

- Cơ sở vật chất kỹ thuật thân tàu thuỷ: đó là phần cơ bản để tàu du lịch cóthể vận hành trên biển như: thân tàu, vở tàu, hệ thống động cơ, hệ thống điều

Trang 29

khiển, vận hành, hầm chứa nhiên liệu, nơi ở cảu thuỷ thủ đoàn, hệ thống cứuhộ.

- Cơ sở vật chất kỹ thuật trong các dịch vụ phục vụ khách du lịch trongnhóm cơ sở vật chất kỹ thuật này còn có thể chia nhỏ thành các loại cụ thểkhác:

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật trong các dịch vụ phục vụ khách: như các trangthiết bị trong các nhà hàng, bar, cafe, rạp chiếu bóng, sàn nhảy, sòng bạc thậm chí một số tàu du lịch loại lớn còn có cả sân tennis

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật trong buồng ngủ của khách: gọi là buồng ngủnhưng trong thực tế trên tàu dulịch chỉ có một số ít đạt tiêu chuẩn (về mặt diệntích) tương đương với khách sạn hạng sang, còn đa số buồng ngủ của khách làcác khoang (cabin) có diện tích nhỏ hoặc trung bình Trang thiết bị trongbuồng ngủ của khách trên tàu du lịch rất đầy đủ, nhưng thường được bố trítheo cách tiết kiệm diện tích (chẳng hạn như tủ, hay ti vi gắn trên giường)d) Đặc điểm về sản phẩm:

Ngoài dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, trên tàu dulịch có nhiều dịch vụ bổsung khác như giặt là, vui chơi, giải trí chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ thể thao

- Sản phẩm của tàu du lịch phong phú, đa dạng, chất lượng cao

- Sản phẩm của tàu du lịch phong phú đa dạng, chất lượng cao

- Sản phẩm được bán trọn gói bao gồm: dịch vụ lưu trú, ăn uống, thamquan và một số dịch vụ bổ sung cơ bản

- Thường đi tham quan được nhiều nơi, nhiều nước, tham quan nhiều điểm

du lịch nổi tiếng trong một chuyến đi và khi tham quan các điểm du lịch ở đấtliền (thuộc quốc gia khác) thường áp dụng hình thức quá cảnh đối với khách(khách không cần visa, hộ chiếu và đi tham quan theo đoàn trong một khoảngthời gian nhất định)

- Giá của các chuyến đi trên tàu du lịch khá cao (theo thống kê của hiệp hộicác hãng tàu biển quốc tế LIA là 1.300 USD/ hành khách 1 chuyến đi)

e) Đặc điểm về đối tượng khách

- Khách là người có khả năng thanh toán cao

- Tỷ trọng cao nhất là ở lứa tuổi trung niên

- Có thời gian rỗi, dài

- Đáp ững được nhu cầu của những đối tượng khách du lịch yêu khungcảnh thiên nhiên, thích đi được nhiều điểm du lịch trong hành trình của mình.g) Đặc điểm về tổ chức lao động

Trang 30

- Số lượng nhân viên trên tàu thường lớn, trung bình 1 nhân viên phụcvụ/ 2 khách

- Tổ chức lao động thường chia thành hai nhóm, một nhóm chuyên vẽ kỹthuật tàu biển (như hoa tiêu, thuỷ thủ, thợ điện)

- Tính chuyên môn hoá cao, riêng nhóm chuyên về phục vụ khách cũngthường có đầy đủ các bộ phận như trong một khách sạn (bộ phận lễ tân, nhàhàng, bar, bộ phận hỗ trợ phục vụ, bếp, bộ phận kinh doanh dịch vụ bổ sung )

- Thông thường thuyển trưởng là người lãnh đạo đội ngũ lao động trên tàu

kể cả nhóm kỹ thuật và nhóm phục vụ khách (trong một số trường hợp có thể

có giám đốc riêng chuyên về phục vụ)

4.5.4 Những ưu điểm và hạn chế

a) Ưu điểm

- Dịch vụ khá phong phú đa dạng với chất lượng cao

- Tham quan được nhiều nơi, nhiều nước trong một chuyến đi

- Gần gũi với thiên nhiên, trong lành, tạo được cảm giác mới và ấn tượngđặc biệt đối với du khách

b) Hạn chế

- Mức giá khá cao

- Chỉ thích hợp với khách có quỹ thời gian dỗi dài, không thích hợp vớingười có thời gian ít

- Hạn chế trong việc lựa chọn dịch vụ (chỉ có thể tiêu dùng các dịch vụ trêncon tàu du lịch mà mình đã lựa chọn)

- Khó thay đổi lịch trình, không tham quan được những điểm du lịch ở sâutrong đất liền

4.6 Bungalow

4.6.1 Khái niệm

Bungalow là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch thường có kiến trúc theo kiểu một căn nhà riêng biệt- khép kín mang tính giải trí, thẩm mỹ cao, có thể được bố trí tách biệt hoặc quy tụ theo những quần thể nhất định

4.6.2 Phân loại

- Căn cứ vào việc bố trí bungalow có thể chia thành 2 thể loại sau :

+ Bungalow độc lập, chỉ có một bungalow riêng biệt

+ Bungalow quần thể, gồm nhiều bungalow bố trí liên kết với nhau

- Căn cứ vào đặc điểm kiến trúc và xây dựng :

Trang 31

+ Bungalow địa phương : là thể loại bungalow có kiến trúc mang đậm vănhóa của địa phương.

+ Bungalow hoang dã : Là thể loại bungalow rất gần gũi với thiên nhiên, cókiến trúc đơn giản nhưng đặc sắc, thường xây dựng bằng vật liệu đơn giản nhưgỗ, nứa thường là những nơi có phong cảnh đẹp, hoang dã

+ Bungalow độc đáo : là thể loại bungalow có kiến trúc rất độc đáo, thường

ở những nơi rất đặc biệt như bãi biển, trong rừng

4.6.3 Đặc điểm

a) Đặc điểm về vị trí và kiến trúc

- Nhóm thứ nhất là các bungalow có kiến trúc mang đậm văn hóa địaphương, thường xây dựng bằng những vật liệu tự nhiên sẵn có trong vùng

- Nhóm thứ 2 bao gồm các bungalow có những kiến trúc hết sức độc đáođược xây dựng tùy theo trí tưởng tượng của con người

- Nhóm thứ 3 là các Bunalow hoang dã thường có kiến trúc đơn giản, độcđáo thường xây bằng những vật liêu như gỗ, nứa

b) Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật

- Đối với Bungalow hoang dã thường được trang bị giường, tủ, bàn ghế rấtđơn giản ( phù hợp với kiến trúc )

- Đối với Bungalow địa phương, hoặc Bungalow độc đáo nhiều trường hợp

để đáp ứng nhu cầu kích thích cảm giác mạnh của khách, nhiều cơ sở đã cócác trang thiết bị riêng

c) Đặc điểm về sản phẩm

- Đối với những Bungalow nằm độc lập thường chủ yếu đáp ứng chokhách về dịch vụ lưu trú, các dịch vụ khác thường rất ít, chủ yếu là dịch vụthông tin liên lạc, hướng dẫn tham quan

- Đối với những Bungalow bố trí theo kiểu quần thể đây là loại hình cácnhiều đặc điểm tương tự như làng du lịch Tùy thuộc vào số lượng Bungalowtrong các quần thể này mà chúng có thể có những khu vực sinh hoạt chungd) Đặc điểm về đối tượng khách

- Những người thích cảm giác lạ

- Du khách ở độ tuổi thanh niên thường chiếm tỷ trọng cao, khách thường

đi theo kiểu gia đình

- Thời gian lưu trú thường không quá dài

e) Đặc điểm về tổ chức lao động

Trang 32

- Việc tổ chức lao động trong các Bungalow thường rất gọn nhẹ Đa số cácBungalow bố trí theo kiểu quần thể có bộ phận đón tiếp, bộ phận phục vụ và

bộ phận bảo vệ, bảo dưỡng

4.6.4 Những ưu và hạn chế

a) Ưu thế

- Giá rẻ hơn so với nhiều loại hình cơ sở lưu trú du lịch khác

- Tổ chức lao động đơn giản, dịch vụ ít do đó tiết kiệm được chi phí kinhdoanh

đó, còn có nhiều hạng phòng khác nhau trong một Hostel để khách có thể chọnlựa như phòng bốn giường, phòng sáu giường hay loại phòng mười giường

Ngày đăng: 22/11/2022, 16:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w