Nhưng xét trên lĩnh vực nghiên cứu quản trị chất lượng nói chung, tất cả các doanh nghiệp nói chung và những doanhnghiệp sản xuất ô tô nói chung đều áp dụng công cụ Kaizen – một công cụ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
-
-BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG VÀ RỦI RO
Lớp: MGT 371 I
Đà Nẵng, tháng 10 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ KAIZEN TRONG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG 4
1.1 Khái niệm về quản trị chất lượng 4
1.2 Kaizen 5
1.2.1 Giới thiệu 6
1.2.2 Lịch sử hình thành 6
1.2.3 Bản chất của Kaizen 7
1.2.4 Kaizen và lợi ích đem lại 8
1.2.5 Sự cần thiết của Kaizen trong các doanh nghiệp sản xuất ô tô 8
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG KAIZEN TRONG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT Ô TÔ TOYOTA 9
2.1 Chọn doanh nghiệp : 9
2.1.1 Tập đoàn Ô tô Toyota 9
2.1.2 Lịch sử hình thành 10
2.2 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp : 16
2.3 Mô tả sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh 17
CHƯƠNG 3 Doanh nghiệp đã vận dụng TQM vào doanh nghiệp TOYOTA 37
3.1 Các nguyên lý của quản trị chất lượng toàn diện 37
3.1.1 Tập trung vào khách hàng 37
3.1.2 Định hướng quá trình 38
3.1.3 Cải tiến liên tục và học hỏi 38
3.1.4 Phân quyền và làm việc nhóm 39
3.1.5 Quản trị bằng sự kiện 39
3.1.6 Lãnh đạo và hoạch định chiến lược 39
3.2 Thực trạng áp dụng Kaizen ở Toyota 40
3.3 Kết quả khi áp dụng Kaizen của Toyota 41
3.3.1 Những mặt tích cực: 41
3.3.2 Các khiếm khuyết trong việc áp dụng Kaizen của Toyota 42
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHI ÁP DỤNG KAIZEN 42
KẾT LUẬN 43
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền thị trường kinh tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay, mỗi
quốc gia, mỗi khu vực đều chịu sự chi phối bởi sức ép kinh tế đè nặng lên vai củacác nhà sản xuất Họ đều luôn muốn tạo ra những sản phẩm tốt nhất, chất lượngnhất nhưng lại có giá cả phải chăng để có thể thu hút được sự chú ý của khách hàng, và tìm cách để khách hàng chịu bỏ tiền ra để mua sản phẩm của họ Để làm được điều đó, các nhà sản xuất phải đầu tư, nghiên cứu để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình
Ngoài các ngành hàng phổ thông, bên cạnh đó còn là một số ngành hàng đặc biệtkhác, mà sự có mặt của nó ảnh hưởng trực tiếp đến người sử dụng Như ngành công nghiệp sản xuất ô tô chẳng hạn, mỗi chiếc ô tô sản xuất ra nhằm mục đích tối thiểu phục vụ nhu cầu di chuyển của con người, giúp con người có thể di chuyển trên những chặng đường dài, với tốc độ ngày càng cao và mức độ an toàn ngày càng lớn
Một chiếc ô tô sản xuất ra phải đáp ứng được 3 yêu cầu tối thiểu, đó là: di chuyển,đảm bảo an toàn cho người sử dụng và yêu cầm thẩm mỹ Mỗi chiếc ô tô sản xuất
ra phải đáp ứng được tối thiểu những yêu cầu trên, và ngoài ra nhằm mục đích cạnh tranh, mỗi hãng xe đều mang đến cho khách hàng những yếu tố riêng trên những chiếc xe được bán ra Đó có thể là những tính năng động cơ mới, yếu tố thờitrang trong nội thất, sự thoải mái khi vận hành, hay những tính năng giải trí cao cấp bên trong xe…
Trước sự chuyển động không ngừng của ngành kinh tế, nhu cầu sử dụng của conngười cũng không ngừng thay đổi Họ yêu cầu những chiếc xe của mình phải nhanh hơn, đẹp hơn, an toàn hơn, tiện nghi hơn… Vậy bài toán được đặt ra cho cácnhà sản xuất ô tô là phải cải tiến sản phẩm của mình để có thể không ngừng tạo ranhững yếu tố mới nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng, nhưng vẫn phải duy trìmức giá sản phẩm ở mức hợp lý
Để làm được điều đó, mỗi doanh nghiệp có những chiến lược riêng, cách thứcriêng để áp dụng trong việc sản xuất của họ Nhưng xét trên lĩnh vực nghiên cứu quản trị chất lượng nói chung, tất cả các doanh nghiệp nói chung và những doanhnghiệp sản xuất ô tô nói chung đều áp dụng công cụ Kaizen – một công cụ khôngmới, nhưng luôn luôn là chìa khóa thành công trong sự phát triển của doanh
nghiệp.Nghiên cứu sau sẽ tập trung khai thác cách vận dụng công cụ Kaizen trong các doanh nghiệp sản xuất ô tô lớn, như BMW, Toyota, Mercedes…Điển hình là doanh nghiệp Toyota mà dưới đây tôi sẽ trình bày tìm hiểu
Trang 5CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ KAIZEN TRONG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
1.1 Khái niệm về quản trị chất lượng
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này Quản trị chất lượng là mọt khía cạnh của chức năng quản trị để xác định và thực hiện chính sách chất lượng Hoạt động quản trị trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản trị chất lượng
Hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị chất lượng,
cáchọc giả trên khắp thế giới đều có những phát biểu khác nhau như của: A.G Roberson – một chuyên gia người Anh về chất lượng, A.V Feigenbaum – nhà khoahọc người Mỹ, giáo sư tiến sĩ Kaoru Ishikawa – một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản trị chất lượng của Nhật Bản Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung chúng có những điểm chung như:
- Mục tiêu trực tiếp của quản trị chát lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường, với chi phí tối ưu
- Thực chất của quản trị chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản trịnhư: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh (vòng tròn PDCA) Nói cách khác, quản trị chất lượng chính là chất lượng của quản trị
- Quản trị chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội và tâm lý) Quản trị chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưng phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo
- Quản trị chất lượng được thực hiện trong suốt thời kỳ sống của sản phẩm, từ thiết
Trang 6và của toàn bộ hệ thống Đó chính là quản trị chất lượng toàn diện ( Total quality management – TQM ).
Doanh nghiệp sinh ra là phục vụ mục đích tạo lợi nhuận, đó là mục đích cao cả nhất và là cốt lõi nhất Bên cạnh đó, một mục đích cũng không kém phần quan trọn
là phát triển và trường tồn Dù với mục đích gì thì việc tối đa hóa lợi nhuận bằng cách giảm chi phí, tăng cường hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực và xây dựng chính sách nhằm thu hút và phát triển nhân sự nhằm tạo lợi thế cạnh tranh là những việc quan trọng doanh nghiệp cần phải làm nhằm đạt được mục đích Một
hệ thống quản trị được xây dựng đúng cách, được duy trì thực hiện và được cải tiếnliên tục là công cụ hữu hiệu nhất để đạt được các mục đích trên
Trong những năm gần đây, có rất nhiều các doanh nghiệp Việt nam quan tâm và đãxây dựng hệ thống quản trị chất lượng Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp gặp phải tình trạng hệ thống quản trị chất lượng hoặc được thiết kế không phù hợp, hoặc không được duy trì, không phát huy được hiệu quả Từ đó dẫn đến nhận thức sai về tầm quan trọng và ý nghĩa của hệ thống quản trị chất lượng, và cuối cùng dẫn đến việc hệ thống quản trị chất lượng bị xem nhẹ, trở thành một hệ thống chết, gây cản trở cho quá tŕnh quản trị
Trong điều kiện cạnh tranh hiện tại và tương lai gần, các doanh nghiệp Việt nam muốn tồn tại và phát triển thì buộc phải thay đổi quan điểm Từ việc tư duy hành động theo chiến thuật sang tư duy chiến lược, phải xác định được mục tiêu dài hạn,con đường đi đến mục tiêu và phải nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể đạt mục tiêu Đã đến lúc phải nhìn nhận lại việc xây dựng, duy trì và áp dụng hệ thống quảntrị chất lượng Một hệ thống phải được xây dựng trên cơ sở định hướng chiến lược,được áp dụng linh hoạt như một công cụ hữu hiệu nhằm thực thi chiến lược và được cải tiến liên tục nhằm tối đa hóa lợi ích sử dụng
1.2 Kaizen
Kaizen (改改), Tiếng Nhật có nghĩa là "cải tiến", hoặc có thể hiểu là "thay đổi cho tốt hơn", công cụ này là việc tập trung vào thực hiện các cải tiến liên tục của các quá trình sản xuất, kỹ thuật, phát triển, và quản trị kinh doanh Nó đã được áp dụngtrong lĩnh vực y tế, tâm lý trị liệu, chương trình huấn luyện, chính phủ, ngân hàng,
và các ngành công nghiệp khác Khi được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh và ápdụng cho mọi quá trình, kaizen đề cập đến các hoạt động liên tục cải thiện tất cả các chức năng, và dành cho tất cả các nhân viên từ giám đốc điều hành đến công nhân lắp ráp dây chuyền Nó cũng áp dụng cho các quy trình, chẳng hạn như mua
và cung ứng, kaizen nhằm mục đích để loại bỏ những quá trình thừa để đem đến
Trang 7quá trình sản xuất tối ưu Kaizen lần đầu tiên được thực hiện trong một số doanh nghiệp Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chịu ảnh hưởng một phần của các doanh nghiệp Mỹ và các nhà quản trị chất lượng những người đến thăm đất nước Nó đã lan rộng ra khắp thế giới và hiện đang được thực hiện ở những lĩnh vực khác bên cạnh kinh doanh và phát triển năng suất.
1.2.1 Giới thiệu
Kaizen là một triết lý Nhật Bản tập trung vào việc các cải tiến nhỏ, nhưng lại mangtính chất liên tục Nhiều tổ chức trên thế giới đã thực hiện thành công lý thuyết Kaizen để đạt được hiệu quả trong kinh doanh Và nó là một quá trình xuất hiện hàng ngày, hàng giờ với mục đích cải thiện để vượt xa năng suất hiện tại Chỉ một quá trình đó, nhưng khi thực hiện một cách chính xác, chuyên môn hóa con người nơi làm việc thì sẽ có thể loại bỏ công việc quá khó khăn, giúp tất cả mọi người trong doanh nghiệp có thể biết cách áp dụng những biện pháp tốt nhất để có thể loại bỏ lãng phí trong sản xuất, loại bỏ được các công đoạn thừa không cần thiết Việc áp dụng công cụ này một cách thành công đòi hỏi sự tham gia các nhà lãnh đạo, vai trò của quản trị đội ngũ lãnh đạo và sự tham gia của người lao động trong việc cải thiện: con người ở tất cả các cấp của một tổ chức tham gia kaizen, từ giám đốc điều hành đến nhân viên bảo vệ, cũng như các bên liên quan bên ngoài, khi áp dụng
1.2.2 Lịch sử hình thành
Sau khi Thế chiến II, để giúp khôi phục lại Nhật Bản, lực lượng chiếm đóng của
Mỹ đưa vào các chuyên gia Mỹ sang để giúp việc xây dựng lại của ngành công nghiệp Nhật Bản Tổ chức truyền thông mục dân dụng (The Civil CommunicationsSection _ CCS) đã phát triển một chương trình đào tạo Quản trị dạy phương pháp kiểm soát thống kê như là một phần cấu thành của toàn bộ quá trình khôi phục Khóa học này được thiết kế và giảng dạy bởi Homer Sarasohn và Charles
Protzman năm 1949-1950 Sarasohn đề nghị W Edwards Deming hướng dẫn đào tạo thêm các phương pháp thống kê
Trước khi sự xuất hiện của Mellen được thực hiện vào năm 1951, nhóm ESS của Nhật có một bộ phim đào tạo để giới thiệu ba chương trình TWI 3J (Job
Instruction, Job Methods and Job Relations ) (Hướng dẫn công việc, Phương pháp việc làm và Quan hệ công việc) - bộ phim có tựa đề "Cải thiện 4 bước” Do đó, Kaizen được giới thiệu đầu tiên tại Nhật Bản Sau việc giới thiệu, đi tiên phong, và thực hiện Kaizen tại Nhật Bản, Hoàng đế Nhật Bản trao tặng Huân chương cho Tiến sĩ Deming vào năm 1960 Từ đó, Hội Liên hiệp Khoa học và Kỹ thuật Nhật
Trang 8(JUSE) đã lập giải thưởng Deming hàng năm cho sản phẩm đạt chất lượng và độ tin cậy Ngày 18 tháng mười năm 1989, tại bang Florida JUSE trao giải thưởng Deming cho Công ty TNHH Điện và Ánh sáng (FPL), tại bang Florida có trụ sở tại
Mỹ, tại bang Florida cho những thành tích đặc biệt của nó trong quá trình kiểm soát chất lượng và quản trị FPL là công ty đầu tiên bên ngoài Nhật giành được giảithưởng Deming
Các công cụ khác được sử dụng phối hợp trong PDCA bao gồm 5-Why (5 nguyên nhân tại sao) Đây là một hình thức phân tích nguyên nhân gốc rễ trong đó người dùng câu hỏi "tại sao" cho một vấn đề và trả lời nó năm lần liên tiếp Thường có loạt các nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ một vấn đề, và họ có thể hình dung bằng cách sử dụng sơ đồ xương cá hoặc bảng Kaizen được thành lập dựa trên 5 yếu tố chính:
- Chất lượng Circles: Nhóm họp để thảo luận về các mức chất lượng có liên quan đến tất cả các khía cạnh điều hành của công ty
- Cải thiện tinh thần: tinh thần mạnh mẽ giữa các lực lượng lao động là một bước quan trọng để đạt được hiệu quả và năng suất dài hạn, và kaizen đặt nó như làmột nhiệm vụ cơ bản để giữ liên lạc thường xuyên với tinh thần nhân viên
- Làm việc nhóm: Một công ty mạnh mẽ là một công ty kéo nhau từng bước trên con đường.Kaizen nhằm mục đích giúp nhân viên và quản trị xem xét mình là thành viên của nhóm, chứ không phải là đối thủ cạnh tranh
- Kỷ luật cá nhân: Một nhóm nghiên cứu không thể thành công mà không có mỗi thành viên của nhóm nghiên cứu mạnh mẽ trong mình Cam kết xử lý kỷ luật
cá nhân của từng người đảm bảo rằng các đội sẽ vẫn mạnh mẽ
- Gợi ý để cải thiện: Bằng cách yêu cầu thông tin phản hồi từ mỗi thành viên của nhóm nghiên cứu, nhà quản trị đảm bảo rằng tất cả các vấn đề được xem xét vàgiải quyết trước khi họ trở nên đáng kể Kaizen tập trung vào việc cải tiến nhỏ dựa
Trang 9trên cơ sở cải tiến liên tục Kaizen liên quan đến mỗi nhân viên trong việc đưa ra thay đổi trong hầu hết các trường hợp thay đổi nhỏ, gia tăng Nó tập trung vào việcxác định các vấn đề tại gốc các doanh nghiệp, giải quyết chúng ngay tại nguồn của
họ, và thay đổi các tiêu chuẩn để đảm bảo vấn đề vẫn được giải quyết
1.2.4 Kaizen và lợi ích đem lại
Kaizen chỉ đơn giản là một triết lý, với cách áp dụng đơn giản, nhưng lợi ích mà Kaizen đem lại là cùng lớn Tuy những cải tiến chỉ là nhỏ, liên tục nhưng lại đem đến lợi ích lớn Kaizen giúp cải thiện năng suất, chất lượng được cải thiện, an toàn hơn, giao hàng nhanh hơn, giảm chi phí, và sự hài lòng khách hàng lớn hơn Nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp áp dụng triết lý Kaizen thường cảm thấy công việc dễ dàng hơn và thú vị hơn Kết quả là nhân viên hài lòng công việc Khi mỗi nhân viên tìm kiếm cách để cải thiện, bạn có thể mong đợi kết quả như:
- Kaizen làm giảm chất thải trong các lĩnh vực như hàng tồn kho, thời gian chờ đợi, giao thông vận tải, luân chuyển công nhân, kỹ năng nhân viên, vượt năng suất, chất lượng dự kiến và thực hiện theo một quá trình
- Kaizen tăng cường tận dụng không gian, cải tiến chất lượng sản phẩm, sử dụng vốn, thông tin liên lạc, năng lực sản xuất và giữ chân nhân viên
- Kaizen tạo ra kết quả tức thời Thay vì tập trung vào cải tiến lớn, cần nhiều vốn, kaizen tập trung đầu tư vào các khoản sáng tạo liên tục và giải quyết nhiều vấn đề nhỏ Sức mạnh thực sự của Kaizen là quá trình liên tục liên tục cải tiến nhỏ cải thiện quy trình và giảm thiểu sự lãng phí Hơn thế, thực sự triết lý Kaizen còn nằm đằng sau các khái niệm quản trị của Nhật Bản như kiểm soát chất lượng tổng thể, vòng tròn kiểm soát chất lượng, 5S, 7 công cụ cơ bản của chất lượng
1.2.5 Sự cần thiết của Kaizen trong các doanh nghiệp sản xuất ô tô
Mỗi doanh nghiệp trong ngành chế tạo và lắp ráp ô tô đều có những cách riêng trong việc áp dụng các công cụ, chiến lược để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình Vì có tầm bao phủ rộng cùng với những lợi ích thu được là rất lớn mà Kaizen luôn xuất hiện trong các chiến lược của các nhà sản xuất ô tô Ô tô
là một mặt hàng có giá trị lớn, và được người dùng cân nhắc rất kỹ lưỡngkhi mua,
vì vậy người dùng cuối luôn đặt chất lượng và mẫu mã sản phẩm lên đầukhi chọn lựa Trong một thị trường có vô vàn nhãn hiệu xe, nhà sản xuất cần chú ýnâng cao sản phẩm của mình nếu muốn giữ chân được khách hàng Và Kaizen đápứng được điều đó Triết lý Kaizen rất dễ để khiến mọi người hiểu, nhưng hiệu quả nó đem lạitrải dài từ những bước đầu tiên như thiết kế, tìm nguyên liệu cho đến bước xuất xưởng, và xuyên suốt trong quá trình quản trị của doanh nghiệp Sự đổi mới trong các nhóm doanh nghiệp này là rất khó Những doanh nghiệp sản xuất ô tô thường
Trang 10phải mất gần một thập kỷ mới có thể ra đời 1 dòng động cơ hay một thiết kế mới khác hoàn toàn so với trước đây, và với chi phí không hề nhỏ cho những nghiên cứu này Thay vì phải đầu tư đổi mới cả một hệ thống sản xuất và những quá trình quản trị với chi phí lớn, thì với Kaizen, khi áp dụng cải tiến từng bước một, chi phí
để đầu tư cho việc cải thiện chất lượng này sẽ ở mức chấp nhận được và đó là yếu
tố cạnh tranh vô cùng lớn trong nhóm sản phẩm này Đó là lý do tại sao Kaizen luôn xuất hiện trong các công cụ cải tiến chất lượng của các doanh nghiệp sản xuất
ô tô
LƯỢNG TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT Ô TÔ TOYOTA
Để làm rõ hơn về thực trạng áp dụng triết lý Kaizen trong sản xuất và quản trị, nghiên cứu này sẽ sử dụng những số liệu thực tế từ một hãng xe lớn của Nhật Bản –Toyota
2.1 Chọn doanh nghiệp :
2.1.1 Tập đoàn Ô tô Toyota
- Toyota một nhà sản xuất ô tô đa quốc gia của Nhật Bản có trụ sở tại Toyota, Aichi,Nhật Bản Trong năm 2017, cơ cấu doanh nghiệp của Toyota bao gồm 364.445 nhân viên trên toàn thế giới Tính đến tháng 9 năm 2018, đây là công ty lớn thứ sáu trên thế giới tính theo doanh thu
- Nhà sáng lập: Toyoda Kiichirō
- Trụ sở: Toyota, Aichi, Nhật Bản
- Số lượng nhân viên: 366.283
- Ngày thành lập: 28 tháng 8, 1937, Nhật Bản
- Công ty con: Lexus, Daihatsu, Tập đoàn Dịch vụ Tài chính Toyota, THÊM
- Công ty mẹ: Suzuki, Subaru Corporation, Tập đoàn Toyota, Toyota Industries
2.1.2 Lịch sử hình thành
Những năm 1920–1930
Máy dệt tự động Toyoda được sản xuất hàng loạt được trưng bày tại Bảo tàng Toyota ở Aichi-gun, Nhật Bản Năm 1924, Sakichi Toyoda đã phát minh ra Máy dệt tự động Toyoda Model G Nguyên tắc jidoka, nghĩa là máy tự dừng khi có sự
Trang 11cố, sau này đã trở thành một phần của Hệ thống sản xuất Toyota Máy dệt được chế tạo trên dây chuyền sản xuất nhỏ Năm 1929, bằng sáng chế cho máy dệt tự động đã được bán cho công ty Platt Brothers của Anh, tạo ra vốn đầu tư cho phát triển ô tô Việc sản xuất ô tô Toyota được bắt đầu vào năm 1933 như một bộ phận của Toyoda Automatic Loom Works chuyên sản xuất ô tô dưới sự chỉ đạo của con trai người sáng lập, Kiichiro Toyoda Phương tiện đầu tiên của hãng là xe du lịch A1 và xe tải G1 vào năm 1935 Công ty ô tô Toyota được thành lập như một công
ty độc lập vào năm 1937 Ban đầu xe được bán dưới tên "Toyoda" (ト ヨ ダ), từ
họ của người sáng lập công ty , Kiichirō Toyoda Vào tháng 4 năm 1936, chiếc xe chở khách đầu tiên của Toyoda, Model AA, được hoàn thành Giá bán là 3.350 yên, rẻ hơn 400 yên so với xe Ford hoặc GM Vào tháng 9 năm 1936, công ty tổ chức một cuộc thi công khai để thiết kế một logo mới Trong số 27.000 bài dự thi, bài chiến thắng là ba chữ cái katakana tiếng Nhật cho "Toyoda" trong một vòng tròn Tuy nhiên, Rizaburo Toyoda, người đã kết hôn trong một gia đình và không được sinh ra với cái tên đó, lại thích "Toyota" (ト ヨ タ) vì phải mất tám nét cọ (một con số may mắn) để viết bằng tiếng Nhật, trực quan đơn giản hơn (bỏ dấu phụ ở cuối), và với một phụ âm vô thanh thay vì một phụ âm hữu thanh (các phụ
âm hữu thanh được coi là có âm thanh "âm u" hoặc "đục ngầu" so với các phụ âm
vô thanh là "rõ ràng") Vì toyoda theo nghĩa đen có nghĩa là "những cánh đồng lúa màu mỡ", việc thay đổi tên cũng khiến công ty không thể gắn liền với hình thức canh tác kiểu cũ Từ mới thành lập đã được đăng ký nhãn hiệu và công ty đã được đăng ký vào tháng 8 năm 1937 với tên gọi Toyota Motor Company Chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ công ty bằng cách ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh nước ngoàiFord và General Motors nhập khẩu ô tô vào Nhật Bản
Những năm 1940–1950
Mô hình vương miện Toyopet thế hệ đầu tiên RSD (1955/1 - 1958/10) Từ tháng 9 năm 1947, các loại xe cỡ nhỏ của Toyota được bán với tên "Toyopet" (ト ヨ ペ ッ ト) Loại xe đầu tiên được bán dưới cái tên này là Toyopet SA,] nhưng nó cũng bao gồm các loại xe như xe tải hạng nhẹ Toyopet SB, xe tải hạng nhẹ Toyopet Stout, [36] Toyopet Crown, Toyopet Master và Toyopet Corona Từ "Toyopet" (bài báo tiếng Nhật) là biệt danh được đặt cho Toyota SA do kích thước nhỏ của
nó, là kết quả của cuộc thi đặt tên do Công ty Toyota tổ chức vào năm 1947 Tuy nhiên, khi Toyota cuối cùng thâm nhập thị trường Mỹ vào năm 1957 với Crown, cái tên không được đón nhận nhiều do liên quan đến đồ chơi và vật nuôi Chiếc xe
Trang 12đã bị rút khỏi thị trường Mỹ vào năm 1958, nhưng vẫn tiếp tục ở các thị trường khác cho đến giữa những năm 1960 Công ty tiếp tục được nhà nước hỗ trợ Năm
1949, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, ngân hàng trung ương của đất nước, đã đứng ra bảo lãnh cho công ty Tên "Toyopet" vẫn được sử dụng ở Nhật Bản bởi một mạng lưới đại lý được gọi là "Toyopet Store"
Những năm 1960 – 1970
Vào đầu những năm 1960, Mỹ đã bắt đầu áp đặt thuế nhập khẩu cứng đối với một
số loại xe nhất định Cái gọi là "thuế gà" năm 1964 đánh thuế 25% đối với xe tải hạng nhẹ nhập khẩu Để đối phó với thuế quan, Toyota, Nissan Motor Co và Honda Motor Co bắt đầu xây dựng các nhà máy ở Mỹ vào đầu những năm 1980
Những năm 1980
Vào những năm 1980, Toyota Corolla là một trong những chiếc xe phổ biến nhất
và bán chạy nhất trên thế giới Toyota đã nhận được Giải thưởng Kiểm soát Chất lượng Nhật Bản đầu tiên vào đầu những năm 1980 và bắt đầu tham gia vào một loạt các môn đua xe thể thao Do cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, người tiêu dùng tại thị trường béo bở của Mỹ bắt đầu chuyển sang chế tạo những chiếc xe nhỏ
có khả năng tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn Các nhà sản xuất ô tô Mỹ đã coi ô tô hạngphổ thông nhỏ là một sản phẩm cấp thấp, và các loại xe nhỏ của họ sử dụng chất lượng thấp để giữ giá thấp Toyota bảo thủ đã giữ các thiết kế dẫn động cầu sau lâuhơn hầu hết; trong khi đứng thứ nhất về sản lượng tổng thể, họ chỉ đứng thứ ba về sản lượng xe dẫn động cầu trước vào năm 1983, sau Nissan và Honda Một phần
do điều này, Sunny của Nissan đã vượt qua Corolla về số lượng được sản xuất trong năm đó Năm 1982, Toyota Motor Company và Toyota Motor Sales hợp nhấtthành một công ty, Toyota Motor Corporation Hai năm sau, Toyota liên doanh vớiGeneral Motors có tên là New United Motor Manufacturing, Inc, NUMMI, vận hành một nhà máy sản xuất ô tô ở Fremont, California Nhà máy là nhà máy lắp ráp General Motors Fremont cũ đã đóng cửa trong hai năm Nó hiện là nơi đặt nhà máy lắp ráp của Tesla, Inc Toyota sau đó bắt đầu thành lập các thương hiệu mới vào cuối những năm 1980, với sự ra mắt của bộ phận xe sang Lexus vào năm 1989
Những năm 1990
Trang 13Toyota Supra (JZA80) là một trong những mẫu xe thể thao Nhật Bản được cơng nhận nhiều nhất Vào những năm 1990, Toyota bắt đầu mở rộng sản xuất chủ yếu là
xe nhỏ gọn bằng cách bổ sung nhiều loại xe lớn hơn và sang trọng hơn vào dịng sản phẩm của mình, bao gồm một chiếc bán tải cỡ lớn, T100 (và sau đĩ là Tundra),một số dịng xe SUV, một phiên bản thể thao Của Camry, được gọi là Camry Solara Họ cũng sẽ tung ra các phiên bản mới hơn của những chiếc xe thể thao của
họ, cụ thể là MR2, Celica và Supra trong thời đại này Với sự hiện diện lớn ở Châu
Âu, nhờ sự thành cơng của Toyota Team Europe, tập đồn đã quyết định thành lập Cơng ty Tiếp thị và Kỹ thuật Toyota Motor Châu Âu, TMME, để giúp tiếp thị xe ở Châu lục này Hai năm sau, Toyota thành lập một cơ sở tại Vương quốc Anh, TMUK, vì những chiếc xe của cơng ty đã trở nên rất phổ biến trong giới lái xe ở Anh Các căn cứ ở Indiana, Virginia và Thiên Tân cũng được thành lập Vào ngày
29 tháng 9 năm 1999, cơng ty quyết định niêm yết trên Sở giao dịch chứng khốn New York và London
Những năm 2000
Năm 2001, Toyo Trust and Banking của Toyota hợp nhất với hai ngân hàng khác
để thành lập Ngân hàng UFJ, ngân hàng bị chính phủ Nhật Bản cáo buộc tham nhũng vì cho vay mà khơng thể đị lại từ các tổ chức tội phạm Yakuza với các giám đốc bị cáo buộc ngăn chặn các cuộc thanh tra của Cơ quan Dịch vụ Tài chính.UFJ được xếp vào danh sách các tập đồn thua lỗ lớn nhất trên thế giới của Tạp chíFortune, với chủ tịch của Toyota là giám đốc Vào thời điểm đĩ, UFJ là một trong những cổ đơng lớn nhất của Toyota Do hậu quả của cuộc khủng hoảng ngân hàng của Nhật Bản, UFJ đã hợp nhất với Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi để trở thành Tập đồn tài chính Mitsubishi UFJ Năm 2002, Toyota tham gia cuộc thi Cơng thức Một và thành lập liên doanh với các cơng ty ơ tơ Pháp Citroën và Peugeot một nămsau khi Toyota bắt đầu sản xuất ơ tơ tại Pháp Một thương hiệu dành cho giới trẻ Bắc Mỹ, Scion, đã được giới thiệu vào năm 2003 Toyota xếp thứ tám trong danh sách các cơng ty hàng đầu thế giới năm 2005 của Forbes năm 2005 nhưng tụt xuống vị trí thứ 55 vào năm 2011 Cơng ty đứng đầu về doanh số bán ơ tơ tồn cầutrong quý đầu tiên của năm 2008 Vào năm 2007, Toyota đã phát hành bản cập nhật cho chiếc xe tải cỡ lớn của mình, Tundra, được sản xuất tại hai nhà máy ở
Mỹ, một ở Texas và một ở Indiana Motor Trend đặt tên cho Tundra là "Xe tải của năm" và Toyota Camry 2007 là "Xe của năm" cho năm 2007 Nĩ cũng bắt đầu xây dựng hai nhà máy mới, một để chế tạo RAV4 ở Woodstock, Ontario, Canada, và khác để chế tạo Toyota Prius ở Blue Springs, Mississippi, Mỹ Nhà máy này ban
Trang 14đầu được dự định chế tạo Toyota Highlander, nhưng thay vào đó Toyota quyết định sử dụng nhà máy ở Princeton, Indiana, Hoa Kỳ Công ty cũng đã đạt được thành công gần đây với các mẫu xe nhỏ hơn - Corolla và Yaris.
Những năm 2010
Năm 2011, Toyota cùng với các bộ phận lớn của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản
đã phải hứng chịu một loạt các thảm họa thiên nhiên Trận Động đất và sóng thần Tōhoku 2011 đã dẫn đến sự gián đoạn nghiêm trọng của cơ sở cung cấp và giảm sản xuất và xuất khẩu Lũ lụt nghiêm trọng trong mùa gió mùa 2011 ở Thái Lan đã ảnh hưởng đến các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã chọn Thái Lan làm cơ sở sản xuất Toyota ước tính đã mất sản lượng 150.000 chiếc do sóng thần và 240.000 chiếc do lũ lụt Vào ngày 10 tháng 2 năm 2014, có thông báo rằng Toyota sẽ ngừngsản xuất xe và động cơ tại Úc vào cuối năm 2017 Quyết định này dựa trên việc đồng đô la Úc không thuận lợi khiến xuất khẩu không khả thi, chi phí sản xuất trong nước cao và mức độ cạnh tranh cao ở một thị trường địa phương tương đối nhỏ Công ty có kế hoạch hợp nhất các chức năng của công ty tại Melbourne vào cuối năm 2017 Trụ sở chính sẽ vẫn ở Port Melbourne và nhà máy Altona sẽ được giữ lại cho các chức năng khác Lực lượng lao động dự kiến sẽ giảm từ 3.900 xuống 1.300 Cả Ford Motor Company và General Motors (Holden) đã làm theo, chấm dứt hoạt động sản xuất tại Úc lần lượt vào năm 2016 và 2017 Nhà sản xuất ô
tô này đã suýt đứng đầu doanh số toàn cầu trong nửa đầu năm 2014, bán được 5,1 triệu xe trong sáu tháng kết thúc vào ngày 30 tháng 6 năm 2014, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước Volkswagen AG, công ty đạt doanh số 5,07 triệu xe, xếp sau Vào tháng 8 năm 2014, Toyota tuyên bố sẽ cắt giảm giá phụ tùng tại Trung Quốc lên tới 35% Công ty thừa nhận động thái này là để đáp lại một cuộc điều tra được báo trước vào đầu tháng của Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc
về các chính sách phụ tùng Lexus của Toyota, như một phần của cuộc điều tra toànngành về điều mà cơ quan quản lý Trung Quốc coi bởi các nhà sản xuất ô tô để cung cấp phụ tùng và dịch vụ sau bán hàng Vào tháng 11 năm 2015, công ty thôngbáo rằng họ sẽ đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ trong vòng 5 năm tới vào nghiên cứu trí tuệ nhân tạo và người máy Năm 2016, Toyota đầu tư vào Uber Vào năm 2020, một báo cáo quản trị công ty cho thấy Toyota sở hữu 10,25 triệu cổ phiếu Uber, trị giá 292,46 triệu USD tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2020 Theo Reuters, đây là
khoảng 0,6% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của Uber Vào tháng 3 năm 2016, Toyota hợp tác với Yanmar để tạo ra một chiếc thuyền du lịch bằng sợi thủy tinh
sử dụng động cơ diesel hàng hải gắn ngoài của Yanmar hoặc động cơ gắn trong
Trang 15của Toyota Vào ngày 27 tháng 8 năm 2018, Toyota đã công bố khoản đầu tư 500 triệu đô la vào xe ô tô tự lái của Uber.
Logo hiện nay của Toyota bao gồm 3 hình eclipse lồng vào nhau (tượng trưng cho
3 trái tim) mang ý nghĩa: một thể hiện sự quan tâm đối với khách hàng, một tượng trưng cho chất lượng sản phẩm và một là những nỗ lực phát triển khoa học công nghệ không ngừng Sự chồng chéo của hình bầu dục vuông góc với hai bên trong các hình bầu dục bên ngoài tượng trưng cho “T” cho Toyota, cũng như một bánh
xe chỉ đạo, đại diện cho bản thân chiếc hình bầu dục bên ngoài tượng trưng cho thếgiới ôm Toyota, khoảng không gian thể hiện giá trị vô hạn mà Toyota mang lại
Trang 162.2 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp :
Vào ngày 14 tháng 6 năm 2013, Toyota Motor Corporation thông báo về việc bổ nhiệm các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài; đây là lần đầu tiên của công ty
và được thực hiện sau sự chấp thuận của các cổ đông tại cuộc họp cùng ngày Ngoài ra, Phó chủ tịch Takeshi Uchiyamada đã thay thế Fujio Cho làm chủ tịch, vì người sau này trở thành chủ tịch danh dự trong khi Toyoda vẫn giữ chức chủ tịch
Trang 17Đây là cơ cấu tổ chức theo kiểu hỗn hợp, kết hợp giữa mô hình cơ cấu chức năng
và khu vựa địa lý, nhằm phù hợp với tập đoàn mang tính chất đa quốc gia của Toyota Quá trình ra quyết định hay cơ chế phân quyền tại Toyota tuân theo cơ chếquản lý tập trung, đây là một nét đặc trưng của các công ty theo kiểu công ty gia đình tại Nhật Bản CEO là người quản lý cao nhất tại một quốc gia CEO của
Toyota tại một công ty ở một quốc gia bất kỳ luôn là một người Nhật, chịu trách nhiệm quản lý Tuy nhiên CEO ở một quốc gia không được phép đưa ra những quyết định quan trọng, ví dụ những quyết định về chiến lược, về sản phẩm, cơ cấu công ty Những quyết định này đều phải được đưa về Nhật và được quyết định bởi hội đồng quản trị bên Nhật
2.3 Mô tả sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh
- Lĩnh vực kinh doanh: Ô tô, Rô-bốt, bất động sản, hàng hải, công nghệ sinh học và trồng rừng, nghiệp vụ tài chính (chỗ thuê xe, sửa chữa, lắp ráp )
- Mô tả các dòng sản phẩm :
Các dòng thân thiện với môi trường
Xe điện
Công nghệ điện Xe điện hybrid Toyota là công ty dẫn đầu thị trường trên thế giới
về doanh số bán xe điện hybrid, một trong những công ty lớn nhất khuyến khích việc áp dụng đại trà xe hybrid trên toàn cầu và là công ty đầu tiên sản xuất thương mại và bán những loại xe như vậy, với sự ra đời của Toyota Prius vào năm 1997 Cuối cùng, công ty đã bắt đầu cung cấp tùy chọn này trên các xe du lịch chính của mình như Camry và sau đó là các bộ phận của Lexus, sản xuất một số loại xe hạng sang hybrid Nó dán nhãn công nghệ như vậy trong xe Toyota là "Hybrid Synergy Drive" và trong các phiên bản Lexus là "Lexus Hybrid Drive" Doanh số toàn cầu cộng dồn của các mẫu xe du lịch hybrid của Toyota và Lexus đã vượt mốc 15 triệu chiếc vào tháng 1 năm 2020 Dòng xe Prius của nó là dòng xe hybrid bán chạy nhất thế giới với gần 4 triệu chiếc được bán ra trên toàn thế giới tính đến tháng 1 năm 2017
Trang 18Toyota Prius, ngọn cờ đầu về công nghệ hybrid của Toyota,và là chiếc xe hybrid bán chạy nhất thế giới với gần 4 triệu chiếc được bán tính đến tháng 1 năm 2017.
-Tính đến tháng 1 năm 2020, Toyota Motor Corporation đã bán 44 mẫu xe du lịch hybrid của Toyota và Lexus và một mẫu plug-in hybrid tại hơn 90 quốc gia và khu vực trên thế giới, và hãng xe này dự kiến sẽ đạt doanh số hàng năm là 1,5 triệu chiếc và doanh số cộng dồn là 15 triệu chiếc vào năm 2020 Prius liftback là chiếc
xe hybrid xăng-điện bán chạy nhất thế giới và đã bán được 3 triệu chiếc vào tháng
6 năm 2013, và doanh số cộng dồn kể từ năm 1997 đạt 3.984.600 chiếc vào cuối tháng 1 năm 2017 Prius liftback xếp hạng bán chạy nhất xe hybrid tại thị trường
Mỹ, và bán được 1 triệu vào tháng 4 năm 2011 Doanh số cộng dồn của Prius tại Nhật Bản đạt mốc 1 triệu vào tháng 8 năm 2011 Tính đến tháng 1 năm 2017, tổng doanh số của Prius đạt hơn 1,8 triệu xe tại Nhật Bản và 1,75 triệu ô tô ở Mỹ
Doanh số bán xe hybrid TMC cộng dồn kể từ khi Prius được giới thiệu tại Châu
Âu vào năm 2000 đạt tổng cộng 2,8 triệu chiếc vào tháng 4 năm 2020
- Doanh số bán xe hybrid trên toàn thế giới do Toyota sản xuất đạt 1 triệu xe vào ngày 31 tháng 5 năm 2007 và 2 triệu xe vào tháng 8 năm 2009, với các mẫu xehybrid được bán ở 50 quốc gia Cột mốc doanh số 5 triệu xe hybrid đạt được vào tháng 3 năm 2013 Trong năm 2012, lần đầu tiên các mẫu xe hybrid của Toyota và Lexus đã bán được hơn 1 triệu chiếc mỗi năm, với 1,219 triệu chiếc được bán ra
Trang 19Trong năm 2013, TMC đã bán được 1,279 triệu chiếc và đạt được cột mốc 6 triệu chiếc vào tháng 12 năm 2013, chỉ 9 tháng sau cột mốc triệu chiếc gần đây nhất Con số 7 triệu xe đã đạt được vào tháng 9 năm 2014, một lần nữa, bán được một triệu chiếc hybrid trong 9 tháng, và cột mốc doanh số 8 triệu chiếc đạt được vào tháng 7 năm 2015, chỉ 10 tháng sau cột mốc một triệu chiếc trước đó Doanh số 9 triệu chiếc đã đạt được vào tháng 4 năm 2016, một lần nữa, bán được một triệu chiếc hybrid chỉ trong chín tháng và cột mốc 10 triệu chiếc vào tháng 1 năm 2017, một lần nữa là chín tháng sau đó Cột mốc 15 triệu xe đạt được vào tháng 1 năm
2020 Toyota ước tính rằng đến tháng 1 năm 2020, các mẫu xe hybrid của hãng đã thải ra ít hơn 120 triệu tấn khí thải carbon dioxide (CO2) so với lượng phát thải từ các xe chạy xăng có cùng kích thước và hiệu suất
- Tính đến tháng 4 năm 2016, bên cạnh bốn thế hệ Prius Liftback, dòng sản phẩm hybrid của Toyota bao gồm Prius α / Prius v / Prius +, Aqua / Prius c, CamryHybrid (thế hệ 1 và 2), Toyota Highlander Hybrid (Kluger Hybrid tại Nhật Bản), Toyota Avalon Hybrid, Toyota Auris Hybrid, Toyota Yaris Hybrid (chỉ dành cho Châu Âu) và các mẫu xe sau chỉ được bán tại Nhật Bản: Alphard Hybrid / Vellfire Hybrid, Estima Hybrid, Toyota Sai, Toyota Harrier, Toyota Crown Hybrid, ToyotaCrown Mild Hybrid, Toyota Crown Majesta, Corolla Axio, Corolla Fielder, ToyotaVoxy / Noah / Esquire, Toyota Sienta, Toyota Corolla Hybrid, Toyota Levin
Hybrid và Toyota RAV4 Hybrid Bắt đầu từ năm 2011, TMC đã giới thiệu ba thành viên mới trong gia đình Prius, đó là Prius v (Prius α ở Nhật Bản và Prius + ở châu Âu), Prius c (Toyota Aqua ở Nhật Bản) và Toyota Prius Plug-in Hybrid, đượcphát hành tại 2012 tại Nhật Bản, Mỹ và Châu Âu Với tổng số 247.230 xe được bán ra trong quý đầu tiên của năm 2012, gia đình Toyota Prius đã trở thành dòng
xe bán chạy thứ ba trên thế giới về tổng doanh số toàn cầu sau Toyota Corolla (300.800 chiếc) và Ford Focus (277.000 chiếc) Cho đến tháng 9 năm 2012, Prius liftback là chiếc xe mới bán chạy nhất tại Nhật Bản trong 16 tháng liên tiếp, cho đến khi bị Toyota Aqua (Prius c) vượt qua vào tháng 10 năm 2012 Với 266.567 chiếc được bán tại Nhật Bản trong năm 2012, Aqua là được coi là lần ra mắt bảng tên thành công nhất tại thị trường Nhật Bản trong 20 năm qua
Trang 20Lexus RX 450h là mẫu xe hybrid bán chạy nhất của thương hiệu Lexus với doanh số bán hàng toàn cầu là 363.000 chiếc tính đến tháng 1 năm
2017.
- Mẫu Prius c / Aqua, với doanh số toàn cầu là 1.380.100 chiếc tính đến tháng
1 năm 2017, là mẫu hybrid bán chạy thứ hai của TMC sau Prius liftback, tiếp theo
là Prius α / v / + với 671.200 chiếc và hai thế hệ của Camry Hybrid, với 614.700 chiếc được bán ra trên toàn thế giới, tính đến hết tháng 1 năm 2017 Đối với cả hai biến thể gia đình Prius, Nhật Bản là thị trường bán chạy nhất trong khi Mỹ là thị trường Camry bán chạy nhất Xếp ở vị trí tiếp theo là Auris với 378.000 chiếc đượcbán ra, trong đó Châu Âu là thị trường hàng đầu với 354.600 chiếc được bán ra Lexus cũng có dòng sản phẩm hybrid của riêng họ, và tính đến tháng 8 năm 2015, bao gồm LS 600h / LS 600h L, GS 450h, RX 400h / RX 450h, Lexus HS 250h, Lexus CT 200h, Lexus ES 300h, Lexus IS 300h, Lexus NX 300h và Lexus RC 300h Doanh số cộng dồn toàn cầu của thương hiệu Lexus hybrid đạt mốc 500 nghìn vào tháng 11 năm 2012 Cột mốc doanh số 1 triệu đạt được vào tháng 3 năm
2016 Lexus RX 400h / RX 450h xếp hạng là Lexus hybrid bán chạy nhất với 363.000 chiếc được giao trên toàn thế giới tính đến tháng 1 năm 2017, tiếp theo là Lexus CT 200h với 290.800 chiếc và Lexus ES 300h với 143.200 chiếc
Xe lai
- Dự án xe điện hybrid plug-in của Toyota bắt đầu vào năm 2007, với việc thửnghiệm trên đường của mẫu xe nguyên mẫu ở Pháp và Anh vào năm 2008 Toyota
đã sản xuất 600 chiếc Prius phục vụ cho khách hàng chính phủ và đội xe taxi thuê
230 chiếc đã được giao tại Nhật Bản bắt đầu từ cuối tháng 12 năm 2009, 125 chiếc
Trang 21được phát hành tại Mỹ vào đầu năm 2010 và 200 chiếc tại 18 quốc gia châu Âu vào năm 2010 Pháp, Anh và Đức có đội xe lớn nhất với 150 PHEV Canada, Trung Quốc, Úc và New Zealand cũng tham gia vào chương trình trình diễn toàn cầu.
Bộ pin của Toyota Prius PHV
- Phiên bản sản xuất hàng loạt của Toyota Prius Plug-in Hybrid được bắt đầu tại Nhật Bản vào tháng 1 năm 2012, tiếp theo là Hoa Kỳ vào cuối tháng 2 và việc giao hàng ở châu Âu bắt đầu vào cuối tháng 6 năm 2012 Tính đến tháng 4 năm
2016, tổng doanh số bán hàng toàn cầu đạt 75.400 chiếc Prius PHV kể từ đó Năm
2012, với Bắc Mỹ là thị trường hàng đầu trong khu vực với 42.700 chiếc, tiếp theo
là Nhật Bản với khoảng 22.100 chiếc, Châu Âu với 10.500 chiếc và chỉ khoảng
100 chiếc ở các nước còn lại trên thế giới Hoa Kỳ là quốc gia dẫn đầu thị trường với 42.320 chiếc được giao đến hết tháng 4 năm 2016 Thị trường hàng đầu châu
Âu là Hà Lan với 4.134 chiếc được đăng ký tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2015
- Trong năm đầu tiên có mặt trên thị trường, tổng cộng 27.279 chiếc Prius PHV đã được bán trên toàn thế giới, cho phép phiên bản plug-in xếp hạng là chiếc