1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Pháp luật lao động thụy điển về bình đẳng giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A7/ 4 AT ''''ức VÀ PHÁP LUẬT NU''''ỚC NGOÀỊ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG THỤY ĐIÊN VÊ BÌNH ĐANG GIỚI VÀ MỘT SÔ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM HÀ THỊ HOA PHƯỢNG * NGUYỄN THỊ MINH HUYỀN ** * Thạc sĩ, Tnròug Đại học L[.]

Trang 1

A7/.4 AT 'ức VÀ PHÁP LUẬT NU'ỚC NGOÀỊ

HÀ THỊ HOA PHƯỢNG * NGUYỄN THỊ MINH HUYỀN **

* Thạc sĩ, Tnròug Đại học Luật Hà Nội

E-mail: phuonghth.gv@hlu.edu.VII

** Công ti TNHH True Legal Việt Nam

E-mail: minhhuyenhlu98@gmail.com

1 European Institute for Gender Equality (2020),

https://eige.europa.eu/publications/gender-equality-

index-2020-sweden, truy cập 09/12/2021.

Tóm tắt: Trái qua các giai đoạn lịch sử, Thụy Điển hiện nay là đất nước đứng đầu châu Âu về các chi sổ bình đẳng giới, đặc biệt trong lĩnh vực lao động Bài viết phân tích các quy định hiện hành của pháp luật lao động Thụy Điển về bình đẳng giới bao quát trên bổn lĩnh vực là tiếp cận việc làm và đào tạo nghề, tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiêm xã hội Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra một sô bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn để này.

Từ khoá: Bình đắng giới; pháp luật lao động; Thụy Điên

Nhận bài: 15/6/2021 Hoàn thành biên tập: 26/4/2022 Duyệt đãng: 26/4/2022

LABOR REGULATIONS ON GENDER EQUALITY IN SWEDEN AND SOME LESSONS FOR VIETNAM

Abstracts: Thanks to the historical development of the Swedish model of labor law, as well as the development in women's legal rights, Sweden is now the leading country in Europe in terms of gender equality, especially in the field of labor This article focuses on analyzing the current provisions of the Swedish labor law on gender equality, including access to employment and vocational training, wages, working conditions, and social insurance On that basis, the paper proposes some recommendations to improve and enhance the effectiveness of the implementation of Vietnamese laws ’provisions on this issue Keywords: Gender equality; labor law; Sweden

Received: June 15th , 2021; Editing completed: Apr 26 lh, 2022; Accepted for publication: Apr 26th 2022

1 Khái quát lịch sử phát triển của pháp

luật lao động Thụy Điển về bình đẳng giói

Theo sổ liệu thống kê năm 2020 của EU

về chỉ số bình đẳng giới (BĐG), Thụy Điển

đứng thứ nhất với 83,8 điểm so với điềm

trung bình của EU là 67.9 \ Để đạt được kết

quả này, Thụy Điển đã đi một chặng đường rất dài trong công cuộc bảo đảm BĐG trong lao động nói chung và bảo vệ quyền cho lao động nữ nói riêng Cho đến nay, pháp luật lao động Thụy Điển về BĐG đã trải qua ba giai đoạn phát triển như sau:

1.1 Giai đoạn từ 1800 -1962

Từ đầu thế kỉ XIX, nền kinh tế Thụy Điển chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp với một tốc độ kỉ lục Sự phát triển về kinh tế cùng với sự thiếu hụt nam giới tham gia vào lực lượng lao động

82 TẠP CHÍLUẬT HỌC SỐ 4/2022

Trang 2

A HÀ XƯỚC \ PHÁP LUẬT Nl "Ớc NGOÀI

do kết quả cuộc chiến tranh của Thụy Điển

với Nga đã dần mở ra cơ hội cho phụ nữ

Thụy Điển tham gia vào các hoạt động

kinh tế2

2 Laura Carlson, Searching for Equality: Sex

Discrimmination, Parental Leave and the Swedish

Model with Comparisons to EU, UK and US Law,

2007, tr 84.

3 Lag angâende minderảrigas och qvinnors anvăndande

till arbete i industriellt yrke, http://www2.ub.gu.se/

kvinn/portaler/arbete/offentligt/SFSl 900_75.pdf,

truy cập 09/12/2021.

4 Lag angảende forbud mot kvinnors anvăndande till

arbete nattetid i vissa industriella foretag,

https:// www.riksdagen se/sv/dokument-lagar/doku

ment/statens-offentliga-utredningar/angaende-

forbud-mot-kvinnors-anvandande_D5E03b2, truy

cập 09/12/2021.

Từ sau khi Tổng Liên đoàn lao động đầu

tiên ở Thụy Điển ra đời năm 1898, Nhà nước

bắt đầu luật hoá những biện pháp bảo vệ lao

động nữ như nghỉ phép không lương trong

thời gian sinh con, quy định một số công

việc phụ nữ không được làm, cấm sử dụng

phụ nữ làm đêm Đạo luật bảo vệ đầu tiên

liên quan đến phụ nữ là Đạo luật về trẻ em

và phụ nữ làm việc trong ngành công

nghiệp ban hành năm 19003 Theo đó, lần

đầu tiên cấm sừ dụng phụ nữ làm việc trong

môi trường nguy hiểm (hầm mỏ và mở đá)

trong vòng 4 tuần sau sinh Đạo luật cấm sử

dụng phụ nữ làm việc vào ban đêm trong

ngành công nghiệp năm 1907 quy định cấm

các công ti có từ 10 công nhân trở lên sử

dụng lao động nữ làm việc theo ca quá 13

tiếng/ngày hoặc làm việc từ 10 giờ đêm

đến 5 giờ sáng4

Như vậy, pháp luật Thụy Điển giai

đoạn này bước đầu đã có những quy định

bảo vệ lao động nữ song chưa có tính toàn diện và chưa đề cập vấn đề phân biệt đối

xử về giới

1.2 Giai đoạn từ 1962 -1995

Năm 1962, Quốc hội Thụy Điển phê chuẩn 2 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau và Công ước số 111 về Phân biệt đối

xử trong việc làm và nghề nghiệp Sự kiện này đã làm thay đổi quan điểm lập pháp về bảo vệ lao động nữ Theo đó, quyền của lao động nữ bắt đầu được nhìn nhận một cách đầy đủ hơn cùng với những nồ lực thúc đẩy bình đẳng giữa hai giới, ở cả nơi làm việc và trong gia đình

Hiến pháp Thụy Điển năm 1974 quy định: “Mọi văn bản hoặc quy phạm pháp luật không được quy định sự đối xử bất công với bất kì công dân nào vì lí do giới tinh, trừ khi những quy định đó liên quan đến nghĩa vụ quân sự hoặc bất kì một nghĩa

vụ nhà nước nào khác Điều này cho thấy

Nhà nước Thụy Điển đã chú trọng vấn đề phân biệt đối xử về giới Trên cơ sở Hiến pháp năm 1974, nhiều đạo luật bảo đảm BĐG trong lình vực lao động đã ra đời Luật về các cơ hội bình đẳng năm 1979 ra đời hướng đến mục tiêu thúc đẩy bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực lao động, đặc biệt là nâng cao điều kiện lao động và cơ hội phát triển cho lao động nữ Luật Nghỉ phép của cha mẹ năm 1976 quy định nghỉ thai sản bắt buộc đối với lao động

nữ và lao động nam có vợ sinh con Luật này cũng bảo đảm cho lao động nữ có quyền nghỉ cho con bú, quyền được nhận

TẠPCHÍLUẬT HỌC SỐ4/2022 83

Trang 3

XỈỈA NU Ó c E4 PHÁP LUẠ T NUÓC NGOÀI

trợ cấp khi sinh con, quyền được nghỉ vi

nhận con nuôi

Có thể thấy, điểm nhấn của pháp luật lao

động về BĐG trong giai đoạn 1962 - 1995 ở

Thụy Điển là sự ghi nhận của Hiến pháp về

vấn đề cấm phân biệt đối xử, từ đó các đạo

luật liên quan đã xây dựng được các quy

định tiến bộ, làm nền tảng vững chắc cho

những bước hoàn thiện ở giai đoạn sau

1.3 Giai đoạn từ 1995 đến nay

Sự kiện Thụy Điển chính thức trở thành

thành viên của Liên minh châu Âu vào năm

1995 đã tác động rất lớn đến việc thay đổi

một số quy định về BĐG trong lĩnh vực lao

động tại nước này Trong quá trình nội luật

hoá các Chỉ thị của Liên minh châu Âu (Chỉ

thị 75/117/EEC, 76/2007/EEC, 96/34/EC,

97/80/EC ), Thụy Điển đã nỗ lực xây dựng

và bổ sung các quy định mới về bảo đảm và

thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực lao động

Năm 2000, Luật về Các cơ hội bình đẳng

năm 1979 đã bổ sung trách nhiệm của

NSDLĐ phải bảo đảm trả lương bình đẳng

Luật Nghỉ phép của cha mẹ sửa đổi năm

1996 bổ sung quyền chia thời gian nghỉ thai

sản thành từng phần thời gian 25%, 50%,

75%, 100% cho người lao động (NLĐ) sinh

con hoặc nhận con nuôi Các lần sửa đổi

khác đã bổ sung quyền của cha mẹ được

làm việc bán thời gian cho đến khi con đủ 8

tuổi mà NSDLĐ không được từ chối (trừ

trường hợp đặc biệt)

Cho đến nay, hệ thống pháp luật lao

động của Thụy Điển về BĐG đã tương đối

hoàn chỉnh, tiến bộ và phù hợp với các công

ước quốc tế cũng như các quy định của Liên

minh châu Âu Có thể nói đây là một trong

những lí do Thụy Điển luôn đứng đầu châu

Âu về chỉ số BĐG và luôn trong top 5 quốc gia có chỉ số khoảng cách giới thấp nhất trên thế giới5

5 World Economic Forum, The Global Gender Gap

Report 2018, 2017, 2015, https://www.weforum org/reports, truy cập 09/12/2021.

6 Điều 2 Chương 1 và Điều 13 Chương 2 Văn kiện của Chính phủ 2010, https://www.govemment.se/ information-material/2010/10/statement-of-govem ment-policy-5-october-2010/, truy cập 09/12/2021.

2 Những quy định hiện hành của pháp luật lao động Thụy Điển về bình đẳng giói

Từ yêu cầu cấm phân biệt đối xử dựa trên giới tính của Hiến pháp năm 1974, Thụy Điển đã nồ lực trong việc chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên các yếu tố về giới hoặc xu hướng tính dục Theo đó, không một điều khoản hoặc đạo luật nào được phép quy định những đối xử ít thuận lợi hơn đối với một cá nhân hoặc một nhóm người

vì lí do giới tính, trừ khi điều khoản này là một phần của nồ lực thúc đẩy bình đẳng giữa nam và nữ hoặc liên quan đến nghĩa vụ quân sự bắt buộc hoặc các nghĩa vụ chính thức tương đương khác6

Nhìn chung, pháp luật lao động Thụy Điển về bình đẳng giới được thể hiện trên bốn khía cạnh sau: 1) trong tiếp cận việc làm

và đào tạo nghề; 2) trong lĩnh vực tiền lương; 3) điều kiện làm việc; 4) trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội (BHXH)

2.1 Bình đắng giới trong tiếp cận việc làm và đào tạo nghề

Thứ nhất, trong tuyển dụng

Đe đảm bảo BĐG trong tuyển dụng, pháp luật Thụy Điển quy định nguyên tắc NSDLĐ phải đảm bảo cả lao động nam và

nừ đều có cơ hội ứng tuyển vào các vị trí cần tuyển dụng (Điều 7 Chương 3 Luật Phân biệt

84 TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ4/2022

Trang 4

NHÀ NUỚCVÀ PHÁP LUẬT NL ỚcNGOÀI

đối xử năm 20087) Điều này hướng đến loại

trừ những điêu kiện về giới tính trong quá

trình tuyển dụng Điều kiện tuyển dụng là

nhân tố chi phối các quyết định tuyển dụng,

làm ảnh hưởng đến tỉ lệ lao động (trong đó

có tỉ lệ nam - nừ) trong đơn vị Do đó, việc

quy định nghĩa vụ của NSDLĐ phải bảo đảm

BĐG từ giai đoạn tuyển dụng là rất cần thiết,

tạo điều kiện cho NLĐ ở các giới tính có cơ

hội tiếp cận việc làm ngang nhau

7 Discrimination Act (2008:567), https://www.gover

nment se/information-material/2015/09/discrimina

tion-act-2008567/, truy cập 09/12/2021.

8 Điều 7, Điều 9 Chưcmg 3 Luật Phân biệt đối xử của

Thuỵ Điển năm 2008.

9 Thuật ngữ “lifelong learning” dùng để chỉ mọi hoạt động học tập được thực hiện trong suốt cuộc đời nhằm nâng cao kiến thức, cách làm, kĩ năng, năng lực và/hoặc trình độ xuất phát từ các lí do mang tính

cá nhân, xã hội và/hoặc nghề nghiệp (CEDEFOP,

2003, https://www.cedefop.europa.eu/en/projects/ validation-non-formal-and-informal-leaming/euro pean-inventory/european-inventory-glossary, truy cập 09/12/2021.

10 European Commission, Country Report - Non-

discrimmination, Sweden 2019, p 41.

Trong trường hợp có khiếu nại, kiện tụng

về phân biệt đối xử trong tuyển dụng,

NSDLĐ có nghĩa vụ chứng minh rằng hành

động của họ không có sự phân biệt đối xử

(Điều 3 Chương 6 Luật Phân biệt đối xử

năm 2008) Việc quy định nghĩa vụ chứng

minh thuộc về NSDLĐ sẽ khiến NSDLĐ

phải nỗ lực duy trì và đảm bảo bình đẳng tại

nơi làm việc

Ngoài ra, pháp luật Thụy Điển quy định

vai trò của NSDLĐ trong việc nâng cao tỉ lệ

NLĐ của giới có tỉ lệ thấp bằng các biện

pháp thúc đẩy bình đẳng giữa lao động nam

và nữ ưong các loại hình công việc khác nhau

và giữa các nhóm lao động khác nhau thông

qua việc đào tạo, phát triển kĩ năng và các

biện pháp thích hợp khác NSDLĐ cũng phải

đặc biệt nỗ lực trong việc lựa chọn các ứng

viên thuộc về giới chiếm số ít ở nơi làm việc

và bảo đảm tăng dần đều số lượng NLĐ

thuộc giới đó, trừ trường hợp có nguyên nhân

đặc biệt (ví dụ loại công việc tuyển dụng gây

nguy hiểm cho NLĐ thuộc giới này)8

Nhằm bảo vệ thiên chức người cha, người mẹ, Điều 16 Luật Nghỉ phép của cha

mẹ năm 1995 quy định khi lựa chọn phỏng vấn hoặc thủ tục tuyển dụng khác, NSDLĐ không được đối xử không thuận lợi đối với người đang xin việc vì lí do liên quan đến nghỉ phép để thực hiện chức năng làm cha

mẹ, trừ khi việc đối xử khác biệt là cần thiết

để bảo đảm việc nghỉ nuôi con Như vậy, pháp luật Thụy Điên bảo đảm cho lao động

nữ mang thai, sinh con hoặc NLĐ (cả nam

và nữ) đang nuôi con nhỏ có cơ hội tiếp cận việc làm song song với quyền nghỉ phép để thực hiện chức năng làm cha mẹ

Thứ hai, trong đào tạo nghề và thăng tiến Trong đào tạo nghề, Điều 1 Chương 2 Luật Phân biệt đối xử năm 2008 nghiêm cấm NSDLĐ có hành vi phân biệt đối xử khi một người nộp đơn xin hoặc tham gia đào tạo nghề Phạm vi nghiêm cấm phân biệt đối xử trong đào tạo nghề còn vượt ra khỏi quan hệ việc làm khi cấm các trường kĩ thuật hoặc đại học phân biệt đối xử trong cung cấp các khoá học suốt đời dành cho người trường thành (lifelong learning)9,10

về vấn đề thăng tiến hoặc đào tạo để đề bạt, pháp luật nghiêm cấm NSDLĐ phân biệt đối xử vì lí do giới tính đối với NLĐ khi quyết định bổ nhiệm hoặc lựa chọn đào tạo

TẠPCHÍ LUẬT HỌC SỐ 4/2022 85

Trang 5

NHÀ NƯỚC ui PHÁP LLÌẶT NƯỚC NGOÀI

(nhằm mục đích thăng tiến) Bên cạnh đó,

xét tới những bất lợi của NLĐ trong thời

gian nghỉ thai sản, khoản 2 Điều 16 Luật

Nghỉ phép của cha mẹ cũng cấm NSDLĐ

không được đối xử bất lợi trong quyết định

bổ nhiệm hoặc lựa chọn đào tạo (nhằm mục

đích thăng tiến) đối với NLĐ vì lí do liên

quan đến nghỉ phép để thực hiện chức năng

làm cha mẹ Mặc dù vậy, nếu lí giải được

hành vi đối xử khác biệt xuất phát từ những

nguyên nhân như yêu cầu khách quan của

công việc, tính chất của điều kiện làm việc

hoặc nhằm thúc đẩy bình đẳng giữa lao động

nam và lao động nữ thì NSDLĐ không bị coi

là vi phạm pháp luật11

11 Điều 2.1 Chương 2, Điều 6 Chương 2 Luật Phân

biệt đối xử của Thuỵ Điển năm 2008.

12 Allbright là một tổ chức độc lập và phi lợi nhuận

hoạt động vì binh đẳng giới và đa dạng hoá tại

Thụy Điển, https://www.allbright.se/om-oss, truy

cập 09/12/2021.

13 AllBright, Report: Women CEOs choose gender

equality, December 2017, tr 3, 18, https://staticl

squarespace.com/static/5501 a836e4b0472e6124Í98

4/t/59cb7082b7411c70275a6eb9/l 506504898083/

The+AllBright+report+2017.pdf, truy cập

09/12/2021.

14 Case c-262/88, Barber [1990] ECR 1-01889, ECLI:EU:C: 1990:209, and Case C-236/98 Jamstalldhetsombudsmannen [2000] ECR 1-2189, ECLI:EU:C:2000:173, https://eur-lex.europa.eu, truy cập 09/12/2021.

Theo Báo cáo "Women CEOs choose

gender equality” năm 2017 của AllBright11 12,

mặc dù có đến 85% các công ti do nam giới

điều hành song tỉ lệ phụ nữ nắm giữ các vị

trí quản lí ở Thụy Điển vẫn tăng dần qua các

năm, dự kiến đến năm 2039, các doanh

nghiệp (được khảo sát) sẽ đạt được BĐG

trong các vị trí quản lí và đến năm 2061 sẽ

đạt BĐG trong thị trường lao động với ít

nhất 40% phụ nữ nắm giữ các vị trí quản lí13

2.2 Bình đẳng giới trong lĩnh vực tiền lương

Trả công bình đẳng cho công việc có giá

trị ngang nhau là điều kiện tiên quyết để đạt

được BĐG trong lĩnh vực lao động Để nội luật hoá Điều 157 Hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu Âu (TFEU), Thụy Điển quy định nguyên tắc trả công bình đắng, không phân biệt giới tính đối với NLĐ làm công việc có giá trị như nhau Theo đó, “một

công việc được xem là như nhau về giả trị với công việc khác nếu nó được đánh giá chung là tương đương về các yêu cầu đặt ra cho công việc và tỉnh chat công việc Đảnh giá về các yêu cầu đặt ra cho công việc được thực hiện trên cơ sở xem xét các tiêu chuân như kiến thức, kĩ năng, trách nhiệm và nỗ lực Việc đánh giá tính chat công việc được xem xét trên cơ sở các điều kiện làm việc ”

(Điều 2 Chương 3 Luật Phân biệt đối xử năm 2008)

Mặc dù chưa có định nghĩa chính thức nào

về “trả công” ở Thụy Điển nhưng trên thực tế, Tòa án Lao động Thụy Điển nhận diện khoản tiền “trả công” dựa trên hai án lệ của Tòa án Công lí châu Âu (CJEU) là C-262/88 Barber

và C-236/98 Jamstalldhetsombudsmannen14 Trong án lệ thứ nhất, CJEU định nghĩa “trả

công là một khoản tiền mặt hay hiện vật, được nhận ngay lập tức hay trong tương lai, trực tiêp hoặc gián tiêp, miên là NLĐ nhận được nó từ NSDLĐ” Án lệ thứ hai nhận

định khoản trả công cần được so sánh tách riêng từng yếu tố Theo đó, mọi phần của tiền lương (như lương cơ bản, lương làm ngoài giờ ) phải được so sánh riêng Neu

có sự chênh lệch, NSDLĐ phải chứng minh

đó không phải phân biệt đối xử về giới

86 TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 4/2022

Trang 6

NHÀ NLỚC 14 PHÁP LLẬT NƯỚC NGOÀI

Pháp luật Thụy Điển không quy định mức

lương tối thiểu15 Thay vì vậy, lương và cấu

trúc lương của các ngành sẽ được xác định

thông qua một thoả ước lao động tập thể giữa

tổ chức đại diện NSDLĐ và tổ chức đại điện

NLĐ Do đó, để đảm bảo tính bình đẳng

trong vấn đề tiền lương giữa lao động nam và

nữ, Điều 10 Chương 3 Luật Phân biệt đối xử

năm 2008 quy định trách nhiệm của NSDLĐ

trong việc xem xét, kiểm tra và ngăn ngừa đối

xử khác biệt tuỳ tiện trong việc trả lương cho

NLĐ Theo đó, cứ ba năm một lần, NSDLĐ

tiến hành khảo sát, phân tích và đánh giá sự

khác biệt trong việc trả lương trực tiếp hay

gián tiếp liên quan đến giới, ví dụ như đánh

giá sự khác biệt về tiền lương giữa các nhóm

lao động làm loại công việc thường được coi

là dành cho phụ nữ và sự khác biệt về tiền

lương giữa các nhóm lao động làm loại công

việc có giá trị như nhau (không dành riêng

cho nữ) Trên cơ sở đó, những đơn vị sử dụng

lao động có quy mô đáng kể (từ 25 NLĐ trở

lên) phải chuẩn bị kế hoạch hành động cho

việc đảm bảo trả lương công bằng (Điều 11

Chương 3 Luật Phân biệt đối xử năm 2008)

NSDLĐ có trách nhiệm trao đổi với tổ chức

của NLĐ để cùng hợp tác trong khảo sát,

phân tích và chuẩn bị xây dựng bản kế hoạch

Theo quy định, bản kế hoạch hành động bao

gồm các nội dung cơ bản: 1) những điều chỉnh

trong việc trả lương và các biện pháp duy tri

việc trả lương công bằng; 2) dự toán chi phí

và lịch trình thực hiện nhằm bảo đảm những

điều chỉnh cần thiết được thực hiện càng sớm

càng tốt (trong thời hạn không quá 3 năm)

15 Evaluation Framework for Promoting Gender

Equality in R&I (EFFORTI), Country note Sweden,

2018, tr 28.

16 European Commission, 20J9-SE-GE country report

on gender equality, 2019, tr 18,, https://op.europa

eu/en/publication-detail/-/publication/laee7dec-3 8d8-11 ea-ba6e-01 aa75ed71 a 1 /language-en, truy cập 09/12/2021.

Trong các năm từ 2007 đến 2017, báo cáo về chênh lệch trong thu nhập của NLĐ của Văn phòng Hoà giải Thụy Điển chì ra rằng khoảng cách thu nhập giữa nam giới và

nữ giới tại Thụy Điển đã giảm dần trong vòng một thập kỉ Thành công này đến từ ba nguyên nhân chính: 1) sự giảm dần tình trạng phân biệt về giới trong thị trường lao động; 2) tỉ lệ nhân viên nữ có trình độ học vấn sau trung học nhiều hơn nhân viên nam

do lao động nữ được cải thiện về trình độ; 3) tỉ lệ phụ nữ trở thành người quản lí tăng nhanh so với nam giới16

2.3 Bình đăng giới về điều kiện làm việc

Điều kiện và môi trường làm việc là một trong những yếu tố quyết định năng suất và hiệu quả của công việc Điều 4 Chương 3 Luật Phân biệt đối xử năm 2008 yêu cầu NSDLĐ trong phạm vi nguồn lực của mình cũng như với các yêu cầu của công việc phải đảm bảo môi trường làm việc phù hợp với NLĐ mà không có sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính Cùng với đó, NSDLĐ có nghĩa vụ giúp đỡ lao động nam và lao động

nữ thực hiện trách nhiệm đối với gia đinh cũng như có các biện pháp cần thiết làm ngăn chặn tình trạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc BĐG về điều kiện làm việc được xem xét trên các khía cạnh sau: thời gian làm việc và nghỉ ngơi; điều kiện an toàn, vệ sinh lao động và vấn đề sa thải NLĐ

Thứ nhất, thời gian làm việc và nghỉ ngơi

Luật về Giờ làm việc năm 1982 (sửa đổi,

Trang 7

V//Ì STÓCVÀ PHÁP LL Ị r \l ()( \GOÀl

bổ sung năm 2005)17 quy định giờ làm việc

thông thường không quá 40 giờ/tuần Khi có

yêu cầu làm thêm giờ, mức thời gian làm

thêm không được quá 48 giờ trong vòng 4

tuần hoặc 50 giờ trong vòng 1 tháng, không

quá 200 giờ/năm NSDLĐ không được yêu

cầu NLĐ làm việc vào ban đêm quá 8

giờ/ngày cũng như không bố trí làm đêm kéo

dài quá 4 tháng Thời gian ban đêm được

tính từ 22.00 giờ đến 06.00 giờ18 Nhìn

chung, Thụy Điển không quy định ngoại lệ về

thời giờ làm việc liên quan đến giới tính, đơn

cử như không cấm làm việc ban đêm đối với

lao động nữ đang mang thai Mặc dù vậy, lao

động nữ khi sắp sinh con có thể không phải

làm việc ca đêm nếu có giấy khám bệnh của

cơ sở có thẩm quyền chỉ ra rằng làm việc đêm

ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và an toàn

của lao động nữ đó19 Quy định này linh hoạt

hơn so với quy định ở Việt Nam hiện nay

Theo đó, pháp luật lao động Việt Nam cấm

tuyệt đối NSDLĐ sử dụng lao động nữ mang

thai từ tháng thứ 7 làm việc vào ban đêm

hoặc làm thêm giờ, riêng trường hợp lao động

nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì có thể thoả

thuận với NLĐ (khoản 1 Điều 137 Bộ luật

Lao động (BLLĐ) năm 2019)

17 Working Hours Act (1982:673), https://www.gover

nment se/contentassets/1 b29fd3 5b2544fl 3 8 7513 7b

eab8091 la/1982673-working-hours-act.pdf, truy

cập 09/12/2021.

18 Điều 5, Điều 7, Điều 13a Luật về Giờ làm việc của

Thuỵ Điển năm 1982, sửa đổi, bổ sung năm 2005.

19 Arbetsmiljoverkets foreskrifter (APS 2007:5) om

gravida och ammande arbetstagare, https://www.av

se/globalassets/filer/publikationer/foreskrifter/andri

ngsforeskrifVafs_2018_7.pdf, truy cập 09/12/2021.

20 Paraskevi Peristera, Hugo Westerlund, Linda L

Magnusson Hanson, Paid and unpaid working hours among Swedish men and women in relation

to depressive symptom trajectories: results from four waves of the Swedish Longitudinal Occupational Survey of Health, 2018, https://pubmed.ncbi.nlm

nih.gov/29880559/, truy cập 09/12/2021.

về thời giờ nghỉ ngơi, tất cả NLĐ tại

Thụy Điển được sắp xếp thời gian nghỉ hàng

tuần, nghỉ lễ, nghỉ do sinh con và nuôi con nhỏ theo luật định Ngoài ra, NSDLĐ cũng

có nghĩa vụ sắp xếp các quãng nghỉ cho NLĐ để bảo đảm NLĐ không phải làm việc liên tục quá 5 giờ (Điều 15 Luật về Giờ làm việc năm 1982, sửa đổi bổ sung năm 2005) Một nghiên cứu gần đây về thời gian làm các công việc được trả lương và công việc không được trả lương (như công việc nội trợ

và tham gia hoạt động kinh tế của hộ gia đình) của phụ nữ và nam giới ở Thụy Điển20

đã chỉ ra tại đất nước này, phụ nữ dành nhiều thời gian làm các công việc không được trả lương hơn so với nam giới Theo đó, thời gian làm việc của phụ nữ là 65,02 giờ/tuần (40,09 giờ cho các công việc được trả lương

và 20,7 giờ cho công việc không được trả lương); trong khi số giờ làm việc của nam giới là 60,07 giờ/tuần (45,59 giờ và 14,3 giờ tương ứng) Như vậy, trong khi phụ nữ có thời gian nghỉ ngơi ít hơn, thu nhập của họ vẫn thấp hơn nam giới vì chênh lệnh trong khoảng thời gian làm các công việc được trả lương Đây là cản trở đáng kể cho việc bảo đảm BĐG tại Thụy Điển mà quốc gia này đang nỗ lực xoá bỏ

lao động Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là yếu

tố quan trọng đảm bảo năng suất lao động đồng thời bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho NLĐ Luật về Môi trường lao động Thụy

Trang 8

Mỉ I M ÓC l í PH ÌPLl Ạ 1 M Ớc \G() i/

Điển năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

quy định NSDLĐ phải đảm bảo môi trường

làm việc an toàn, lành mạnh cho NLĐ (Điều 2

Chương 2) Công việc cần được thiết kế sao

cho NLĐ không phải chịu những căng thẳng

về tinh thần, thể chất dẫn đến bệnh tật hay

tai nạn (Điều 1 Chương 2) Bên cạnh các yêu

cầu về môi trường làm việc, NSDLĐ phải

đảm bảo các điều kiện về bảo hộ lao động,

bao gồm trang thiết bị bảo hộ cá nhân cho

NLĐ như kính mắt, găng tay, mũ bảo hiểm,

quần áo bảo hộ (Điều 7 Chương 2) Các

thiết bị này phải tính đến những khác biệt

giữa lao động nam và lao động nữ về sổ đo

cơ thể và thể lực21

21 Provisons of the Swedish Work Environment

Authority on Use of Personal Protective Equipment,

together with General Recommendations on the

implementation of the Provisions (AFS 2001:3).

22 Các điều 18, 19, 20 Luật Nghi phép của cha mẹ

năm 1995 (sửa đổi, bổ sung năm 2006):

23 European Commission, 2019-SE-GE country report

on gender equality 2019, tr 25.

Ngoài ra, trên tinh thần Điều 6 Chương 4

Luật về Môi trường lao động về phòng ngừa

rủi ro ốm đau và tai nạn, Luật Nghỉ phép của

cha mẹ năm 1995 cũng quy định lao động nữ

nếu đang chờ sinh con (trong khoảng thời

gian 60 ngày trước ngày dự kiến sinh), vừa

sinh con hoặc đang cho con bú có quyền

được chuyển sang công việc khác khi có xác

nhận của cơ quan y tế về việc tiếp tục làm

trong điều kiện lao động hiện tại có thể gây

ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ

Trường hợp NSDLĐ không thể chuyển việc

thì lao động nữ có quyền nghỉ phép để bảo

vệ sức khoẻ và an toàn22

Th ứ ba, kỉ luật lao động

Bất kì sự sa thải nào cũng đều phải căn

cứ theo Điều 7 Luật Bảo vệ NLĐ năm 1982

(sửa đổi, bổ sung năm 2016) Pháp luật Thụy Điển quy định cấm NSDLĐ đối xử bất lợi khi quyết định sa thải lao động nữ mang thai hoặc NLĐ trong thời gian nghỉ phép để thực hiện chức năng làm cha mẹ (khoản 7 Điều

16 Luật Nghỉ phép của cha mẹ năm 1995) Theo đó, quyết định sa thải liên quan đến lao động nữ mang thai, sinh con hoặc NLĐ thực hiện chức năng làm cha mẹ bị coi là phân biệt đối xử trực tiếp, do đó sẽ bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của NLĐ

Tháng 12/2018, Phán quyết AD 2018 số 74 của Tòa án Lao động Thụy Điển liên quan đến quyết định ngừng thử việc đối với một lao động nữ sau khi sinh con đã gây ra nhiều tranh cãi Theo đó, lao động nữ (nguyên đơn)

đã thông báo với NSDLĐ về việc mang thai trước khi bắt đầu công việc và NSDLĐ đã có những phản hồi tích cực về quá trình làm việc của nguyên đơn Tuy nhiên, sau khi lao động này nghỉ sinh con, NSDLĐ đã thông báo ngừng thử việc Toà án cho rằng NLĐ không chứng minh được việc mang thai là nguyên nhân dẫn đến việc sa thải, do đó hành vi của NSDLĐ không phải là phân biệt đối xử vì lí

do thai sản Phán quyết này bị coi là chưa phù hợp do chưa xem xét các án lệ liên quan cũng như không tham chiếu đến Điều 10 của Chỉ thị 92/85 của EU về nghĩa vụ của NSDLĐ phải chứng minh căn cứ sa thải, do

đó làm tác động đến kết quả của vụ án23

2.4 Bình đắng giới trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Theo Luật BHXH Thụy Điển năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), BHXH bắt buộc gồm năm chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn

Trang 9

NHÀ NƯỚC IÀ PHÁP Lư.ẠT NƯỚC NGOÀI

lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và tử

tuất Bài viết đề cập chế độ ốm đau, chế độ

hưu trí và chế độ thai sản do đặc thù về giới

Thứ nhất, về che độ ốm đau

Điều 21 Chương 27 Luật BHXH năm

2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định

NLĐ được hưởng trợ cấp ốm đau nếu ốm

đau quá 14 ngày (vì NSDLĐ có trách nhiệm

chi trả 80% tiền lương trong 14 ngày đầu

NLĐ nghỉ ốm) Ngoài ra, khi NLĐ phải nghỉ

việc để chăm sóc con (dưới 12 tuổi) ốm đau,

họ cũng được nhận tiền trợ cấp đến tối đa

120 ngày/năm (trợ cấp cha mẹ tạm thời)24

Khoản tiền trợ cấp không ít hơn 80% thu

nhập bình thường của NLĐ Ngoài ra, nếu

con từ 12 đến dưới 16 tuổi, NLĐ có thể tiếp

tục được nhận trợ cấp cha mẹ tạm thời với

điều kiện đứa con cần nhiều sự giúp đỡ, hồ

trợ hơn so với trẻ cùng lứa tuồi Đối với trẻ

từ 18 tuổi trở lên, NLĐ (cả cha và mẹ) được

nhận trợ cấp cha mẹ tạm thời khi trẻ bị bệnh

nặng và không giới hạn số ngày hưởng trợ

cấp về cơ bản không có sự khác biệt về chế

độ BHXH ốm đau giữa lao động nam và lao

động nữ Đối với NLĐ đang nuôi con mà

con bị ôm đau, pháp luật Thụy Điên đã có

những quan tâm nhất định nhằm đảm bảo

việc chăm sóc con cái của NLĐ cả nam và nữ

24 https://www.forsakringskassan.se/privatpers/foral der/

vard_av_bam_vab/!ut/p/z0/04_Sj9CPykssy0xPLM

nMz0vMAfIjo8ziTTxcnA3dnQ28_V2dnQwczYw9

A31M3QxNAozlglPz9AuyHRUBSsx4rỌ!!/, truy

cập 09/12/2021 25 Điều 23, Điều 24 Chương 12 Luật BHXH năm 2010.

Thứ hai, chế độ thai sản

Năm 1974, Thụy Điển là quốc gia đầu

tiên thay thế chế độ “nghỉ thai sản cho mẹ”

bằng “nghỉ thai sản cho bố mẹ” NLĐ được

hưởng trợ cấp thai sản trong các trường hợp

90

sinh con hoặc nhận con nuôi, bao gồm cả sự kiện sinh con mà con chết; riêng trường hợp nhận con nuôi, chỉ được thanh toán tiền trợ cấp nếu đứa trẻ định cư ở Thụy Điển (Điều 2, Điều 8 Chương 11 Luật BHXH năm 2010) Điều 4 Luật Nghỉ phép của cha mẹ quy định lao động nữ có quyền nghỉ toàn thời gian sinh con trong thời gian ít nhất 7 tuần liên tục trước ngày dự kiến sinh và 7 tuần sau khi sinh, trong đó nghi 2 tuần trước và sau sinh là thời gian bắt buộc Quy định này nhằm đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ cũng như việc chăm sóc trẻ sơ sinh của người mẹ Lao động nam được nghi 10 ngày khi vợ sinh

Sau khi hưởng trợ cấp thai sản nói trên, theo quy định tại Điều 12 Luật BHXH năm

2010, người cha và người mẹ còn có khoảng thời gian nghỉ hường trợ cấp lên đến 480 ngày (trường hợp sinh nhiều con được nghỉ thêm tối đa 180 ngày) Trong khoảng thời gian này, có 90 ngày được gọi là ngày của cha, đây là khoảng thời gian nghỉ có trợ cấp chỉ dành cho lao động nam, không thể chuyển cho vợ Quy định này là rất tiến bộ, tạo điều kiện cho nam giới tham gia nhiều hơn vào các công việc gia đình, chia sể gánh nặng gia đình với phụ nữ Quyền nghỉ phép của cha mẹ chấm dứt khi đứa trẻ tròn 8 tuổi Mức trợ cấp cơ bản là 250 SEK/ngày và mức tối thiểu là 180 SEK/ngày25 Trong giai đoạn

2016 - 2019, Chính phủ Thụy Điển đã tăng tài chính công cho mức trợ cấp cơ bản của cha mẹ Theo đó, 195 ngày nghỉ phép đầu được trả 80% thu nhập (mức trần thu nhập

có thể lên tới 47.501 EUR/năm), những ngày

TẠPCHÍ LUẬT HỌCSỐ 4/2022

Trang 10

XHÀ XL ÓC PH ÍPLL Ậ T XL ÓcXGO ì/

còn lại được thanh toán với mức thanh toán

cố định thấp hơn26

26 Evanthia Kalpazidou Schmidt, Ebbe Krogh

Graversen, Sarme Schioldann Haase, Maria Lehmann

Nielsen, Matias Engdal Christensen, Lea Forbig,

2018, Evaluation Framework for Promoting Gender

Equality in R&L tr 39.

27 Ministry of Health and Social Affairs, "Sustainable

pensions: Improved basic protection for pensioners and a gradual increase in retirement age”, 2019,

https://www.govemment.Se/articles/2019/06/l.— sustainable-pensions-improved-basic-protection- for-pensioners-and-a-gradual-increase-in-retirement- age/, truy cập 09/12/2021.

28 Short pension facts, https://www.pensionsmyndig

heten.se/statistik-och-rapporter/statistik/kortapen sionsfakta, truy cập 09/12/2021.

29 Organise for gender equality in the work environment - from words to action - A White

Paper from the Swedish Work Environment Authority’s government commission “Women’s work environment” 2011 - 2016, tr 6.

Để tăng cường tính linh hoạt, việc nghỉ

phép của cha mẹ được tính theo ngày

Khoảng thời gian nghỉ hưởng trợ cấp có thể

kéo dài liên tục hoặc chia ra làm nhiều lần,

ví dụ một ngày nghỉ toàn thời gian cũng có

thể được thực hiện dưới dạng hai nửa ngày

nghỉ, đồng thời nghỉ kết hợp với các ngày

nghỉ có lương và không có lương khác NLĐ

phải thoả thuận với NSDLĐ về việc phân bổ

thời gian nghỉ phép (Điều 14 Luật Nghỉ phép

của cha mẹ năm 1995)

Thứ ba, chế độ hưu trí

Khác với Việt Nam quy định độ tuổi

nghi hưu của nữ thấp hơn nam, pháp luật

Thvy Điển quy định độ tuổi hưởng lương

hưu liên quan đến thu nhập và lương hưu

đảm bảo bình đẳng giữa nam và nữ

thu nhập (income-based pension, còn gọi là

trợ cấp hưu trí), theo đó NLĐ (cả nam và nữ)

có quyền rút lương hưu bắt đầu từ năm 61

tuổi và tiếp tục làm việc cho đến 67 tuổi

Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Thụy Điển

đang tăng dần độ tuổi để bảo đảm phù hợp

hơn, cụ thể: Độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu

trí tăng lèn 62 tuoi bắt đầu từ năm 2020 đối

với cá nhân sinh năm 1959 hoặc 1960, lên

63 vào năm 2023 đối với những người sinh

năm 1961 hoặc 1962 và lên 64 vào năm

2026 cho những người sinh năm 1963 hoặc

muộn hơn Đối với cá nhân sinh năm 1958

hoặc sớm horn, tuổi hưởng lương hưu là 61 tuổi Với những trường hợp nghỉ hưu không

tự nguyện, NLĐ được kéo dài thời gian làm việc cho đến 68 tuổi vào năm 2020, 69 tuổi vào năm 202327 Nhìn chung, việc quy định

độ tuổi nghỉ hưu như nhau giữa phụ nữ và nam giới ở Thụy Điển đã tạo điều kiện rất lớn cho lao động nữ được ghi nhận năng lực,

có cơ hội cống hiến cho công việc với mức thời gian tương đương lao động nam, từ đó tăng cơ hội về thăng tiến cũng như cải thiện mức thu nhập, góp phần bảo đảm BĐG trong lĩnh vực lao động

NLĐ được hưởng mức trợ cấp hưu trí tối

đa 2.400SEK/năm (Điều 2 Chương 71 Luật BHXH năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)) Tuy nhiên, trên thực tế, lương hưu trung bình của phụ nữ Thụy Điển vẫn thấp hơn nam giới vì mức thu nhập của họ thấp hơn (do làm việc bán thời gian nhiều hơn và chịu trách nhiệm nhiều hơn cho công việc gia đình không được trả lương)28 cũng như nghỉ ốm nhiều hơn29 Chế độ lương hưu

“trung tính” của Thụy Điển vô hình trung lại tạo ra bất lợi cho lao động nữ

Ngày đăng: 22/11/2022, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w