i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ o0o KHUẤT THỊ THANH HƢƠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY VẬN CHUYỂN VÀ KHO VẬN BƢU ĐIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
KHUẤT THỊ THANH HƯƠNG
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY VẬN CHUYỂN VÀ KHO VẬN BƯU ĐIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
KHUẤT THỊ THANH HƯƠNG
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY VẬN
CHUYỂN VÀ KHO VẬN BƯU ĐIỆN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý tài chính tại Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Khuất Thị Thanh Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia
Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báo làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hoàng Việt, người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tôi có thể hoàn tất luận văn cao học này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, động viên quý báu của gia đình, bạn
bè và đồng nghiệp để tôi có thể thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn Thạc sỹ với kết quả tốt nhất
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Khuất Thị Thanh Hương
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ
1.3 Khái niệm và phân định nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp 15
1.3.1 Khái niệm và vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp 15 1.3.2 Nội dung quản lý tài chính trong doanh nghiệp 18 1.3.3 Quy trình quản lý tài chính trong doanh nghiệp 20
1.3.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn 44 1.3.8 Phân phối lợi nhuận và thực hiện trích lập 48 1.3.9 Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiêp 57
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 70
2.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích tài liệu 70
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY VẬN CHUYỂN
3.1 Khái quát về Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện 73
3.1.3 Chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực kinh doanh 77
3.2 Phân tích thực trạng quản lý tài chính của Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu
3.2.2 Thực trạng công tác hoạch định kế hoạch tài chính của Công ty vận
3.2.4 Thực trạng kiểm tra tài chính của Công ty Vận chuyển và Kho vận
3.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý tài chính của Công ty vận chuyển và
Trang 7Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
4.1 Định hướng phát triển và một số mục tiêu kinh doanh của Công ty Vận chuyển
4.1.1 Định hướng phát triển của Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện đến năm
4.1.2 Một số mục tiêu kinh doanh của Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện
4.2 Định hướng phát triển kinh doanh và mục tiêu quản lý tài chính của Công ty
4.2.1 Định hướng phát triển kinh doanh và lộ trình tham gia cung ứng dịch vụ
4.2.2 Một số mục tiêu quản lý tài chính của Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu
4.3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Vận chuyển và Kho
4.3.2 Hoàn thiện tổ chức hoạch định và thực thi kế hoạch tài chính 120 4.3.3 Hoàn thiện kiểm tra, kiểm soát tài chính 120 4.3.4 Hoàn thiện tổ chức bộ quản lý tài chính 121
4.3.6 Đề xuất được Tổng Công ty trao quyền tự chủ về tài chính 123
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
17 VNPT Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch từ năm 2014-2016 81
Bảng 2.2: Tổng nguồn vốn của công ty 83
Bảng 2.3: Tổng luân chuyển thuần của công ty 83
Bảng 2.4: Lợi nhuận sau thuế của công ty 83
Bảng 2.5: Dòng tiền thu vào trong kỳ của công ty 84
Bảng 2.6: Hệ số tự tài trợ của công ty 84
Bảng 2.7: Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn của công ty 85
Bảng 2.8: Hệ số đầu tƣ dài hạn của công ty 85
Bảng 2.9: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát của công ty 85
Bảng 2.10: Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của công ty 86
Bảng 2.11: Hệ số lợi nhuận ròng của tài sản của công ty 86
Bảng 2.12: Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của công ty 87
Bảng 3.1: Bảng phân tích tình hình huy động vốn 113
Bảng 3.2: Bảng phân tích tình hình sử dụng vốn 117
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 2.1: Mô hình tổ chức của Công ty và các Trung tâm 79
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản trị tài chính là hoạt động chi phối tới hầu hết các hoạt động khác của
DN Quyết định quản trị tài chính đúng sẽ mang lại sự thành công của từng bộ phận
DN, sự hiệu quả và thắng lợi của kế hoạch kinh doanh và quyết định tài chính tốt có thể hỗ trợ và bù đắp những điểm yếu của những hoạt động khác, ngược lại, quyết định tài chính sai lầm sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của DN, thậm chí đưa DN đến phá sản, tan rã
Trong các hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, quản lý tài chính tại các DNNN luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của DNNN trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.Quản trị tài chính DN hiện nay đang là một khoảng trống đối với nhiều DN, ở đó không có hệ thống quản trị tài chính, quản trị tài chính được kiêm nhiệm vì thế không phát huy được vai trò quan trọng của nó Với những chức năng cơ bản: Dự báo tài chính, huy động vốn, quản lý sử dụng vốn hiệu quả, giám sát kiểm tra mọi hoạt động sử dụng tài chính của DN, bộ phận quản trị tài chính sẽ giúp cho DN ổn định và tự chủ về vấn đề tài chính, từ đó góp phần tạo nên thành công cho DN
Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện là đơn vị thành viên của Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (viết tắt là VNPost) VNPost chính thức tách ra hoạt động độc lập tách khỏi Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (viết tắt là VNPT) từ ngày 01/01/2008 Công tác quản lý tài chính cơ bản vẫn dựa trên nền tảng quản lý tài chính của VNPT trước đây Từ năm 2008 đến hết năm 2013, VNPost được nhận trợ cấp bằng tiền từ Nhà nước để hỗ trợ cho nhiệm vụ công ích
mà VNPost đảm nhận Từ năm 2014 trở đi, Nhà nước sẽ chấm dứt hỗ trợ bằng tiền cho VNPost và thay vào đó là hỗ trợ về các cơ chế để VNPost hoạt động kinh doanh hiệu quả, bù đắp cho hoạt động công ích và kinh doanh có lãi Chính sự thay đổi về
cơ cấu tổ chức, cơ cấu nguồn vốn đòi hỏi việc tăng cường, đổi mới cơ chế quản lý
Trang 11tài chính là vấn đề cấp thiết đối với VNPost Với yêu cầu quản lý ngày càng cao của hoạt động sản xuất kinh doanh, với đặc thù dịch vụ khác biệt với dịch vụ của VNPT đòi hỏi công tác quản lý tài chính cần phải có những nghiên cứu đánh giá và có những biện pháp hoàn thiện Hơn nữa, những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của VNPT nói chung và của VNPost nói riêng, tạo ra áp lực rất lớn đòi hỏi VNPost phải nâng cao sức cạnh tranh, chủ động trong hội nhập quốc tế, trong đó việc tăng cường quản lý tài chính là một trong những nội dung quan trọng cần phải đi trước một bước
Xuất phát từ những nhận định trên và nhằm đánh giá tầm quan trọng của hoạt động quản trị tài chính DN, cơ cấu và chức năng của bộ phận quản trị tài chính, thực trạng quản trị tài chính tại Công ty mà tác giả đang tham gia làm việc trong bộ phận tài chính - kế toán, từ đó có những đề xuất, giải pháp nhằm giúp cho Lãnh đạo nắm rõ hơn thực trạng quản trị tài chính của Công ty mình, những điểm mạnh, điểm yếu và giải pháp để hoàn thiện hơn công tác quản trị tài chính của Công
ty, tác giả chọn đề tài: Quản lý tài chính tại Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý Kinh tế của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu những vấn đề lý luận về QLTC tại DN;
phân tích, đánh giá thực trạng QLTC tại Công ty, những bất cập về QLTC, về cơ chế tài chính, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLTC tại Công ty
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về quản lý tài chính của DN
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Công tyVận chuyển và Kho vận Bưu điện với yêu cầu hiện tại cũng như những đòi hỏi của hội nhập và sự phát triển trong tương lai Làm rõ những bất cập về quản lý tài chính, về cơ chế tài chính chỉ ra nguyên nhân của những bất cập đó
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện cho giai đoạn 2016 - 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 12- Đối tượng nghiên cứu là công tác QLTC của Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện Việt Nam theo cách tiếp cận khoa học quản lý kinh tế Nghiên cứu QLTC gắn với chiến lược, mục tiêu phát triển của Công ty; gắn với công cụ, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước và của ngành bưu điện, của Công ty
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác QLTC tại Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện Việt Nam
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác QLTC tại Công ty Vận
chuyển và Kho vận Bưu điện Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2015 và giải pháp có hiệu lực đến 2020
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về quản lý tài chính trong doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty Vận chuyển và Kho vận
Bưu điện
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Vận
chuyển và Kho vận Bưu điện
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về công tác quản lý tài chính DN nói chung và tại các tổng công
ty nhà nước, đặc biệt là Tổng công ty làm nhiệm vụ công ích và đang trong giai đoạn phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong điều kiện không còn trợ cấp của Nhà nước, thực sự chưa có nhiều đề tài nào đề cập sâu vấn đề này Qua quá trình tìm hiểu, tham khảo các tài liệu và nghiên cứu một số đề tài có liên quan, tôi xin được tóm tắt một số tài liệu như sau:
Cuốn sách Quản trị tài chính của hai tác giả Nguyễn Thanh Liêm và Nguyễn
Thị Mỹ Hương, Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng, 2008 đã chỉ ra những kiến thức
cơ bản về quản trị tài chính trong điều kiện của nền kinh tế Việt Nam Trên quan điểm coi việc làm gia tăng giá trị cho DN là mục tiêu cơ bản của nhà quản trị tài chính, tài liệu này tập trung xem xét các quyết định khai thác và đầu tư vốn ngắn hạn, dài hạn của các nhà quản trị tài chính trên hai khía cạnh khả năng sinh lời và rủi ro
Cuốn sách Tài chính doanh nghiệp - Lý thuyết và thực hành quản lý ứng dụng cho các công ty Việt Nam của tác giả Nguyễn Minh Kiều, Nxb Thống kê, 2010; Tập bài giảng Quản trị tài chính doanh nghiệp của Trần Đức Vui, Nguyễn
Thế Hùng Các tác giả đã nghiên cứu tổng quan về các lý thuyết quản trị tài chính
DN, đã chắt lọc những khái niệm và lý thuyết về quản trị tài chính DN của các tác giả nước ngoài để ứng dụng một cách phù hợp vào các DN Việt Nam
Đề tài khoa học cấp Bộ Xây dựng cơ chế tự chủ tài chính để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2004, nhằm mục
đích đưa ra được cơ chế tự chủ về tài chính có tính khả thi của Viện Khoa học Lao động và Xã hội trên cơ sở thực hiện Nghị định số 10/2002/NQQ-CP ngày 16-1-2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Nghiên cứu
Trang 14đã phân tích thực trạng nguồn tài chính và nội dung chi của Viện Khoa học Lao động
và Xã hội giai đoạn 2001-2003 Trong đó, nguồn thu ngân sách nhà nước tăng qua các năm, từ 1.189 triệu đồng năm 2001 lên 2.227 triệu đồng năm 2003 (tăng khoảng 1,87 lần so với năm 2001); nguồn thu sự nghiệp từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học với các tổ chức trong và ngoài nước tăng không ổn định, từ 540,7 triệu đồng năm
2001 tăng lên 3.762,3 triệu đồng năm 2002 và giảm xuống 1.712,9 triệu đồng năm
2003 Bên cạnh đó, các khoản chi hoạt động thường xuyên có xu hướng tăng từ 958,1 triệu đồng năm 2001 lên 996,0 triệu đồng năm 2002 và 1.308,0 triệu đồng năm 2003
Nhìn chung, so với yêu cầu của cơ chế tự chủ tài chính, cơ chế tổ chức hiện tại của Viện cần phải điều chỉnh cho phù hợp với quy định
Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam của
tác giả Ngô Trí Tuệ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2004 Từ những phân tích thực trạng tình hình kiểm soát nội bộ, tác giả đề xuất các giải pháp đặc thù xây dựng
hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Tổng Công ty Có
thể áp dụng trong xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
Đề tài nghiên cứu khoa học Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam của tác giả Lưu Thị Hương, Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, 2004 Từ những vấn đề lý luận chung về quản lý tài chính, đề tài tập trung phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong các DN tư nhân ở nước
ta Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các DN tư nhân ở nước ta trong thời kỳ hội nhập
Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Công ty Truyền tải điện 4 của tác giả Dương Thị Mỹ Lâm Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh,
2007 đã khái quát được mô hình quản lý tài chính của DN hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Đây cũng chính là loại hình DN của các bưu điện tỉnh nên Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện có thể áp dụng
Luận án tiến sĩ Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam của tác giả Trần Thị Minh Hương, Đại học Kinh tế
quốc dân Hà Nội, 2008 đã tổng hợp và hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong ngành dịch vụ, phát triển lý thuyết phân tích
Trang 15tài chính trong nền kinh tế thị trường, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phù hợp cũng như các điều kiện cơ bản để áp dụng hệ thống này tại các loại hình
Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Ngọc, Đại học Thủy lợi, 2009 trên cơ sở
thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5-9-2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nghiên cứu đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập; phân tích thực trạng tình hình tài chính của Viện giai đoạn 2006-2008; từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Nghiên cứu cũng đưa ra kết quả về mức bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của Viện qua các năm; cụ thể là tăng từ 48,41% năm 2006 lên 49,04% năm 2007 và 51,15% năm 2008 Như vậy, đơn vị được đánh giá là tổ chức khoa học và công nghệ tự bảo đảm được một phần chi phí hoạt động thường xuyên
Luận văn thạc sĩ Cải tiến hoạt động phân tích tài chính ở doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trên địa bàn Hà Nội của tác giả Nguyễn Đức Trí, Học viện
Ngân hàng, 2010 đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về hoạt động phân tích tài chính trong công ty cổ phần Nghiên cứu thực trạng hoạt động phân tích tài chính trong các DNNN sau cổ phần hoá trên địa bàn Hà Nội thông qua việc phân tích khái quát tình hình tài chính; phân tích khái quát sự biến động của tài sản và nguồn vốn;
phân tích các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn; phân tích các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất đầu tư; phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán; phân tích khả năng sinh lợi; phân tích tình hình tăng, giảm tài sản cố định Từ đó đưa ra một số giải
Trang 16pháp cải tiến hoạt động phân tích tài chính ở DNNN sau cổ phần hoá trên địa bàn
Hà Nội: hoàn thiện phương pháp và tổ chức phân tích tài chính; tăng cường thông tin phục vụ phân tích tài chính; xây dựng và hoàn thiện các chỉ tiêu phân tích tài chính DN cổ phần
Luận văn thạc sĩ Quản trị rủi ro thanh khoản tại Công ty tài chính cổ phần Hadico của tác giả Nguyễn Hương Dung, Học viện Tài chính, 2012 đã nêu được
tổng quan về khái niệm, hoạt động của công ty tài chính, rủi ro thanh khoản và công tác quản trị rủi ro thanh khoản Phân tích nguyên nhân cũng như những yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản trị thanh khoản và bài học có được từ các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam Đánh giá thực trạng hoạt động của công tác quản trị thanh khoản ở công ty tài chính cổ phần Handico Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro thanh khoản tại Công ty tài chính cổ phần Handico
Có thể vận dụng trong quản lý rủi ro thanh khoản tại Công ty Vận chuyển và Kho Vận Bưu điện
Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Bưu điện tỉnh Lâm Đồng của tác giả Vũ Xuân Việt, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2012 phân tích, đánh giá công tác quản lý tài chính tại Bưu điện tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại Bưu điện tỉnh Lâm Đồng Luận văn chỉ ra được kết quả đạt được và những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại hạn chế, từ đó đưa ra quan điểm, giải pháp: Nâng cao hiệu quả công tác kế hoạch, Tăng cường công tác quản lý chi phí, Chú trọng vai trò của kế toán, Công tác kiểm tra, kiểm soát thu, chi, Mở rộng thị trường, tận dụng tiềm năng, thương hiệu để phát triển dịch vụ, tăng nguồn thu của Bưu điện tỉnh, Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản, Tách biệt chức năng tài chính và kế toán, Tăng cường công tác phân tích tình hình tài chính hoàn thiện công tác quản lý tài chính Bưu điện Lâm Đồng
Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trường cao đẳng Tài chính Quản trị kinh doanh của tác giả Quản Thị Thu Huyền, Học viện Tài chính,
2012 Trên cơ sở thực hiện Nghị định số 43/2006/NQQ-CP ngày 25-4-2006 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, nghiên cứu đã
Trang 17hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập; phân tích thực trạng tình hình tài chính của Trường
và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị tăng từ 73,63% năm 2009 lên 79,31% năm 2010 và 85,57% năm 2011
Luận văn thạc sĩ Xây dựng cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam của tác giả Trần Thị Huyền, Trường Đại học Kinh tế, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2013 Luận văn nghiên cứu về cơ sở lý luận của công tác quản lý tài chính và xây dựng khung phân tích áp dụng cho các DN áp dụng mô hình công
ty mẹ - công ty con Phân tích thực trạng và đánh giá về công tác quản lý tài chính tại Tổng công ty xây dựng Thăng Long Xác định được các hạn chế và những khó khăn trong công tác này và đề xuất các giải pháp thực tế nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính tại công ty Các giải pháp tác giả đề xuất gồm: Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo mô hình mẹ - con, Hoạt động tài trợ, Quản lý đầu tư, Nâng cao năng lực quản lý vốn lưu động, Tăng cường khả năng kiểm soát tài chính nội bộ
Các tài liệu trên đa phần nghiên cứu ở góc độ vĩ mô về nguyên lý quản lý tài chính DN và nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong công ty tài chính, trong công ty cổ phần Đối với Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam, bên cạnh việc phục vụ phát triển kinh doanh của Tổng công ty, thực hiện nhiệm vụ là đơn vị hậu cần cho kinh doanh tại các Bưu điện tỉnh/thành phố, các đơn vị chuyển phát trong và ngoài nước, còn đảm đương nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ bưu chính công ích cũng như dịch vụ công ích khác theo yêu cầu của Nhà nước thì trong phạm
vi tìm hiểu của tôi chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý tài chính tại Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện Vì vậy, đề tài của tôi đi sâu nghiên cứu về hiện trạng công tác quản lý tài chính tại một đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tổng Công
ty Bưu điện Việt Nam (DN 100% vốn Nhà nước), những ưu - nhược điểm từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính đối với Công ty Vận chuyển và Kho vận Bưu điện giai đoạn 2015-2020
Trang 181.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Tài chính doanh nghiệp
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các DN phải có vốn tiền tệ ban đầu để xây dựng, mua sắm các tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, trả lương, khen thưởng, cải tiến kỹ thuật,…Việc chi dùng thường xuyên vốn tiền tệ đòi hỏi phải có các khoản thu để bù đắp tạo nên quá trình luân chuyển vốn Như vậy trong quá trình luân chuyển vốn tiền tệ đó phát sinh các mối quan hệ kinh tế Những quan hệ kinh
tế đó bao gồm:
Những quan hệ kinh tế giữa DN với nhà nước: Tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (nộp thuế cho ngân sách nhà nước) Ngân sách nhà nước cấp vốn cho DNNN và có thể cấp vốn với công ty liên doanh hoặc cổ phần (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tuỳ theo mục đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyết định tỷ lệ góp vốn, cho vay nhiều hay ít
Quan hệ giữa DN với các chủ thể kinh tế khác: Từ sự đa dạng hoá hình thức
sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa DN với các DN khác (DN cổ phần hay tư nhân); giữa DN với các nhà đầu tư, ngườicho vay, với người bán hàng, người mua thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữa các DN bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hoá, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu; giữa DN với ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình
DN vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Quan hệ trong nội bộ DN : Gồm quan hệ kinh tế giữa DN với các phòng ban, phân xưởng và tổ đội sản xuất trong việc nhận và thanh toán tạm ứng, thanh toán tài sản
Quan hệ kinh tế giữa DN với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là các quan hệ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ DN là một đơn vị kinh
tế độc lập, là chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét mối liên hệ
Trang 19giữa tài chính DN với các khâu khác trong hệ thống tài chính nước ta Như vậy có
thể hiểu: “Tài chính DN là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” (Nguyễn Tấn Bình, 2015, trang 35).
Tài chính DN có 2 chức năng cơ bản:
Chức năng phân phối: Đối với mỗi DN thì vấn đề tài chính là vô cùng quan trọng Để quá trình sản xuất kinh doanh có thể diễn ra thì vốn của DN phải được phân phối cho các mục đích khác nhau và các mục đích này đều hướng tới một mục tiêu chung của DN Quá trình phân phối vốn cho các mục đích đó được thể hiện theo các tiêu chuẩn và định mức được xây dựng dựa trên các mối quan hệ kinh tế của DN với môi trường kinh doanh Tiêu chuẩn và định mức phân phối đó không phải cố định trong suốt quá trình phát triển của DN mà nó thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình từng giai đoạn hoạt động của DN (Nguyễn Tấn Bình, 2015)
Chức năng giám đốc: Bên cạnh chức năng phân phối thì tài chính DN còn có chức năng giám đốc bằng tiền Chức năng này không thể tách khỏi chức năng phân phối, nó giúp cho chức năng phân phối diễn ra có hiệu quả nhất Kết quả của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đều được thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính như thu, chi, lãi, lỗ,… Các chỉ tiêu tài chính này tự thân nó đã phản ánh được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của DN và còn giúp các nhà quản lý đánh giá được mức độ hợp lý và hiệu quả của quá trình phân phối, để từ đó có thể tìm ra được phương hướng và biện pháp điều chỉnh để đạt được hiệu quả cao hơn trong kỳ kinh doanh tiếp theo (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính DN có mối quan hệ mật thiết với nhau Chức năng phân phối là tiền đề của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó xảy ra trước và sau một chu trình sản xuất kinh doanh Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát chức năng phân phối, ở đâu có sự phân phối thì ở đó có giám đốc bằng tiền và có tác dụng điều chỉnh quá trình phân phối cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của DN Hai chức năng này cùng tồn tại
Trang 20và hỗ trợ cho nhau để hoạt động tài chính DN diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất (Nguyễn Tấn Bình, 2015)
1.2.2 Tài sản của doanh nghiệp
Tài sản của DN được hiểu là các nguồn lực do DN kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản
là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của DN hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà DN phải chi ra Lợi ích kinh tế trong tương lai của một
tài sản được thực hiện trong các trường hợp như:
+ Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản
xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng
+ Để bán hoặc trao đổi với các tài sản khác
+ Để thanh toán các khoản nợ phải trả
+ Để phân phối cho các chủ sở hữu DN
Tài sản của DN được biểu hiện dưới hình thái vật chất như tiền, hàng tồn kho, nhà xưởng, máy móc, thiết bị,… hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế… nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai
và thuộc quyền kiểm soát của DN Tài sản của DN còn bao gồm các loại tài sản không thuộc quyền sở hữu của DN nhưng DN kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính; hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của DN và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thoả mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết
đó còn giữ được bí mật và DN còn thu được lợi ích kinh tế (Nguyễn Trọng Cơ &
Nghiêm Thị Thà, 2009)
Tài sản của DN được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản Thông thường, khi các khoản chi phí phát sinh sẽ tạo ra tài sản Đối với các khoản chi phí không tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai thì không tạo ra tài sản; hoặc có trường hợp không phát sinh chi phí nhưng vẫn tạo ra tài sản, như nhận vốn góp liên doanh, tài sản được cấp, được biếu tặng (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
Trang 211.2.3 Vốn của doanh nghiệp
Vốn là biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình và vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm muc đích sinh lời của DN Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được hiểu và quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của DN Khái niệm này không những cho thấy vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với các DN sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn trong DN, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục trong suốt thời gian tồn tại của DN (Nguyễn Minh Kiều, 2010) Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Có vốn các DN có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai Các đặc trưng cơ bản của vốn là:
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định Có nghĩa là vốn phải được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của DN
- Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh
- Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mới có khả năng phát huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh
- Vốn có giá trị về mặt thời gian Điều này có thể có vai trò quan trọng khi
bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra để đầu tư khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận
- Vốn được quan niệm như một hàng hoá và có thể được coi là hàng hoá đặc biệt vì nó có khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường vốn, trên thị trường tài chính
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền hay các giá trị hiện vật (tài sản cố định của DN: máy móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt động quản lý ) của các tài sản hữu hình (các bí quyết trong kinh doanh, các phát minh sáng chế, )
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi DN đều có một phương thức và hình thức kinh doanh khác nhau Nhưng mục tiêu của họ vẫn là tạo ra được lợi nhuận cho mình Nhưng điều đó chỉ đạt được khi vốn của DN được quản lý và sử dụng một cách hợp lý (Nguyễn Minh Kiều, 2010) Vốn được phân ra và sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình DN Có thể phân loại vốn trong DN như sau:
Trang 22Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
Một là, Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp
vốn liên doanh, liên kết và thông qua đó DN không phải cam kết thanh toán Do vậy
vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ Vốn chủ sở hữu bao gồm:
- Vốn pháp định: là số vốn tối thiểu mà DN phải có khi muốn hình thành DN và
số vốn này được Nhà nước quy định tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của DN
Đối với DNNN, số vốn này được ngân sách nhà nước cấp (Nguyễn Minh Kiều, 2010)
- Vốn tự bổ sung: Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận lưu trữ) và các khoản trích hàng năm của DN như các quỹ xí nghiệp (quỹ
phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển,…)
- Vốn chủ sở hữu khác:là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, được ngân sách cấp kinh phí, các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản
Hai là, Vốn huy động của DN bao gồm:
- Vốn vay: DN có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm nguồn vốn
- Vốn liên doanh liên kết: DN có thể kinh doanh liên kết, hợp tác với các DN khác nhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm điều này cũng có nghĩa là uy tín của công ty sẽ được thị trường chấp nhận DN cũng có thể tiếp nhận máy móc và thiết bị nếu như trong hợp đồng liên doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình thức này (Ngô Thế Chi & Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
- Vốn tín dụng thương mại: là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà DN tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn gắn với một lượng hàng hoá cụ thể, gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của hệ thống thanh toán, của chính sách tín dụng khác hàng mà DN được hưởng Tuy nhiên, khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu
DN biết quản lý một cách có hiệu quả thì nó sẽ góp phần rất lớn vào nhu cầu vốn lưu động của DN (Nguyễn Minh Kiều, 2010)
Trang 23- Vốn tín dụng thuê mua: Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phương thức giúp cho các DN thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính:
+ Thuê vận hành: Phương thức thuê vận hành (thuê hoạt động) là phương thức thuê ngắn hạn tài sản
+ Thuê tài chính: là một phương thức tài trợ tín dụng thương mại trung hạn
và dài hạn theo hợp đồng Ngoài khoản tiền thuê tài sản phải trả cho bên thuê, các loại chi phí bảo dưỡng vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản, cũng như các rủi ro khác đối với tài sản do bên thuê phải chịu cũng tương tự như tài sản của công ty (Nguyễn Minh Kiều, 2010)
Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển: thì vốn được chia thành 2 loại:
- Vốn cố định: Việc đầu tư thành lập DN bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như: Xây dựng nhà phân xưởng, nhà làm việc và nhà quản lý, lắp đặt hệ thống máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm, DN chỉ có thể đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh khi mà nó đã hoàn thành các công đoạn trên Lúc này vốn đầu tư đã được chuyển sang vốn cố định của DN Như vậy, vốn đầu tư của DN là một bộ phận vốn đầu tư ứng trước của tài sản của DN; đặc điểm của nó được luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN và một vòng tuần hoàn của tài sản
cố định chỉ kết thúc khi mà nó hết thời hạn sử dụng đồng thời nó sẽ mang lại một phần lợi nhuận nhất định cho DN Việc đầu tư để mang lại lợi nhuận cho DN phần nào phụ thuộc vào quyết định đầu tư của DN, đồng nó cũng mang lại một thế mạnh cho sản phẩm của DN trên thị trường (Ngô Thế Chi & Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
- Vốn lưu động: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động và cố định luôn song hành trong cả qúa trình sản xuất kinh doanh của DN Có rất nhiều hình thái mà vốn lưu động có thể chuyển đổi như: T - H - T’, H - T - H’ Tức là nó được chuyển hoá từ tiền sang hàng hoá sau đó nó trở về trạng thái ban đầu sau khi
đã phát triển được một vòng tuần hoàn và qua đó nó sẽ mang lại cho DN số lãi hay không có lời thì điều này còn phụ thuộc vào sự quyết đoán trong kinh doanh của chủ DN Vậy thì, vốn của DN có thể hiểu là số tiền ứng trước về tài sản lưu động của DN nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn Vậy
Trang 24vốn cần được quản lý và sử dụng tốt điều này sẽ mang lại cho DN nhiều điều kiện trên thị trường Một DN được đánh giá là quản lý vốn lưu động tốt, có hiệu quả khi
mà DN biết phân phối vốn một cách hợp lý cho các quyết định đầu tư của mình và qua đó thì nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho DN
Căn cứ vào vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động bao gồm:
+ Vốn lưu động trong khâu sản xuất là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, bán thành phẩm tự gia công chế biến (Ngô Thế Chi & Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
+ Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị dùng cho hoạt động sản xuất
+ Vốn lưu động dùng cho quá trình lưu thông là bộ phận dùng cho quá trình lưu thông như: thành phẩm, vốn tiền mặt
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm:
+ Vốn vật tư hàng hoá là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật
cụ thể như nguyên vật liệu, sản phảm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm,
+ Vốn bằng tiền bao gồm các khoản tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn
1.3 Khái niệm và phân định nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm và vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của DN có rất nhiều vấn đề nảy sinh đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định đó một cách kịp thời và khoa học, chỉ như thế DN mới có thể đứng vững và phát triển Có thể tóm gọn những vấn đề nẩy sinh trong hoạt động động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư của DN đòi hỏi các
nhà quản trị DN phải đưa ra các quyết định tài chính quan trọng đó là:
- Trong rất nhiều cơ hội đầu tư thì DN sẽ phải đưa ra quyết định lựa chọn cơ
hội đầu tư nào?
- DN nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư đã được hoạch định đó?
Trang 25- DN nên thực hiện chính sách phân phối lợi nhuận như nào?
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền, câu hỏi thứ hai liên quan đến huy động vốn và câu hỏi thứ ba liên quan đến sự kết hợp giữa hai quyết định một và hai Quản trị tài chính DN là môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động đầu tư của DN trên cơ sở đó lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó một cách hợp lý và khoa học nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị và khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường Quản lý tài chính DN được hiểu là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của DN, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, phát triển ổn định, không ngừng gia tăng giá trị của DN và tăng khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường (Ngô Thế
Chi & Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
Như vậy có thể thấy rằng quản lý tài chính DN là một quá trình, từ việc phân tích tình hình của DN cũng như môi trường hoạt động của DN để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của DN, đến đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính DN cũng như mục tiêu phát triển chung của DN Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc các nhà quản lý làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợi nhuận cao và ổn định cho DN và đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động của DN phát triển ổn định (Ngô Thế Chi &
Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản trị đến các hoạt động tài chính trong DN Trong các quyết định của DN, vấn đề cần được nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản lý mà còn cả lợi ích của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của DN Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù
có trách nhiệm nặng nề về hoạt động nội bộ của DN vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của người ngoài DN như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, Nhà nước,…
Quản trị tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của DN Quản trị tài chính tốt có thể khắc phục những khiếm khuyết trong lĩnh vực
Trang 26khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên những tổn thất lớn cho DN và cho nền kinh tế Hơn nữa, do DN hoạt động trong môi trường nhất định nên các DN hoạt động có hiệu quả hơn sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quản trị tài chính
DN giữ những vai trò chủ yếu sau:
- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của DN: Trong quá trình hoạt động của DN thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của DN cũng như cho đầu tư phát triển Vai trò của tài chính DN trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của DN trong thời kỳ và đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của DN Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các DN huy động vốn từ bên ngoài Do vậy, vai trò của quản trị tài chính DN ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho DN hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp (Ngô Thế Chi & Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Quản trị tài chính DN đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để DN có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của DN, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền với DN từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn (Ngô Thế Chi & Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của DN:
Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản
lý DN có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của DN, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh (Ngô Thế Chi & Nguyễn Trọng Cơ, 2009)
Trang 271.3.2 Nội dung quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của một
DN là tối đa hóa lợi nhuận sau thuế; tối đa hóa lợi nhuận phân phối cho chủ sở hữu;
tối đa hóa giá trị DN trên thị trường Để đạt được các mục tiêu của quản trị tài chính
DN thì các nhà quản trị tài chính DN cần phải hiểu và nắm vững được các nội dung
cơ bản của quản trị tài chính DN
- Tham gia đánh giá, lựa chọn, các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh
Việc xây dựng và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong DN cùng hợp tác thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cần phải xem xét là hiệu quả chủ yếu của tài chính tức là xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, những rủi ro có thể gặp phải và khả năng có thể thu lợi nhuận, khả năng thực hiện dự án Trong việc phân tích lựa chọn, đánh giá các dự án tối ưu, các dự án có mức sinh lời cao, người quản trị tài chính là người xem xét việc sử dụng vốn đầu tư như thế nào; trên cơ sở tham gia đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư, cần tìm ra định hướng phát triển DN, khi xem xét việc bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư, cần chú ý tới việc tăng cường tính khả năng cạnh tranh của DN để đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế trước mắt cũng như lâu dài (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
- Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạt động của DN Mọi hoạt động của DN đòi hỏi phải có vốn Bước vào hoạt động kinh
doanh, quản trị tài chính DN cần phải xác định các nhu cầu vốn cấp thiết cho các hoạt động của DN ở trong kỳ Vốn hoạt động gồm có vốn dài hạn và vốn ngắn hạn, và điều quan trọng là phải tổ chức huy động nguồn vốn đảm bảo đầy đủ cho các nhu cầu hoạt động của DN Việc tổ chức huy động các nguồn vốn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của một DN Để đi đến việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp DN cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu vốn, chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của các hình thức huy động vốn (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
- Tổ chức sử dụng tốt các số vố hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của DN Quản trị tài chính DN phải tìm ra các biện
pháp góp phần huy động tối đa các số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng các nguồn vốn bị ứ đọng Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi bán
Trang 28hàng và các khoản thu khác, quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của DN Tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền để đảm bảo cho DN luôn có khả năng thanh toán Mặt khác, cũng cần xác định rõ các khoản chi phí trong kinh doanh của DN, các khoản thuế mà DN phải nộp, xác định các khoản chi phí nào là chi phí cho hoạt động kinh doanh và những chi phí thuộc về các hoạt động khác Những chi phí vượt quá định mức quy định hay những chi phí thuộc về các ngành kinh phí khác tài trợ, không được tính là chi phí hoạt động kinh doanh (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
- Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
DN Thực hiện việc phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử
dụng tốt các quỹ của DN sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển DN và cải thiện đời sống của công nhân viên chức Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động kinh doanh
là một chỉ tiêu mà DN phải đặc biệt quan tâm vì nó liên quan đến sự tồn tại, phát triển mở rộng của DN Không thể nói DN hoạt động kinh doanh tốt hiệu quả cao trong khi lợi nhuận hoạt động lại giảm DN cần có phương pháp tối ưu trong việc phân chia lợi tức DN Trong việc xác định tỷ lệ và hình thức các quỹ của DN như:
quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
- Đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt động của
DN và thực hiện tốt việc phân tích tài chính Thông qua tình hình thu chi tiền tệ
hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động của DN Mặt khác, định kỳ cần phải tiến hành phân tích tình hình tài chính DN Phân tích tài chính nhằm đánh giá điểm mạnh và những điểm yếu về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của DN, qua đó có thể giúp cho lãnh đạo DN trong việc đánh giá tổng quát tình hình hoạt động của
DN, những mặt mạnh và những điểm còn hạn chế trong hoạt động kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển vật tư, tiền vốn, hiệu quả hoạt động kinh doanh, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về sản xuất và tài chính, xây dựng được một kế hoạch tài chính khoa học, đảm bảo mọi tài sản tiền vốn và mọi nguồn tài chính của DN được sử dụng một cách có hiệu quả nhất (Nguyễn Trọng
Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
Trang 291.3.3 Quy trình quản lý tài chính trong doanh nghiệp 1.3.3.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính: Đánh giá khái quát tình hình tài chính
nhằm đánh giá khái quát quy mô tài chính, thực trạng và sức mạnh tài chính của
DN, biết được mức độ độc lập về mặt tài chính cũng như những khó khăn về tài chính mà DN đang phải đương đầu Qua đó, các chủ thể quản lý có thể đề ra các quyết định phù hợp với mục tiêu quan tâm của mình (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm
Thị Thà, 2009)
Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính sẽ giúp cho các chủ thể quản lý
có những nhìn nhận chung nhất về quy mô tài chính cũng như các chính sách tài chính và năng lực tài chính của DN qua đó có thể đưa ra các quyết định hiệu quả, kịp thời và phù hợp với tình hình thực tế tại DN từ đó đưa ra những định hướng cho
DN trong tương lại nhằm nâng cao năng lực tài chính và tăng năng lực cạnh cạnh của DN Đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN nhằm mục đích đưa ra những nhận định sơ bộ, ban đầu về thực trạng quy mô tài chính, cấu trúc tài chính cũng như năng lực tài chính của DN Qua đó, các nhà quản lý nắm được thực trạng
về tài chính, an ninh tài chính của DN Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phải phản ánh được quy mô tài chính, cấu trúc tài chính, chính sách huy động vốn, chính sách đầu tư, hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn Do vậy, để phân tích khái quát tình
hình tài chính của DN, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Tổng nguồn vốn: Tổng nguồn vốn phản ánh khả năng tổ chức, huy động
vốn của DN Tổng nguồn vốn tăng hay giảm giữa kỳ phân tích với kỳ gốc thể hiện quy mô nguồn vốn huy động giữa kỳ phân tích đã tăng (giảm) so với kỳ gốc Nguồn vốn của DN phản ánh nguồn gốc, xuất xứ hình thành tổng tài sản DN hiện đang quản lý và sử dụng vào hoạt động kinh doanh Chỉ tiêu "Tổng nguồn vốn" được
phản ánh trên Bảng cân đối kế toán, phần "Nguồn vốn" Mã số 440
- Tổng luân chuyển thuần (LCT): Tổng luân chuyển thuần phản ánh quy
mô giá trị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ và các giao dịch khác mà DN đã thực hiện đáp ứng các nhu cầu khác nhau của thị trường, cung cấp cơ sở phản ánh phạm vi hoạt động, tính chất ngành nghề kinh doanh, cơ sở để xác định tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh và trình độ quản trị hoạt động kinh doanh của DN Thông thường, khi
Trang 30DN không có hoạt động tài chính và các hoạt động khác thì theo thông lệ chỉ tiêu
này chính là doanh thu (Revenue) của DN
LCT = Doanh thu thuần bán hàng (MS10)+ Doanh thu tài chính (MS21)
+ Thu nhập khác (MS31)
- Lợi nhuận sau thuế (Net Profit): Chỉ tiêu lợi nhuận ròng cho biết quy mô
lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu của DN qua mỗi thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này cung cấp cơ sở cho việc đánh giá các chính sách kế toán của DN, trình độ quản trị chi phí hoạt động, năng lực sinh lời hoạt động của DN và nguồn gốc tăng trưởng bền vững về tài chính của DN
Lợi nhuận sau thuế (LNST) = LCT – Tổng chi phí LNST = EBIT – I – Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (Income tax expense - T)
- Dòng tiền thu vào trong kỳ (Tv hoặc IF- Inflows): Tổng dòng tiền thu vào
của DN trong mỗi thời kỳ được xác định thông qua sự tổng hợp dòng tiền thu vào từ tất cả các hoạt động tạo tiền của DN trong kỳ Tổng dòng tiền thu vào bao gồm:
dòng tiền thu vào từ hoạt động kinh doanh (IFo - inflows from operating activities);
dòng tiền thu vào từ hoạt động đầu tư (IFi – inflows from investing activities) và dòng tiền thu vào từ hoạt động tài chính (IFf - inflows from financing activities)
Chỉ tiêu này cho biết quy mô dòng tiền của DN Nếu DN có quy mô dòng tiền càng lớn trong khi có các yếu tố khác tương đồng với các đối thủ cùng ngành thì năng lực hoạt động tài chính càng cao Tuy nhiên, để đảm bảo không ngừng tăng quy mô dòng tiền thì cần đánh giá chỉ tiêu dòng tiền lưu chuyển thuần (NC)
IF = IFo+ IFi + IFf
- Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (LCtt): Phản ánh lượng tiền gia tăng
trong kỳ từ các hoạt động tạo tiền Một DN có thể có dòng tiền thu về rất lớn nhưng khả năng tạo tiền vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu chi ra bằng tiền nên dòng tiền lưu chuyển thuần âm, khi dòng tiền lưu chuyển thuần âm liên tục là dấu hiệu suy thoái về năng lực tài chính rõ rệt nhất của những DN đang hoạt động bình thường Ngược lại, khi dòng tiền thuần dương quá lớn và liên tục tức là khả năng tạo tiền trong mỗi kỳ đều dư thừa so với nhu cầu chi trả làm tăng tiền dự trữ cuối kỳ cũng là dấu hiệu cho thấy ứ đọng tiền mặt Cần đánh giá dòng tiền thuần gia tăng từ hoạt động nào, có mục tiêu tạo tiền rõ hay không để có những đánh giá cụ thể Xác
Trang 31định chỉ tiêu này dựa trên việc tổng hợp dòng tiền thuần từ 3 loại hoạt động theo
công thức: LC tt = LCtt kd + LCtt đt + LCtt tc
Khi DN duy trì và gia tăng được dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh tức là cơ hội tăng trưởng bền vững của DN khá rõ rệt; nếu lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư dương tức là DN thu hồi các khoản đầu tư, thanh lý, nhượng bán các tài sản cố định lớn hơn lượng đầu tư, mua sắm mới, đó là dấu hiệu thu hẹp quy mô tài sản; nếu dòng tiền thuần từ hoạt động tài chính dương và tăng tức là huy động nguồn vốn tăng thêm nhiều hơn hoàn trả nguồn vốn trong kỳ sẽ làm tăng thêm sự chia sẻ, “pha loãng” quyền lực của các chủ sở hữu, lệ thuộc thêm về tài chính vào các chủ thể cấp vốn Vì vậy, cần xác định rõ nguyên nhân và tính chất hợp lý, hiệu quả của sự gia tăng dòng tiền thuần từ hai hoạt động này (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
- Hệ số tự tài trợ: là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính
và mức độ độc lập về mặt tài chính của DN Chỉ tiêu này cho biết khả năng tự tài trợ cho tài sản của DN bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của DN càng tăng và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính của DN càng thấp, mức độ độc lập về tài chính của DN càng giảm Hệ số tài trợ được xác định theo công thức:
Hệ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản
"Vốn chủ sở hữu" được phản ánh ở chỉ tiêu B "Vốn chủ sở hữu" (Mã số 400), còn "Tổng tài sản" được phản ánh ở chỉ tiêu "Tổng cộng tài sản" (Mã số 270) trên Bảng cân đối kế toán
- Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn: Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn (hay hệ số
vốn chủ sở hữu trên tài sản dài hạn) là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sản dài hạn bằng vốn chủ sở hữu Nếu trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, số vốn chủ
sở hữu của DN càng có thừa khả năng để trang trải tài sản dài hạn và do vậy, DN sẽ
ít gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ dài hạn đến hạn Do đặc điểm của tài sản dài hạn là thời gian luân chuyển dài (thường là ngoài một năm hay ngoài một chu kỳ kinh doanh) nên nếu vốn chủ sở hữu của DN không đủ tài trợ tài sản dài hạn
Trang 32của mình mà phải sử dụng các nguồn vốn khác (kể cả vốn chiếm dụng dài hạn) thì khi các khoản nợ đáo hạn, DN sẽ gặp khó khăn trong thanh toán và ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu của DN có đủ và bảo đảm thừa khả năng tài trợ tài sản dài hạn của
DN thì DN sẽ ít gặp khó khăn khi thanh toán nợ đáo hạn Điều này tuy giúp DN tự bảo đảm về mặt tài chính nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi
Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn = Vốn chủ sở hữu
Tài sản dài hạn
"Tài sản dài hạn" được phản ánh ở chỉ tiêu B "Tài sản dài hạn" (Mã số 200) trên Bảng cân đối kế toán Cần lưu ý rằng, chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn”
còn có thể tính riêng cho từng bộ phận tài sản dài hạn (nợ phải thu dài hạn, tài sản
cố định đã và đang đầu tư, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn), đặc biệt là
bộ phận tài sản cố định đã và đang đầu tư; bởi vì, tài sản cố định (đã và đang đầu tư)
là bộ phận tài sản dài hạn phản ánh toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật của DN Khác với các bộ phận tài sản dài hạn hạn, DN không thể dễ dàng và không thể đem bán, thanh lý bộ phận tài sản cố định được vì đây chính là điều kiện cần thiết và là phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh doanh của DN “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” được tính theo công thức sau:
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định =
Vốn chủ sở hữu Tài sản cố định đã và đang đầu tư Tài sản cố định đã và đang đầu tư được phản ánh ở chỉ tiêu “Tài sản cố định”
(Mã số 220), bất động sản đầu tư (Mã 230) và chỉ tiêu “Chi phí xây dựng cơ bản
dở dang” (Mã số 242) trên Bảng cân đối kế toán
- Hệ số đầu tư dài hạn: Hệ số đầu tư dài hạn là chỉ tiêu phản ánh mức độ
đầu tư vào tài sản dài hạn trong tổng số tài sản, nó phản ánh cấu trúc tài sản của DN (phản ánh chính sách đầu tư của DN) Trị số này phụ thuộc rất lớn vào ngành nghề kinh doanh của DN
Hệ số đầu tư dài hạn = Tài sản dài hạn
Tổng cộng tài sản
Hệ số đầu tư có thể tính chung cho toàn bộ tài sản dài hạn sau khi trừ đi các
Trang 33khoản phải thu dài hạn (hệ số đầu tƣ tổng quát) hay tính riêng cho từng bộ phận của tài sản dài hạn (hệ số đầu tƣ tài sản cố định, hệ số đầu tƣ tài chính dài hạn ); trong
đó, hệ số đầu tƣ tài sản cố định đƣợc sử dụng phổ biến, phản ánh giá trị còn lại của tài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản là bao nhiêu Trị số này phụ thuộc vào từng ngành, nghề cụ thể Tài sản dài hạn đƣợc phản ánh ở chỉ tiêu “Tài sản dài hạn), mã số
200 trên bảng cân đối kế toán
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: “Hệ số khả năng thanh toán tổng
quát” là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của DN trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho biết DN có khả năng thanh toán đƣợc bao nhiêu lần nợ phải trả bằng tổng tài sản Nếu trị số chỉ tiêu "Hệ số khả năng thanh toán tổng quát" của DN luôn
> 1, DN bảo đảm đƣợc khả năng thanh toán tổng quát và ngƣợc lại; trị số này < 1,
DN không bảo đảm đƣợc khả năng trang trải các khoản nợ Trị số của “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” càng gần 1, DN càng mất dần khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng cộng tài sản
Tổng nợ phải trả
"Tổng số tài sản" đƣợc phản ánh ở chỉ tiêu "Tổng cộng tài sản" (Mã số 270)
và "Tổng số nợ phải trả" phản ánh ở chỉ tiêu "Nợ phải trả" (Mã số 300) trên Bảng cân đối kế toán Đối với các DN vừa và nhỏ, chỉ tiêu "Tổng số tài sản" đƣợc phản ánh ở chỉ tiêu "Tổng cộng tài sản" (Mã số 250) và "Tổng số nợ phải trả" đƣợc phản ánh ở chỉ tiêu "Nợ phải trả" (Mã số 300) trên Bảng cân đối kế toán
- Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (Vòng quay tài sản) nhằm đánh giá
một cách khái quát công tác quản lý, sử dụng vốn kinh doanh của DN có hợp lý, hiệu suất sử dụng vốn có phù hợp với đặc thù của ngành nghề kinh doanh hay không, DN đang quản lý, sử dụng vốn kinh doanh tốt hay không tốt, trọng điểm cần xem xét, quản lý nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của DN trong
kỳ Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì DN thu đƣợc bao nhiêu đồng luân chuyển thuần
Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (vòng quay tài sản) =
Tổng luân chuyển thuần Tổng tài sản bình quân
- Hệ số lợi nhuận ròng của tài sản (Return on assets - ROA): phản ánh
Trang 34hiệu qủa sử dụng tài sản ở DN, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử
dụng tài sản càng lớn và ngƣợc lại
Hệ số sinh lời ròng của tài sản =
Lợi nhuận sạu thuế Tổng tài sản bình quân Lợi nhuận sau thuế phản ánh ở chỉ tiêu "Lợi nhuận sau thuế " trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh với mã số 60; còn "Tổng tài sản bình quân” đƣợc tính nhƣ sau:
Tổng tài sản bình quân =
Tổng tài sản đầu năm + Tổng tài sản cuối năm
2 Trong đó, Tổng tài sản đầu năm và cuối năm lấy số liệu trên Bảng cân đối kế toán (cột "Số đầu năm" và cột "Số cuối năm") Mẫu số của ROA là “Tổng tài sản bình quân” vì tử số là kết quả của một năm kinh doanh nên mẫu số không thể lấy trị
số của tài sản tại một thời điểm đƣợc mà phải sử dụng trị giá bình quân của năm
- Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on equity - ROE): là chỉ
tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của DN Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì DN thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trị số của ROE càng
cao, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng cao và ngƣợc lại
Hệ sô số sinh lời của vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân Lợi nhuận sau thuế phản ánh ở chỉ tiêu "Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN"
trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh với mã số 60; còn chỉ tiêu "Vốn chủ sở hữu bình quân" đƣợc tính nhƣ sau:
Vốn chủ sở hữu bình quân =
Tổng số vốn chủ sở hữu đầu kỳ + cuối kỳ
2 Trong đó, vốn chủ sở hữu đầu năm và cuối năm lấy ở chỉ tiêu C "Vốn chủ sở hữu" (Mã số 400) trên Bảng cân đối kế toán (cột "Số đầu năm" và cột "Số cuối năm") Mẫu số của ROE là “Vốn chủ sở hữu bình quân” vì tử số là kết quả của một năm kinh doanh nên mẫu số không thể lấy trị số của vốn chủ sở hữu tại một thời điểm
Trang 35được mà phải sử dụng trị giá bình quân của năm Đối với các DN vừa và nhỏ, chỉ tiêu
"Lợi nhuận sau thuế" được phản ánh ở chỉ tiêu "Lợi nhuận sau thuế" trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
1.3.3.2 Hoạch định tài chính doanh nghiệp
Hoạch định tài chính là bước đầu tiên, có tính quyết định tới sự thành công trong việc thực hiện các bước tiếp theo của quá trình quản lý tài chính, giúp các nhà quản lý tài chính lập kế hoạch và dự báo tài chính của DN trong tương lai Song kết quả của bước này lại phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của việc phân tích tài chính DN
đã nêu ra ở trên vì việc phân tích tài chính đã đưa ra một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của DN ở hiện tại và trong quá khứ (Nguyễn Hương Dung, 2012)
Hoạch định tài chính chỉ là một trong nhiều loại kế hoạch của DN như kế hoạch sản xuất, kế hoạch lao động, kế hoạch tiêu thụ,… Nhưng mục đích cuối cùng của mọi kế hoạch trong DN là tối đa hoá lợi nhuận (tài sản của cổ đông) và hoạch định tài chính là sự thể hiện cụ thể nhất việc hướng tới mục tiêu này Quy trình hoạch định tài chính DN nói chung có 5 bước cơ bản:
Bước 1: Dự báo các báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) theo phương pháp phổ biến nhất là phương pháp dự báo theo tỷ lệ doanh thu Tức là chúng ta dựa vào tốc độ tăng trưởng hàng năm của doanh thu (đã có trong quá trình phân tích tài chính DN) để dự báo tốc độ tăng trưởng cho các khoản mục trong các báo cáo tài chính Sử dụng các báo cáo tài chính trên để phân tích ảnh hưởng của kế hoạch hoạt động lên lợi nhuận dự báo và các tỷ số tài chính Đồng thời, sử dụng các dự báo này để kiểm soát các hoạt động của DN khi mà kế hoạch đã được thông qua
Bước 2: Quyết định nguồn vốn cần thiết hỗ trợ cho kế hoạch hoạt động của
DN trong thời kỳ dự báo Bao gồm nguồn vốn đầu tư vào máy móc thiết bị, tài sản lưu động, các chương trình nghiên cứu phát triển và các chiến dịch quảng cáo Quyết định này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như cơ cấu vốn mục tiêu của DN, ảnh hưởng của nợ ngắn hạn tới khả năng thanh khoản của DN, tình hình của thị trường tiền tệ và thị trường vốn, những quy định hạn chế áp đặt bởi chủ nợ hiện tại…
Bước 3: Dự báo các nguồn vốn mà DN có thể huy động được trong thời kỳ
Trang 36dự báo Nó bao gồm cả việc dự báo các nguồn vốn có thể huy động được từ nội bộ
DN lẫn nguồn vốn huy động từ bên ngoài
Bước 4: Thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát để quản trị việc phân bổ
và sử dụng các nguồn vốn trong DN
Bước 5: Phát triển các quy trình điều chỉnh kế hoạch cơ bản nếu tình hình
kinh tế có thay đổi so với thời điểm đưa ra dự báo Dự báo đưa ra kế hoạch tài chính cho DN trong tương lai vì thế không tránh khỏi việc môi trường có những thay đổi
so với thời điểm dự báo vì thế cần có những điều chỉnh thích hợp để đảm báo tình hợp lý và đúng đắn của các dự báo này (Nguyễn Hương Dung, 2012)
Trong các bước của quá trình hoạch định tài chính thì 3 bước đầu là quan trọng nhất, vì thế khi tiến hành quá trình hoạch định tài chính DN cần chú ý tới 3 bước này
1.3.3.3 Kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tài chính trong việc phân phối và sử dụng nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền
tệ của DN Nhằm ngăn ngừa và kịp thời phát hiện nếu có tồn tại trong hoạt động kinh doanh, trong việc thực hiện chính sách quản lý và tuân thủ luật tài chính, từ đó đưa ra các điều chỉnh nhằm đảm bảo việc thực hiện kế hoạch tài chính, đồng thời phù hợp với những biến động của môi trường Hoạt động kiểm tra tài chính cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tuân thủ pháp luật, nguyên tắc chính xác, nguyên tắc khách quan, công khai và thường xuyên… trong quá trình thực hiện các nội dung kiểm tra Kiểm tra tài chính gồm ba loại cơ bản:
Một là, kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính: được tiến hành trước
khi thực hiện kế hoạch tài chính đưa ra trong phần hoạch định tài chính DN, nhằm đảm bảo rằng các dự định, mục tiêu về tài chính trong kế hoạch tài chính là đúng đắn, không phi thực tế, phù hợp với tiềm lực thực tế của DN, đồng thời cũng đảm bảo rằng những dự định, mục tiêu này thống nhất với chiến lược và mục tiêu phát triển chung của DN
Hai là, kiểm tra thường xuyên khi thực hiện kế hoạch tài chính: được tiến
hành thường xuyên, liên tục trong quá trình kinhh doanh (thực hiện kế hoạch tài
Trang 37chính) Thông qua đó đánh giá việc thực hiện kế hoạch tài chính, thấy được ưu điểm
và những gì còn tồn tại trong hoạt động quản lý tài chính của DN
Ba là, kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính: so sánh, đối chiếu các
chỉ tiêu thực tế của DN với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, đồng thời so sánh, đối chiếu với các chỉ tiêu trong kế hoạch tài chính để đánh giá mức hoàn thành kế hoạch tài chính Trên cơ sở đó rút ra kinh nghiệm nhằm hoàn thiện khả năng hoạch định tài chính và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính
Ba loại hình kiểm tra này có nội dung hoàn toàn khác nhau song có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và chúng được tiến hành song song với các bước trong hoạt động kinh doanh của DN (Nguyễn Hương Dung, 2012)
1.3.4 Lập kế hoạch kinh doanh 1.3.4.1 Định nghĩa kế hoạch kinh doanh
Kế hoạch kinh doanh là bản tổng hợp các nội dung chứa trong các kế hoạch
bộ phận bao gồm kế hoạch marketing, kế hoạch nhân sự, kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính, được hoạch định cho tương lai, nghĩa là đưa ra cách thức nào đó nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trên cơ sở hiện tại của doanh nghiệp
1.3.4.2 Quy trình xây dựng kế hoạch kinh doanh
Việc lập kế hoạch kinh doanh là việc ứng dụng các lý thuyết kinh doanh vào thực tế và nó có thể được thiết lập cho nhiều mục đích khác nhau, nhiều tình huống doanh nghiệp khác nhau và nhiều đối tượng đọc khác nhau Tuy vậy, hầu hết kế hoạch kinh doanh đều đề cập đến các nội dung chủ yếu tương tự nhau và tùy theo tầm quan trọng của chúng với đối tượng đọc mà cần nhấn mạnh vào nội dung nào
đó phù hợp yêu cầu (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
1.3.4.3 Phân tích các yếu tố môi trường kinh doanh
Ngày nay môi trường kinh doanh đang biến động nhanh chóng đã tạo nên những cơ hội cũng như thách thức cho các đơn vị kinh doanh, làm thế nào để nâng cao tính cạnh tranh và khai thác tối đa các cơ hội trong thị trường mở mang lại Do
đó, tất cả các đơn vị kinh doanh dù hoạt động với quy mô như thế nào thì cũng cần phải nắm rõ và phân tích cặn kẽ sự biến động đó để tìm những cơ hội phù hợp cho
Trang 38sự phát triển của doanh nghiệp, cũng như việc nhận ra những nguy cơ để từ đó có
kế hoạch phát triển đúng đắn Đồng thời, kết hợp với nguồn lực bên trong để đưa doanh nghiệp đến mục tiêu đã đề ra
Để phân tích môi trường kinh doanh ta cần xét đến môi trường bên ngoài bao gồm môi trường vĩ mô, môi trường vi mô (môi trường tác nghiệp) và môi trường bên trong bao gồm những yếu tố nội bộ doanh nghiệp
1.3.4.3.1 Môi trường nội bộ
Các hoạt động chủ yếu:
- Các hoạt động cung ứng đầu vào: Gồm các hoạt động liên quan đến việc
nhận, tồn trữ và quản lý các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp như: Quản lý vật tư, tồn trữ, kiểm soát tồn kho, kế hoạch vận chuyển, trả lại hàng cho nhà cung ứng…
Sự hoàn thiện các hoạt động này sẽ dẫn tới tăng năng suất và giảm chi phí
- Vận hành: Gồm tất cả các hoạt động nhằm chuyển các yếu tố đầu vào thành sản phẩm cuối cùng như: Vận hành máy móc thiết bị, bao bì, đóng gói, lắp ráp, bảo dưỡng thiết bị, kiểm tra Hoàn thiện hoạt động vận hành giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu suất hoạt động, đồng thời giúp doanh nghiệp phản ứng với thị trường nhanh hơn
- Các hoạt động đầu ra:
Bao gồm các hoạt động để đưa sản phẩm tới khách hàng của công ty như:
tồn trữ, quản lý hàng hoá, vận hành các hoạt động phân phối, xử lý các đơn đặt hàng Hoàn thiện các hoạt động đầu ra giúp nâng cao hiệu suất hoạt động cũng như chất lượng phục vụ khách hàng như hoạt động Marketing và bán hàng và dịch vụ khách hàng
- Các hoạt động hỗ trợ:
+ Quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nguồn nhân lực gồm các hoạt động:
tuyển dụng, huấn luyện-đào tạo, phát triển và trả công lao động cho nhân viên ở tất
cả các cấp của công ty Quản trị nguồn nhân lực gồm 3 nhóm hoạt động chính: Thu hút nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển, duy trì nguồn nhân lực
+ Phát triển công nghệ: Công nghệ nên được hiểu rộng hơn lĩnh vực nghiên cứu và phát triển truyền thống (R&D)- vốn chỉ liên quan trực tiếp đến sản
Trang 39phẩm/dịch vụ, ví dụ như: công nghệ quản lý, công nghệ thông tin…không liên quan trực tiếp tới sản phẩm nhưng lại tác động lớn đế hoạt động của công ty
+ Mua sắm: Mua sắm đề cập đến chức năng thu mua các yếu tố đầu vào
được sử dụng trong dây chuyền giá trị: nguyên liệu, năng lượng, nước, máy móc, thiết bị, nhà xưởng… Chi phí cho yếu tố đầu vào thường chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng chi phí nên chỉ cần tiết kiệm một tỷ lệ nhỏ chi phí cũng có thể làm tăng đáng kể lợi nhuận của công ty Khi hoàn thiện hoạt động mua sắm, công ty có thể kiểm soát tốt chất lượng đầu vào, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm (Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà, 2009)
1.3.4.3.2 Môi trường tác nghiệp
Trang 40họ Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của ngành giảm xuống bằng cách: ép giá hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và phải cung cấp nhiều dịch vụ hơn
Người cung cấp
Người cung cấp bao gồm các đối tượng: người bán vật tư, thiết bị, cộng đồng tài chính, nguồn lao động Khi nhà cung cấp có ưu thế, họ có thể gây áp lực mạnh
và tạo bất lợi cho doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của công ty do họ đưa vào khai thác năng lực sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết
Ảnh hưởng văn hóa xã hội
Các ảnh hưởng xã hội chủ yếu bao gồm: sở thích vui chơi giải trí, chuẩn mực đạo đức, quan điểm về mức sống, cộng đồng kinh doanh và lao động nữ
Ảnh hưởng dân số
Những khía cạnh chủ yếu cần quan tâm của môi trường dân số bao gồm:
tổng số dân và tỷ lệ tăng dân số, tuổi thọ và tỷ lệ sinh tự nhiên, các xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng, kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số về: tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, phân phối thu nhập
Ảnh hưởng luật pháp, chính phủ và chính trị
Các yếu tố luật pháp, chính phủ và chính trị có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp Doanh nghiệp phải tuân theo các nguyên tắc về thuê mướn, cho vay, an toàn, giá, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường
Ảnh hưởng tự nhiên