Do vậy, cần phải đổi mới phương pháp dạy học để sinh viên khôngnhững nắm chắc kiến thức mà còn vận dụng vào trong quá trình học tập vàcông tác sau này.Thực tế việc tự học môn Giáo dục họ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin mà ở đó khốilượng tri thức của loài người tăng lên với tốc độ cực kỳ nhanh chóng Người
ta tính được sau 10 năm thì lượng tri thức tăng lên gấp đôi Đứng trước thực
tế này, GD nhà trường đã có những thay đổi căn bản: từ quan niệm học tậpchỉ trong một thời gian nhất định bằng quan niệm: “học thường xuyên, họcliên tục, học suốt đời” Để có thể học tập suốt đời đạt hiệu quả, đương nhiênmỗi người phải lựa chọn cho mình một cách phù hợp nhất, lấy tự học làm nềntảng
Việt nam đang bước vào giai đoạn CNH – HĐH với mục tiêu đến năm
2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp Nhân tố quyết định thắng lợi củacuộc CNH – HĐH là con người là nguồn lực người Việt Nam được phát triển
về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Để làmđược điều này giáo dục Việt Nam đang phải đứng trước một bài toán: phải đổimới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và phươngtiện dạy học Về PPDH, nghị quyết TW2 khóa WIII (12/1996) đã chỉ rõ:
“phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD – ĐT, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụngcác phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học(QTDH), đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyếtvấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học, …”
Để thực hiện nhiệm vụ đó, trong quá trình dạy học các môn học ở nhàtrường, bên cạnh việc đổi mới nội dung, vận dụng các phương pháp dạy họcmới cần bồi dưỡng cho sinh viên kỹ năng tự học, tự nghiên cứu góp phầnnâng cao chất lượng dạy học Bởi tự học là con đường phát triển nội lực củamỗi cá nhân, là động lực chính của quá trình giáo dục và đào tạo
Trang 2Ở nhà trường sư phạm, Giáo dục học là môn khoa học (cũng là mônnghiệp vụ) quan trọng giúp sinh viên rèn luyện nghiệp vụ của người giáoviên, những kỹ năng sư phạm, hình thành ý thức đạo đức và tình cảm nghềnghiệp song việc giảng dạy môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm cònnhiều bất cập như nặng về lý thuyết nhẹ thực hành, nặng kiến thức nhẹ về kỹnăng Do vậy, cần phải đổi mới phương pháp dạy học để sinh viên khôngnhững nắm chắc kiến thức mà còn vận dụng vào trong quá trình học tập vàcông tác sau này.
Thực tế việc tự học môn Giáo dục học của sinh viên người dân tộc hiệnnay ở trường CĐSP Gia Lai là, sinh viên chưa chủ động trong học tập, ít đọcsách, chưa chịu khó tìm tòi, chưa quan tâm đến việc vận dụng kiến thức hìnhthành kỹ năng nói chung là các em chưa thấy được ý nghĩa, vai trò của môngiáo dục học đối với thực tiễn nghề nghiệp sau này Đây là tình trạng phổ biếnkhông chỉ đối với sinh viên người dân tộc, lý do là họ chưa có kỹ năng tự học,phương pháp tự học ở bậc học chuyên nghiệp Vì vậy, kết quả đạt được là rấtthấp
Đây là điều rất được quan tâm của tổ bộ môn tâm lý giáo dục trườngCĐSP Gia Lai hơn nữa chưa có tác giả nào nghiên cứu hoạt động tự học trênđối tượng là sinh viên người dân tộc, vì vậy tôi nhận thấy đây vẫn là vấn đề
cấp thiết nên mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu là: “Biện pháp nâng cao chất lượng tự học môn giáo dục học cho sinh viên người dân tộc trường CĐSP Gia lai” với mong muốn là tìm ra biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất
lượng tự học của sinh viên người dân tộc
2 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động tự học môn GDHcủa sinh viên người dân tộc trường CĐSP Gia Lai, tôi đưa ra biện pháp nhằm
Trang 3nâng cao chất lượng tự học môn GDH cho sinh viên người dân tộc ở trườngCĐSP Gia Lai
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Hoạt động tự học môn GDH cho sinh viên ở trường CĐSP Gia Lai
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học môn GDHcho sinh viên người dân tộc trường CĐSP Gia Lai
4 Giả thuyết khoa học.
Hiện nay chất lượng tự học môn GDH của SV người dân tộc ở trườngCĐSP Gia Lai còn thấp Nếu trong quá trình dạy học, giảng viên sử dụng mộtcách đồng bộ, toàn diện, có hệ thống các biện pháp tổ chức tự học trên lớpcho sinh viên như lập kế hoạch bài dạy, tổ chức thực hiện bài dạy trên lớptheo quy trình hợp lý, có kế hoạch và công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả họctập phù hợp với đối tượng và bồi dưỡng rèn luyện cho sinh viên những kỹnăng tự học cơ bản (nhất là kỹ năng đọc sách ở nhà) thì chất lượng tự họcmôn GDH của SV người dân tộc trường CĐSP Gia Lai sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động tự học của học sinh, sinh viên 5.2 Nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học môn GDH của snh viên người dân tộc ở trường CĐSP Gia Lai
5.3 Đề ra biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học môn GDH cho sinh viên người dân tộc ở trường CĐSP Gia Lai
6 Phạm vi nghiên cứu.
Vì điều khách quan cũng như trình độ của bản thân nên đề tài chỉ tậptrung nghiên cứu hoạt động tự học môn GDH của sinh viên người dân tộctrường CĐSP Gia Lai
Trang 47 Phương pháp nghiên cứu.
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Trong đề tài này tôi sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp,khái quát hóa, hệ thống hóa các nguồn tài liệu để nhằm mục đích xây dựng cơ
sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát hoạt động học tập của sinh viên trong mối quan hệ với hoạtđộng giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên (khu ký túcxá) để tìm hiểu hoạt động tự học của sinh viên ( cách đọc sách, cách học, lập
kế hoạch, trao đổi với bạn…)
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kết quả học tập của sinh viên thông qua điểm, vở ghi chép,bài kiểm tra, vở bài tập ở nhà…
- Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
Tiến hành trao đổi, trò chuyện và phỏng vấn để thu thập thông tin phục
vụ cho đề tài
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Thu thập các ý kiến của các chuyên gia về vấn đề tự học
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp thực nghiên sư phạm (đây là phương pháp chính của đềtài)
7.3 Phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng thống kê toán học để xử lý, thu thập số liệu thu được
Trang 5Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Hy Lạp như Xôcrát(469 – 390 TCN), Arixtốt (384 – 322 TCN) cũng như nhiều nhà giáo dục nổitiếng khác ở Phương Đông như Khổng Tử (551 – 479 TCN), Mạnh Tử (372 –
289 TCN), Tuân Tử (289 – 238 TCN) … đã nhận thấy và đánh giá cao vai tròcủa tự học , tự tu dưỡng Trong dạy học các ông đều muốn tìm ra các phươngpháp phù hợp để giúp cho người học tự tìm ra chân lý Theo Khổng Tử: Thầygiáo chỉ cho trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò từ đó mà tìm
ra, thầy giáo không được làm thay hết cho học trò Ông cũng từng nói với họcsinh của mình rằng: “Không giận thì không muốn biết vì không gợi mở cho,không bực vì không bày vẽ thì không bày vẽ cho, một vật có bốn góc bảo chobiết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa [22; tr 60]
Từ những năm trước công nguyên, Xôcơrat(469 – 390 TCN) đã đưa raquan niệm nổi tiếng của mình: giáo dục phải giúp cho con người khẳng địnhchính mình Dựa vào quan điểm đó vào trong dạy học, ông cho rằng cần phải
để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, giúp cho người học tự thấy cái sailầm của mình và tự khắc phục cái sai lầm đó [22]
Cho đến mãi thế kỷ 17, ông tổ của nền giáo dục Cận đại –J.A.Cômenxki (1592 – 1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì
Trang 6không trở thành nhân tài” Theo ông thì dạy học phải làm thế nào để ngườihọc tự tìm tòi, suy nghĩ từ đó mà nắm lấy bản chất của sự vật hiện tượng Ôngcũng nghiên cứu về vấn đề quan điểm giáo dục “đánh thức năng lực nhạycảm, phán đoán của người học”, tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng
ít hơn, học sinh học tập, làm việc nhiều hơn Ông đề ra một số nguyên tắc dạyhọc mà ngày nay vẫn có nhiều tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tậpcủa học sinh: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học; Nguyên tắctôn trọng đặc điểm đối tượng; Nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng… [1].Dựa vào thành tự này của ông mà ngày nay được nhiều nhà giáo dục học xâydựng thành hệ thống các nguyên tắc dạy học: Đảm bảo tính vững chắc của trithức, kỹ năng, kỹ xảo và tình mềm dẻo của tư duy; Đảm bảo tính vừa sứcchung và vừa sức riêng trong dạy học; Đảm bảo tình thống nhất giữa cái cụthể và cái trừu tượng trong dạy học…
Các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) cũng có nhiều công trình nghiêncứu về tự học như: N.A.RuBaKin (1862 – 1946) trong tác phẩm “ tự học nhưthế nào” đã phân tích rõ mối quan hệ giữa “Tự học và đặc tính riêng của từngngười” đồng thời vạch ra các yếu tố giúp người học vượt qua khó khăn trongquá trình học tập đó là phải có ý chí, có lòng đam mê học tập và đặc biệt làphải có phương pháp tự học tốt
Ngoài việc chỉ ra nguyên nhân dẫn đến người học gặp khó khăn trongviệc học tập, nghiên cứu như: thiếu kiên trì, thiếu phương pháp học tập khoahọc và hợp lý…H.M.Hecboc, Smitman đã đề cập tới vấn đề phương pháp họctập và nghiên cứu trong quá trình tự học trong cuốn “nghiên cứu tự học nhưthế nào? Như: tự học như thế nào cho đúng, cần học tập hợp lý theo kế hoạch
và chương trình riêng, phương pháp làm việc với sách…
Trong cuốn “Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học” củaA.A.Goroxepxki và Lubixuna – Trường đại học tổng hợp Lêningrat, các tác
Trang 7giả cũng tổng kết kinh nghiệm công tác cá nhân của mình trong các trườngđại học và đưa ra một số đề nghị về phương pháp học tập của sinh viên Đạihọc, qua việc nhấn mạnh một số cặp kỹ năng: nghe và ghi bài giảng; đọc vàghi tài liệu; chuẩn bị xêmina; làm bài tập nghiên cứu và luận văn tốt nghiệp;chuẩn bị kiểm tra và thi; tổ chức lao động trí óc và kế hoạch làm việc [26].
Đó là những cách thức tự học mà ngày nay sinh viên trong các trường đại họcvẫn đang thực hiện
Cuốn sách “Học tập hợp lý” của nước CHDC Đức (cũ) do giáo sưRéttxke chủ biên đã viết về vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứucho sinh viên đại học mới được tuyển vào hệ tập trung của các trường đại học.Cuốn sách nhấn nhạnh: “Học tập ở đại học là một quá trình phát triển conngười, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố …” và “việc hoàn thành cókết quả những nhiệm vụ học tập đòi hỏi phải đấu tranh với với bản thân và tậpthể một cách có phê phán và đầy sáng tạo trong quá trình học tập” Cuốn sáchgợi hướng giải quyết cho SV từ các vấn đề mắc mớ trong tâm tư của mình đốivới nhiệm vụ học tập đến những điểm có tính chất quyết định đối với việchọc tập ở đại học trên con đường dẫn đến thành công trong học tập [26]
Với I.F.Kharamôv [11] [12] nghiên cứu việc tự học dưới góc độ tìm ranhững biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách:Tăng cường việc tự nghiên cứu với sách, với tài liệu học tập, dạy học nêu vấn
đề, cải tiến công tác tự lực học tập…vậy là việc phát huy năng lực tự học củahọc sinh dưới góc độ làm việc độc lập với sách và tài liệu tham khảo được tácgiả nghiên cứu kỹ càng
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Tây Âu và Mỹ đã quan tâmtới việc tìm ra phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở tiếp cận “Lấy họcsinh làm trung tâm” mong muốn nhằm phát huy năng lực nội tâm và sáng tạocủa người học Đại diện cho tư tưởng tiến bộ này là J.Dewey (1859 – 1925)
Trang 8đã đề xướng “học sinh là mặt trời, xung quanh có quy tụ mọi phương tiệngiáo dục” Từ đó mà một loạt các phương pháp đã được thực nghiệm theo tưtưởng này là: Phương pháp hợp tác, phương pháp cá thể hóa và phương pháptích cực Từ việc sử dụng các phương pháp dạy học này trên lớp mà vai tròcủa giáo viên đã có bước thay đổi căn bản, họ trở thành người điều khiển,trọng tài, tổ chức làm việc, giúp đỡ học sinh biết cách làm và cách học.
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, T.Makiguchi (1871 – 1944) nhà sưphạm xuất sắc Nhật Bản trong tác phẩm nổi tiếng của mình “giáo dục vì cuộcsống sáng tạo” Ông cho rằng: “giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tựhọc mà động lực của nó là: Kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tớihạnh phúc của bản thân và cộng đồng” [23; tr 19]
Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ S.D.Sharma và Shakti R.Almedtrong tác phẩm “ dạy học ở đại học” đã nêu: Hoạt động tự học của sinh viên lànội dung chính là quá trình điều khiển quá trình hoạt động tự học của sinhviên một cách gián tiếp thông qua các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế đểhoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học được xác định [21; tr79, 123]
Năm 1991 R.Roysinngh [20], Tác giả đã nghiên cứu vai trò của nănglực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời, đề cao vai tròchuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập thường xuyên, học tậpsuốt đời trong việc hình thành phát triển năng lực tự học của người học
Như vậy, vấn đề tự học trong lịch sử giáo dục đã được quan tâm, đề cập
và nghiên cứu từ lâu với nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau, song tựutrung đều nhấn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt độnghọc tập của học sinh, sinh viên và nó vẫn là vấn đề được các nhà giáo dụcngày nay đặc biệt quan tâm và nghiên cứu
Trang 9Ở Việt nam, hoạt động tự học cũng đã được quan tâm song vấn đề nàychỉ được quan tâm, nghiên cứu một cách khoa học dưới nền giáo dục xã hộichủ nghĩa.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ Tich Hồ Chí Minh: Học phải suốt đờingay cả khi đã đi làm việc với phương châm “ Về cách học phải lấy tự họclàm gốc, “Về cách dạy phải tránh lối dạy nhồi sọ…Về học tập tránh lối họcvẹt” [13; tr 444, 319]
Bác động viên toàn dân “Phải tự nguyện, tự giác, coi việc học tập lànhiệm vụ của người cách mạng phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, do dó màtích cực , tự hoàn thành kế hoạch học tập
Để phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước, các nhà giáo dục họcnước ta rất quan tâm đến vấn đề tự học và đã đi sâu nghiên cứu dưới nhiềugóc độ
Hướng thứ nhất: Tự học là một hoạt động độc lập diễn ra không hoặc ít
có sự điều khiển của thầy (Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn )
Hướng thứ hai: Tự học là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động củangười học dưới vai trò chủ đạo của thầy (các tác giả Nguyễn Ngọc Quang[15], [16] Đặng Vũ Hoạt [8], Nguyễn Ngọc Bảo [2], Trịnh Quang Từ [ 28] ,Nguyễn Thị Tính [24])
Hướng thứ Ba: Coi tự học như là một hình thức tổ chức ngoài giờ lênlớp, phối hợp với các hình thức dạy học khác (Phạm Hồng Quang [18])
Một hướng khác: Ngoài ra theo Nguyễn Cảnh Toàn – Lê Khánh Bằng[26] Thì tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắmvững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ do chính bản thân người học tiếnhành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sáchgiáo khoa đã được ấn định, tùy theo hứng thú khoa học và nghề nghiệp, tùy
Trang 10theo trình độ nhận thức về nhiệm vụ và trách nhiệm, tùy theo đặc điểm, thóiquen làm việc riêng của từng người.
Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình của các nhà giáo dục nghiêncứu về tự học như: như: Nguyễn Cảnh Toàn “Luận bàn về kinh nghiệm tựhọc”, Phan Trọng Luận “Tự học – một chìa khóa vàng của giáo dục”, Trần BáHoành “Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục và đàotạo”, Nguyễn Hiến Lê “Tự học một nhu cầu tất yếu của thời đại”…Bên cạnh
đó còn rất nhiều các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệpdưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo, các nhà khoa học trong khoa Tâm lýgiáo dục thuộc trường ĐHSP Hà nội và các nhà khoa học thuộc Viện khoahọc giáo dục Việt Nam
Tất cả các công trình, nghiên cứu trên đều nhấn mạnh, khẳng định mộtcách dứt khoát rằng tự học có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sựhình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, là nhân tố trọng yếu nângcao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để người học lĩnh hội tri thức, kỹnăng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới
Các tác giả rất coi trọng tới phương pháp tự học, kỹ năng tự học và việchình thành kỹ năng tự học cho học sinh, sinh viên vì nó được xem xét như lànhân tố bên trong quan trọng để người học hoàn thành nhiệm vụ học tập
Môi trường tự học cũng được coi là yếu tố bên ngoài tạo điều kiện quantrọng giúp cho việc tự học đạt kết quả cao…
Như vậy vấn đề tự học đã được quan tâm tự rất lâu trong lịch sử giáodục và được nghiên cứu ở nhiều góc độ, cấp độ khác nhau cả trong và ngoàinước đều khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa và bản chất của hoạt động tự họccủa học sinh, sinh viên và đưa ra các biện pháp để nâng cao chất lượng tựhọc Song trong thực tế thì việc tự học của học sinh, sinh viên chưa đáp ứngđược mong đợi của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, các bậc làm cha mẹ
Trang 11và đây đang là mối lo hàng đầu trong các trường học, cơ sở đào tạo và nhất làcác trường sư phạm Hơn nữa chưa có tác giả nào nghiên cứu về biện phápnâng cao chất lương hoạt động tự học cho sinh viên người dân tộc ở trườngCĐSP Gia Lai Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp nâng caochất tự học cho sinh viên dân tộc thiểu số trong trường sư phạm là việc rất cầnthiết.
1.2 Khái niệm về hoạt động tự học.
Với việc tìm hiểu, sưu tầm, tìm tòi và bằng kinh nghiệm học hỏi của bảnthân, tôi thấy rằng có rất nhiều tài liệu, sách của các tác giả đã đưa ra các địnhnghĩa khác nhau về tự học:
- Tự học (Seft – learning) là quá trình người học tự nỗ lực chiếm lĩnh tri thứcbằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định
- R.Retke chủ biên cuốn “Học tập hợp lý” coi “Tự học là việc hoàn thành cácnhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” [ 19; tr 97]
- Theo nguyên PGS TSKH Nguyễn Văn Hộ trong cuốn “Lý luận dạy học” thì
“Tự học là hoạt động diễn ra dười sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, họcsinh tự mình sắp xếp kế hoạch, sử dụng điều kiện sẵn có trong gia đình, tàiliệu, củng cố, đào sâu, mở rộng và hoàn chỉnh tri thức hoàn thành cá nhiệm vụhọc tập đã được giáo viên giao và hướng dẫn sơ bộ cách thức thực hiện”[10;
tr 126]
- Với Nguyễn Hiến Lê trong cuốn “Tự học – một nhu cầu của thời đại” thìcho rằng: Tự học là không ai bắt buộc tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biếtthêm Có thầy hay không có thầy ta không cần biết Người tự học hoàn toànlàm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được, đómới là điều quan trọng
Trang 12- Theo Thái Duy Tuyên thì: Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo … và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung củachính bản thân người học
- Theo Nguyễn Cảnh Toàn – Lê Khánh Bằng trong cuốn “Phương pháp dạy
và học đại học” thì cho rằng “Thì tự học là một hình thức hoạt động nhận thứccủa cá nhân nhằm nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ do chính bảnthân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theochương trình và sách giáo khoa đã dược ấn định, tùy theo hứng thú khoa học
và nghề nghiệp, tùy theo trình độ nhận thức về nhiệm vụ và trách nhiệm, tùytheo đặc điểm, thói quen làm việc riêng của từng người” [26; tr 319]
- Cũng theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi
cả cơ bắp (khi sử dụng dụng cụ) và các phẩm chất của mình, rồi cả động cơtình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, cóchí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoahọc, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh mộtlĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu củamình” [25; tr 59, 60]
- Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học”thì “Tự học là một hình thức tổ chức cơ bản ở đại học Đó là một hình thứchoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹnăng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp , hoặckhông theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định” [9; tr 174]
- Theo Phan Thị Hồng Vinh trong cuốn “Phương pháp dạy học Giáo dục học”thì “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của sinh viên do sinh viên
tự thực hiện trong thời gian tự học trên lớp hay ngoài lớp” [32tr 170]
Trang 13- Theo Trịnh Quang Từ: “Tự học là quá trình độc lập, nỗ lực tìm tòi, khámphá tri thức của sinh viên dưới sự tổ chức và điều khiển gián tiếp của giáoviên nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội qua các hìnhthức lên lớp có giáo viên điều khiển trực tiếp…” [28; tr 23].
- Theo Nguyễn Thị Tính: “Tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủđạo của giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảothông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, phánđoán…) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùnghọc tập) Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí …của người học đểvượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thứccho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến kinh nghiệmnày thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học” [24; tr 17]
Từ những nghiên cứu, công trình khoa học trên của các tác giả, nhàkhoa học cho thấy hoạt động tự học được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khácnhau song tựu chung các tác giả đều có nhìn nhận chung về hoạt động tự họcvới bản chất là quá trình nhận thức tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh trithức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho chính người học
Từ đó chúng tôi đi đến định nghĩa về hoạt động tự học như sau: Tự học
là quá trình dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho chinh bản thân mình thông qua các hoạt động trí tuệ và thực hành Trong quá trình
đó người học thực sự là chủ thể nhận thức, vượt qua các khó khăn, trở ngại cả về tâm lý lẫn thể chất để hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao phó và xác định.
Qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của bản thân, tôi cho thấy rằnghoạt động tự học có những hình thức như sau:
Trang 14Hình thức thứ nhất: Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra dưới điều
khiển trực tiếp của giáo viên và phương tiện kỹ thuật ở trên lớp, ở hình thứcnày sinh viên phải tự phát huy các phẩm chất và năng lực của mình như: khảnăng chú ý, óc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…để tiếpthu, lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người dạy định thướng
Hình thức thứ hai: Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra dưới sự
điều khiển gián tiếp của giáo viên, lúc này sinh viên phải tự mình sắp xếp kếhoạch, sử dụng các điều kiện vật chất nhất là huy động năng lực của bản thân
để ôn tập, củng cố, đào sâu, mở rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thànhnhiệm vụ do giáo viên giao, đồng thời lĩnh hội tri thức mới Như vậy, sinhviên tự học dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên nhằm hoàn thành tốtnhiệm vụ dạy học và chương trình đào tạo của nhà trường quy định
Hình thức thứ ba: Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra mà không có
sự hướng dẫn trực tiếp và gián tiếp của giáo viên Người học tự tìm kiếm trithức để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình bằng cách tự tìm tài liệu, tự rútkinh nghiệm, tự phê bình, tự tìm phương pháp, tự sắp xếp thời gian
Trong các hình thức tự học trên thì hình thức thứ ba ở mức độ cao nhất,khó khăn nhất, khắc nghiệt nhất Tuy nhiên trong các trường Cao đẳng, đạihọc thì hoạt động tự học của sinh viên dù ở hình thức nào, mức dộ nào cũngđều có tầm quan trọng riêng Vấn đề là ở chỗ cần nắm được và rèn luyện chomình các hình thức tự học chính điều này sẽ quyết định trực tiếp tới chấtlượng và hiệu quả của của quá trình học tập của bản thân hay quá trình trìnhđào tạo của nhà trường Mọi tác động về nội dung, phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học đều hướng vào mục đích là làm sao để phát huy nỗ lực, nănglực nội sinh của mỗi người học thì mới đem lại hiệu quả Sinh viên khôngnhững là đối tượng tác động của giáo viên mà còn là chủ thể tích cực, sángtạo trong quá trình dạy học – đó chính là sự nhận thức độc đáo có tính chất
Trang 15nghiên cứu của sinh viên bậc đại học Chính việc chủ động, tích cực, sáng tạo,độc lập của mình, sinh viên sẽ giải quyết được mâu thuẫn bên trong cơ bảncủa quá trình dạy học luôn đặt ra Mâu thuẫn luôn đặt ra, học sinh khôngngừng giải quyết từ đó mà tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực nhận thức …của sinh viên không ngừng được nâng lên và hoàn thiện, nhờ vậy mà sinhviên không ngừng thích ứng được với những đòi hỏi không ngừng của xã hội.
Tự học còn là hình thức hoạt động có tính chất cá nhân, do bản thânngười học nỗ lực thực hiện ở trên lớp hay ngoài lớp hoặc diễn ra khi học sinhcòn ngồi trên ghế nhà trường hay trong suốt cuộc đời Cho nên “tự học là hoạtđộng độc lập của học sinh - sinh viên diễn ra song song với quá trình dạyhọc, có liên hệ mật thiết với quá trình này Có lúc không bám sát chương trìnhhay sách giáo khoa, tự đề thêm nhiệm vụ, sử dụng thêm tài liệu lý luận vàthực tiễn tùy theo hứng thú khoa học và nghề nghiệp, tùy theo hứng thú vàkhả năng, tùy theo trình độ nhận thức của bản thân về nhiệm vụ, cuối cùngtùy theo thói quen làm việc của mỗi cá nhân
1.3 Vai trò, vị trí của hoạt động tự học.
Ở bất kỳ hoạt động học nào thì giáo viên luôn giữ một vai trò quantrọng đặc biệt không thể thiếu được đó là: Người tổ chức, điều khiển, hướngdẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên Qua thực tế cho thấy, dù giáoviên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấynhưng học sinh lại không đầu tư thời gian, công sức lao động cá nhân, không
có niềm khao khát, say mê với tri thức, không có kế hoạch và phương pháphọc tập hợp lý, không có sự tự giác, tích cực học tập thì việc học tập chẳngthể đạt được kết quả như mong muốn
Vì vậy có thể khẳng định hoạt động học tập luôn giữ một vị trí, vai tròrất quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh – sinh viên, đây là yếu tốquyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập nói chung
Trang 16Nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười đã phát biểu về vai trò và ý nghĩa củahọa động tự học như sau: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát tiển suốtcuộc đời của mỗi con người, trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta như hiệnnay và cả mai sau đó cũng là truyền thống quý báu của con người Việt Nam
và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo
ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dụcthành tự giáo dục Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào tự học”(Trích thư gửi hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày6/1/1998)
Trong quá trình học tập ở trường Cao đẳng, Đại học đòi hỏi sinh viênphải tiếp thu một khối lượng kiến thức lớn và khó, cho nên ngoài thời gianhọc tập trên lớp sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu thêm ngoài giờlên lớp để mở rộng, đào sâu tri thức
Như vậy, hoạt động tự học có vai trò rất quan trọng đối với kết quả họctập và nó càng trở nên thiết thực hơn đối với sinh viên đang học ở bậc đạihọc, bởi sinh viên trong môi trường này có nét đặc thù riêng so với bậc họcphổ thông Điều này thể hiện hoạt động nhận thức của sinh viên ở mức độ caohơn, mang tính chất độc lập, tự lực, tự giác sáng tạo trong việc tiếp thu lĩnhhội tri thức cũng như việc vận dụng tri thứ vào tình huống cụ thể Phươngpháp học tập của sinh viên cũng khác, phần nhiều là mang tính chất tự nghiêncứu, nhưng điều đó không có nghĩa là thiếu vai trò của giáo viên Do đó cóthể nói hoạt động tự học là một khâu của quá trình giáo dục, là một quá trìnhgia công, chế biến và tự điều khiển theo đúng mục tiêu giáo dục qui định
Nhờ có tự học và bằng con đường tự học, người học mới nắm vững trithức, thông hiểu tri thức, bổ sung, hoàn thiện tri thức cũng như hình thànhnhững kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Điều này đã được K.Đ.Usinxki khẳngđịnh: “Chỉ có công tự học của người học mới tạo điều kiện cho việc thông
Trang 17hiểu tri thức” [29; tr 100] Như vậy, chính hoạt động tự học sẽ trang bị tri thứccho người học phục vụ cho quá trình học tập.
- Tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệptrong tương lai Chính trong quá trình tự học mà giúp sinh viên từng bướcbiến vốn hiểu biết, kinh nghiệm của loài người thành vốn hiểu biết, kinhnghiệm riêng của cá nhân Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho sinh viênhiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố và ghi nhớ vững chắc tri thức,biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập
- Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng vàhiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có đượchứng thú, thói quen và phương pháp tự học thường xuyên để làm phong phúthêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của bản thân Giúp họ tránh được sự lạchậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đạingày nay
- Tự học, thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ không chỉ giúpsinh viên mở rộng, đào sâu kiến thức mà còn giúp họ hình thành nên nhữngphẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống vàlàm việc một cách khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, ócphê phán, lòng say mê nghiên cứu khoa học
- Trong quá trình học tập ở bậc đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực
tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được tiềm năng to lớn vốn có trong họ, tạo nênđộng lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên mọi khó khăn, trở ngại bênngoài, khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượngđào tạo
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giáo viên
và tập thể học sinh trong nhà trường, các lực lượng này có tác dụng lớn trong
Trang 18việc động viên, khuyến khích, hướng dẫn sinh viên tự học một cách đúnghướng và hiệu quả.
Ngoài ra, tự học còn có vai trò trong việc giáo dục tình cảm và nhữngphẩm chất đạo đức của bản thân người học Bởi học sinh – sinh viên khôngchỉ nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện thói quen, kỹ năng, kỹ xảo vậndụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn trên cơ sở đó nó lại tác độngđịnh hướng có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lói sống,niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhân cũng như những phẩm chất ýchí cần thiết cho việc tổ chức lao động, học tập của mỗi cá nhân Bên cạnh đócũng rèn luyện cho họ cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập trong học tập đồngthời rèn luyện thói quen trong các hoạt động khác Nói cách khác hoạt động
tự học hướng vào việc rèn luyện phát triển toàn diện nhân cách học sinh Mặtkhác hoạt động tự học không những là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của họcsinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường để họ tiếp nhận tri thức, nângcao trình độ hiểu biết của bản thân mà còn có ý nghĩa lâu dài trong suốt cuộcđời mỗi con người, đó là thói quen học tập suốt đời, bởi sau khi ra trường vẫnphải tiếp tục “ học, học nữa, học mãi” Sự học tạp khi rời ghế nhà trường cònquan trọng hơn gấp bội lần sự học khi còn trên ghế nhà trường và hậu quả của
nó, ảnh hưởng của nó đến cá nhân con người và xã hội
Qua đó, muốn nâng cao chất lượng học tập của học sinh, sinh viêntrong các trường Cao đẳng, Đại học thì chúng ta phải quan tâm đúng mức đếnviệc bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nghiệp vụ của mỗi người giáo viên đồngthời phải đặc biệt chú ý đến vị trí trung tâm của người học trong hoạt độnghọc tập, để làm sao khai thác tiệt để những tiềm năng vốn có của họ đượcphát lộ nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệpCNH – HĐH đất nước
1.4 Bản chất hoạt động tự học của học sinh – sinh viên
Trang 19* Hoạt động tự học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh – sinh viên mang tính chất nghiên cứu.
Như vậy, hoạt động tự học của học sinh – sinh viên là một nhân tố, mộtkhâu của quá trình dạy học Đó là quá trình tiếp thu, gia công, lưu giữ thôngtin từ giáo viên để tự mình chế biến, chuyển hóa thành sản phẩm trí tuệ củabản thân Đó là sự phản ánh khách quan thông qua chủ quan của người họctrong đó mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học đã trở thành mục đích,nhiệm vụ của quá trình tự học đối với người học
Qúa trình tự học là quá vận động của người học từ chỗ chưa biết đếnchỗ biết và ngày càng đầy đủ, sâu sắc, hoàn thiện hơn Từ chỗ nắm tri thứcđến chỗ hình thành vững kỹ năng, kỹ xảo ngày càng ở mức độ cao hơn Từchỗ vận dụng những điều đã học vào tình huống quen thuộc đến chỗ vận dụngdụng chúng vào những tình huống mới trên cơ sở đó ngày càng hoàn thiện cácnăng lực và phẩm chất đạo đức, trí tuệ, thế giới quan khoa học và các phẩmchất đạo đức khác
Cơ sở có tính chất phương pháp luận của hoạt động tự học là quan điểm
về bản chất hoạt động của con người Vì theo TLH hoạt động có vai trò quyếtđịnh trực tiếp đến sự hình thành phát triển nhân cách Điều này đã đượcC.Mác khẳng định: “Sự hình thành con người không chỉ là kết quả của nhữngtác động bên ngoài mà là một quá trình hiện thực khách quan của sự thay đổi
tự chuyển hóa” [15; tr78]
Như vậy, hoạt động tự học tất yếu đòi hỏi phải có sự nỗ lực tích cực và
tự điều chỉnh hành vi của bản thân, hoạt động đó sẽ đem lại hiệu quả cao, khitính mục đích trở thành một phẩm chất độc lập của nhân cách gắn liền vớiviệc xây dựng ý chí, niềm tin của quá trình hoạt động của họ
Vậy yếu tố nào thúc đẩy hoạt động tự học của học sinh – sinh viên?Qúa trình tự học cũng giống như quá trình dạy học đều có động lực là kết quả
Trang 20của việc giải quyết các mâu thuẫn vốn có trong quá trình tự học của ngườihọc Trong quá trình đó phải kể đến mâu thuẫn cơ bản đó là mâu thuẫn giữamột bên là yêu cầu, nhiệm vụ nhận thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tự họcđược đề ra với một bên là trình độ, khả năng hiện có của người học Giảiquyết được mâu thuẫn này trong quá trình tự học sẽ giúp cho người học pháttriển về mặt nhận thức nói riêng và nhân cách nói chung Từ đó có thể thấythực chất hoạt động tự học của học sinh – sinh viên là quá trình học tập, mộtquá trình nhận thức không có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên mà chỉ tổchức hướng dẫn một cách gián tiếp hoạt động cho học sinh Đó là một quátrình học tập vất vả hơn nhiều so với quá trình học tập có sự lãnh đạo, điềukhiển trực tiếp của người giáo viên Bởi lẽ lúc này người học phải tự đặt racho mình mục đích, nhiệm vụ, phải tự xây dựng cách học, phải sử dụng linhhoạt, hợp lý các hình thức, điều kiện và phương tiện học tập để đạt được kếtquả cao.
Nhà lý luận dạy học nổi tiếng B.P.Exipôp cũng khẳng định điều đó:
“Công tác tự học của học sinh, được đưa vào quá trình dạy học, là công tácđược thực hiện không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên, nhưng theo bàilàm mà giáo viên giao cho trong khoảng thời gian dành riêng cho nhiệm vụnày Ở đây học sinh tự giác vươn tới đích đã được vạch ra trong bài làm, biểu
lộ mọi nỗ lực và thể hiện kết quả hoạt động trí tuệ hoặc thể lực của mình(hoặc cả hai hoạt động) dưới một dạng nào đó [7; tr15]
Chủ thể của quá trình tự học đó chính là bản thân người học, do đó kếtquả phụ thuộc chủ yếu và phần lớn vào mức độ tích cực, độc lập sáng tạotrong hoạt động nhận thức của chính người học Theo Nguyễn Ngọc Bảo:Tính tích cực nhận thức biẻu hiện ở chỗ huy động ở mức độ cao các chứcnăng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư duy Tính tích cực nhận thức là mộtphẩm chất của cá nhân, là thái độ của chủ thể (học sinh – sinh viên) đối với
Trang 21khách thể (hoạt động học tập) thông qua sự huy động ở mức độ cao chức năngtâm lý để giải quyết nhiệm vụ học tập Tính tích cực nhận thức vừa là mụcđích của hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt mực đích, vừa
là kết quả của hoạt động
- Tính tích cực nhận thức tồn tại dưới 2 dạng: Bên trong và bên ngoài
Bên trong: như là thái độ của chủ thể hoạt động, đó là sự tự nguyện, tựgiác, có nhu cầu, hứng thú đối với việc học tập, có sự nỗ lực cố gắng, kiên trì,khắc phục khó khăn trong quá trình nắm tri thức, có khả năng định hướng đốivới nhiệm vụ nhận thức
Bên ngoài: đó là sự huy động cao nhất các chức năng tâm lý để chiếmlĩnh kiến thức, biểu hiện ra bên ngoài của nó là những trạng thái hoạt độngtích cực như: sự tập trung chú ý, sự căng thẳng trí tuệ, sự tận dụng thời gian
để thực hiện kế hoạch học tập, kả năng giải quyết tình huống một cách sángtạo Tùy theo mức độ huy động các chức năng tâm lý trong quá trình nhậnthức mà có những mức độ khác nhau của tính tích cực, thể hiện từ thấp đếncao
Mức độ thấp: thể hiện sự tái hiện, bắt chước
Mức độ thể hiện sự tìm tòi trong nhận thức
Mức độ thể hiện sự sáng tạo trong nhận thức
- Tính độc lập trong nhận thức: Được thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đềmột cách tự chủ, độc lập, luôn tìm phương pháp mới để nắm tri thức Đó làkhả năng vận dụng tri thức đã biết vào những hoàn cảnh mới để nắm tri thứcmới, củng cố và mở rộng kiến thức đã học Tính độc lập trong quá trình nhậnthức được biểu hiện ở trong suy nghĩ đó là khả năng tự nhận xét, phán đoán,suy luận trước những ý kiến của người khác tự mình tiến hành các thao tác tưduy để lĩnh hội tri thức không phụ thuộc vào ý kiến của người khác, diễn đạt
Trang 22những vấn đề lĩnh hội theo quan điểm của mình và được thể hiện cả tronghành động.
Như vậy, tính độc lập nhận thức của học sinh là hoạt động có hệ thốngtrên lớp và ngoài lớp để tự mình tìm tòi tri thức, nêu ra vấn đề, giải quyết vấn
đề và tự bản thân kiểm tra kết quả, hoàn thành một cách sáng tạo nhiệm vụnhận thức
- Tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức: Là mức độ cao của tính tích cực vàtính độc lập Tính sáng tạo là thái độ tích cực cải tạo của chủ thể đối vớikhách thể, là sự thống nhất của quá trình hoạt động trí tuệ, ý chí và tình cảmcủa con người nhằm hoàn thiện và sáng tạo ra một hoạt động, một sản phẩmnào đó Tính sáng tạo được thể hiện ở nhu cầu khao khát tìm tòi, khám phábản chất của sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu, muốn vận dụng nhữngphương pháp mới để khắc phục khó khăn trong quá trình lĩnh hội tri thức, tìm
ra những giải pháp mới, yếu tố mới trong quá trình hoàn thiện bài học, đảmbảo chất lượng tối ưu trong quá trình học tập Tính sáng tạo có liên quan mậtthiết với năng lực tư duy sáng tạo trong quá trình nhận thức, đó là năng lựctìm thấy vấn đề mới, phát triển cái mới, tự di chuyển tình huống, sáng tạo raphương thức giải quyết mới
* Hoạt động tự học là một quá trình tự điều khiển – quá trình tổ chức lĩnh hội tri thức.
Qua phân tích trên, chúng ta thấy hoạt động tự học là hoạt động tíchcực, độc lập, sáng tạo của học sinh – sinh viên, nói như vậy không có nghĩa làthầy giáo truyền thụ một cách máy móc những tri thức có sẵn đến người học
mà đó là quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người họcnhằm hình thành cho họ năng lực nhận thức , thái độ, phương pháp học tập, ýchí để họ tự mình dành lấy tri thức, biến tri thức của nhân loại thành sản phẩmcủa bản thân
Trang 23Nếu trong quá trình dạy học, giáo viên căn cứ vào mục đích dạy học đểlựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để truyền đạt trithức đến học sinh, người học tiếp thu tri thức và đạt được kết quả học tậptương ứng Còn trong quá trình tự học việc điều khiển nhân cách người họcđược chuyển hóa thành việc tự điều khiển sự phát triển của chính bản thân họ.Như vậy, tự học là quá trình tự điều khiển, là quá trình tự tác động nhằmhướng mọi hoạt động của chủ thể vào một trình tự nhất định để đạt được kếtquả tối ưu.
Theo quan điểm Xibecnetic (điều khiển học): Qúa trình tự học là mộtquá trình tự điều khiển quá trình tổ chức chiếm lĩnh tri thức, quá trình thunhận, chế biến, xử lý, bảo quản và truyền đạt thông tin nhằm làm tăng sự hiểubiết của cá nhân, giúp cho người học nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảotrong quá trình học tập, đồng thời đó là quá trình chống lại những hoạt độngchủ định lệch tâm hoặc vô thức ngăn cản tiến trình cải tiến hoạt động học tập.Trong khi tiến hành hoạt động tự học, học sinh – sinh viên phải sử dụng một
hệ thống các thao tác tư duy nhằm biến nguồn tri thức đã tiếp thu được thànhsản phẩm trí tuệ riêng của bản thân để khi cần có thể sử dụng nó như mộ công
cụ lao động Trong quá trình đó đòi hỏi học sinh – sinh viên phát huy ở mức
độ cao quá trình tâm lý, các thuộc tính tâm lý của cá nhân từ cảm giác, trigiác…đến xu hướng, tính cách, tình cảm và các yếu tố tâm lý khác Nó bắtđầu từ vệc lập kế hoạch học tập đến việc tổ chức thực hiện kế hoạch (Sử dụngthời gian, phương pháp, các hình thức tự học cho phù hợp giữa nghe giảng,ghi chép, đọc sách…tự kiểm tra, đánh giá quá trình đó)
Từ đó có thể nói, Tự học là một quá trình bao gồm các khâu như sau:
- Xây dựng kế hoạch
Tổ chức hoạt động tự học theo kế hoạch đã đề ra, thể hiện ở sự lựachọn, sử dụng những hình thức và phương pháp tự học một cách hợp lý, chú ý
Trang 24đến tính đặc thù của mô học và đặc điểm tâm lý riêng của mỗi cá nhân ngườihọc Việc sử dụng các hình thức tự học thể hiện tính chủ động, tính tích cực,sáng tạo của người học Ngoài thời gian ở trên lớp, học sinh – sinh viên cần
sử dụng các hình thức tự học khác nhau để hoàn thiện tri thức của mình
- Khâu cuối cùng của hoạt động tự học, là quá trình tự kiểm tra, đánh giá quátrình học tập của bản thân Khâu này có ý nghĩa quan trọng giúp người họcthấy được khả năng nắm tri thức, và qua đó thấy được mặt mạnh, mặt yếu củabản thân để kịp thời điều chỉnh quy trình học tập cho phù hợp
Người học thực hiện tốt được những điều kiện trên thì sẽ tận dụng triệt
để thời gian, không ngừng nâng cao tri thức của bản thân, rèn luyện tác phonglàm việc nghiêm túc, khoa học để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Như vậy, hoạt động tự học của học sinh – sinh viên tại các trường Caođẳng, Đại học thực chất là hoạt động nhận thức thế giới quan có tính chấtnghiên cứu dưới sự hướng dẫn, điều khiển của giáo viên Hoạt động đó đòihỏi người học phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, chủ động, độc lập,sáng tạo của bản thân Có như vậy mới tiếp thu được những kinh nghiệm của
xã hội loài người và như thế nhân cách không ngừng được phát triển
1.5 Mối quan hệ giữa giáo viên và sinh viên trong quá trình tự học.
Như chúng ta đã biết,quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổchức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, chủ động tích cực tự
tổ chức, tự điều khiển quá trình nhận thức của mình nhằm thực hiện cácnhiệm vụ học tập
Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động họccủa học sinh là hai hoạt động có mối quan hệ thống nhất, biện chứng vớinhau, qui định lẫn nhau và cả hai hoạt động ấy đều hướng tới mục đích cuốicùng là biến đổi nhân cách của chính bản thân người học thông qua việcngười học tích cực nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ
Trang 25xảo Như vậy hoạt động học, hoạt động tự học của học sinh – sinh viên luôn
có mối quan hệ biện chứng và thống nhất với hoạt động dạy của giáo viên,nghĩa là nó không tách rời khỏi vai trò chủ đạo của giáo viên Tuy nhiên, vaitrò chủ đạo của người giáo viên trong các hình thức tổ chức dạy học kháckhông giống như trong hoạt động tự học của học sinh – sinh viên, vì ở hoạtđộng tự học người thầy chỉ đạo, điều khiển một cách gián tiếp hoạt động đóthông qua các nhiệm vụ, bài tập tự học được giao cho học sinh hoàn thành.Đứng trước nhiệm vụ tự học được giao, sinh viên phải phát hiện được nhữngvấn đề cần giải quyết, tự lập kế hoạch, huy động mọi năng lực và phương tiện
để giải quyết vấn đề Qua đó củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức giáo viên cónhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành nhiệm vụ tự học đồng thờithường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả tự học giáo viên nắmthông tin ngược từ phía học sinh – sinh viên để kịp thời điều chỉnh quá trìnhnhận thức của họ và điều chỉnh hoạt động giảng dạy của chính bản thân Sựchỉ đạo của giáo viên như vậy đã thực sự đặt người học vào vị trí chủ thể củaquá trình nhận thức tích cực nhưng điều này không có nghĩa là hạ thấp vai tròlãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên
Khi điều khiển hoạt động tự học của người học, giáo viên không hoàntoàn áp đặt về nội dung, phương pháp và nhịp độ tiến hành mà căn cứ vàomục đích dạy học để thiết kế các nhiệm vụ nhận thức thành các phương ánthực hiện, phân bố mức độ khó theo kiểu phân nhánh nội dung dạy học thànhnhững mục tiêu bộ phận kế tiếp nhau hướng tới mục tiêu tổng thể đã xác định.Khi tổ chức, chỉ đạo, điều khiển học sinh tự học, giáo viên không nên làmthay việc giải quyết mâu thuẫn trong hoạt động nhận thức hoặc phó thác hoàntoàn cho học sinh, làm như vậy sẽ hạ thấp vai trò của mình, mà phải tổ chức,hướng dẫn một cách gián tiếp Cho nên đối với người giáo viên, điều quantrọng là phải biết lựa chọn và đặt ra cho người học những mục tiêu vừa đảm
Trang 26bảo cho sự trưởng thành về nhận thức và sự tự tin về mức độ tiến bộ của họ.J.A.Cômenxki – ông tổ của nền giáo dục cận đại đã khẳng định rằng: “Giảngdạy không phải chỉ cung cấp cho học sinh những châm ngôn, ý kiến của nhiềutác phẩm, tác giả mà là khơi dậy ở học sinh lòng ham hiểu biết để như từ mộtthân cây đâm ra nhiều cành lá hoa trái sum xuê” Làm như vậy giáo viên đãkích thích cho người học hứng thú, nhu cầu tự học, phát triển năng lực sángtạo, năng lực làm chủ hoàn toàn hoạt động nhận thức của mình, lúc này giáoviên không còn là “ống dẫn thông tin” mà đã trở thành “ chất xúc tác” của quátrình dẫn thông tin.
Để thấy rõ hơn vai trò, vị trí của người giáo viên trong việc tổ chứchoạt động tự học cho học sinh – sinh viên, chúng ta hãy xem xét sự biến đổivai trò đó trong các hình thức dạy học cơ bản ở Đại học, Cao đẳng: diễngiảng, xêmina, thực hành và tự học theo trật tự này, chức năng các hình thức
tổ chức dạy học bắt đầu từ việc cung cấp những khái niệm, tri thức, phươngpháp cơ bản qua hình thức diễn giảng: Củng cố và mở rộng một phần quaxêmina, tập vận dụng tri thức qua thực hành và cuối cùng là làm sâu sắcphong phú và hoàn chỉnh qua tự học
Khi tiến hành diễn giảng, giáo viên hoàn toàn chủ động về nội dung,phương pháp, tiến độ nặng về độc thoại, người học ít có cơ hội tham gia tiếntrình khám phá tri thức do điều kiện và thời gian Các tri thức được giáo viêntruyền tới học sinh – sinh viên một cách tuần tự, người học chủ yếu là ghi nhớ
và hiểu đúng tư tưởng của giáo viên, giáo viên làm chủ thể của buổi học
Khi tiến hành xêmina, nhiệm vụ học tập đã được người học chuẩn bọsẵn và được đưa ra trao đổi, tranh luận trước tập thể lớp dưới sự điều khiểntrực tiếp của giáo viên Học sinh có điều kiện để phát huy sáng kiến cá nhân
tự trình bày quan điểm của mình tức là họ đã chủ động trong nhận thức.Nhưng dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên, người học chỉ xem xét phát
Trang 27huy sáng kiến, độc lập nghiên cứu giới hạn trong các vấn đề đã được xác địnhtheo kế hoạch và trình độ của giáo viên Học sinh có thể tranh luận các vấn đềnhưng phải tuân theo kết luận của người dạy mà không lĩnh hội tri thức theokiểu riêng của mình Tri thức khoa học trong xêmina được người học cùngnhau khám phá nhưng vẫn hướng vào làm rõ nội dung bài giảng của giáoviên Như vậy, trong trường hợp này người học đã chủ động và tích cực hơn,giáo viên không còn độc thoại như trong bài giảng
Trong hình thức thực hành học sinh – sinh viên vận dụng tri thức dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên với ý thức làm chủ và tự điều khiển hoạtđộng học tập của mình nhưng ở đây nội dung bài học vẫn do giáo viên xácđịnh và điều khiển trực tiếp giáo viên không phải dẫn dắt người học từngbước nhưng vẫn có nhiệm vụ hướng dẫn họ đi theo trình tự, nội dung và cáchthức chuẩn bị trước
Còn trong hoạt động tự học, học sinh – sinh viên hoàn toàn chủ động cả
về nội dung, phương pháp, kế hoạch và tiến độ thực hiện các hành động giáoviên không còn trực tiếp hướng dẫn nữa mà thông qua các nhiệm vụ nhậnthức giao cho người học thực hiện Tri thức khoa học mà học sinh – sinh viêncần lĩnh hội trong hoạt động tự học khong chỉ nằm ở các nhiệm vụ học tậpđược giao mà còn ở nhiều dạng phong phú khác gắn liền với hoạt động nghềnghiệp sau này của họ
Như vậy, đi từ hình thức diễn giảng đến hình thức tự học, theo trình tựxét trên thì vai trò tích cực, chủ động của người học được tăng dần lên, vai tròtrực tiếp của giáo viên giảm dần đến gián tiếp ở hoạt động tự học Nhưngngười học chỉ thực sự phá huy được tính tích cực và sáng tạo của mình tronghoạt động tự học khi có sự hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển của giáo viên
Vì vậy, dạy học ở đại học phải hướng dẫn tự học cho sinh viên Trongbất kỳ trường hợp nào, phải lấy tích cực cuả người học làm trọng, phương
Trang 28pháp giảng dạy của giáo viên sẽ quyết định tới phương pháp của sinh viêngiúp cho sinh viên nắm được các yêu cầu của học tập bộ môn, phương pháphọc tập, cách thức rèn luyện các kỹ năng theo yêu cầu là công việc hết sứccần thiết trong giảng dạy Trong hoạt động dạy, người thày phải thực sự ở vịtrí chủ đạo là người tổ chức, hướng dẫn, cố vấn, trọng tài giúp sinh viên tựhọc và biết kiẻm tra chất lượng tự học của mình Làm được điều đó, ngườithầy trở thành người dạy học và việc học của học sinh là học phương pháphọc, phương pháp tự học phát hiện ra tri thức, chân lý!
1.6 Kỹ năng tự học của sinh viên.
* Khái niệm về kỹ năng:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng, có thể phân tích thànhcác hướng sau:
- Quan niện chú trọng đến mặt kỹ thuật hành động, mà tiêu biểu làA.G.Côvaliốp, A.V.Petrôxki, V.A.Krutetxki Họ cho rằng, kỹ năng là mộtphương tiện thực hành hành động, chỉ cần nắm được cách thức hành động là
có kỹ năng mà không tính đến kết quả của hành động
- Một số tác giả khác như: N.D.Lêvitốp, K.K.Platônốp, Nguyễn Quang Uẩn,Ngô Công Hoàn…lại chú trọng đến kết quả của hành động Họ coi kỹ năng lànăng lực thực hiện một công việc tạo ra kết quả với chất lượng cần thiết trongmột thời gian nhất định, trong điều kiện mới Với quan niệm này, các nhàkhoa học khi nghiên cứu kỹ năng, họ luôn coi kỹ năng là năng lực của conngười, chứ không đơn thuần nó là mặt kỹ thuật của hành động trong mối quan
hệ với mục đích, phương tiện và cách thức tiến hành hành động
- Quan niệm khác lại cho rằng: Kỹ năng là việc vận dụng tri thức và kỹ xảo đã
có vào việc lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động đặt ra Tiêubiểu là các tác giả T.S.Nazarov, N.G.Kazanki Trong cuốn từ điển Tâm lý học
do A.V.Petrôpxki và M.G.Jarosepxki chủ biên năm 1999 đã cho rằng: “Kỹ
Trang 29năng là phương thức hành động dựa trên cơ sở tổng hợp những tri thức và kỹxảo, kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập , tạo khả năng chocon người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc và cảtrong điều kiện thay đổi” Như vậy, ở quan niệm này thì kỹ năng được hìnhthành trên cơ sở kiến thức và kỹ xảo đã được luyện tập trước.
Từ những quan niệm trên mà chúng ta có một cách hiểu khái quát nhưsau về kỹ năng:
Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thực hiện cho phép Kỹ năng biểu hiện trình độ các thao tác tư duy năng lực và mặt
kỹ thuật của hoạt động.
Để có kỹ năng về hành động nào đó cần phải:
+ Có tri thức về hành động, bao gồm: mục đích của hành động, các điều kiện,các phương thức, cách thức hành động để đạt được mục đích
+ Tiến hành hành động đúng với yêu cầu của nó
+ Muốn có kỹ năng phải có quá trình hình thành kỹ năng đúng, khoa học, có
sự rèn luyện, tập dượt để đạt được mục đích
* Kỹ năng tự học
Hoạt động tự học là một hoạt động tự tìm tòi, khám phá để chiếm lĩnhtri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Hoạt động tự học bao gồm rất nhiều cáchành động liên tục, kế tiếp nhau như; quan sát, ghi chép, đọc tài liệu, giải bàitập…
Để tự học tốt, sinh viên phải nắm vững tri thức về hành động tự họcnhư: xác định mục đích, các điều kiện, phương tiện và cách thức tiến hànhhành động nhằm thu được kết quả phù hợp với mục đích tương ứng, tức làphải có kỹ năng tự học tương ứng Từ đó, có thể hiểu kỹ năng tự học là khả
Trang 30năng thực hiện có kết quả của một hay một nhóm hành động học tập bằngcách vận dụng những kinh nghiệm đã có để hành động với những điều kiệncho phép nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập.
+ Kỹ năng tự học bao gồm các đặc trưng sau:
- Kỹ năng tự học là tổ hợp các cách thức hành động tự học được người họcnắm vững, nó biểu hiện ở mặt kỹ thuật của hành động tự học và mặt năng lực
tự học của mỗi cá nhân Có kỹ năng tự học là có năng lực tự học ở mức độnào đó
- Kỹ năng tự học có quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập, nó là yếu tố mangtính mục đích của hành động tự học và có ý nghĩa quyết định đến kết quả tựhọc
+ Hệ thống các kỹ năng tự học:
Hoạt động tự học được thực hiện bởi một chuỗi các hành động tự học
Để tự học có kết quả, sinh viên cần phải có những kỹ năng tự học tương ứngvới các hành động tự học như: kỹ năng ghi chép, kỹ năng đọc sách, kỹ năngnghiên cứu và hệ thống hóa bài học…
Các kỹ năng tự học có liên quan hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau
Để hoạt động tự học đạt hiệu quả cao, sinh viên trong quá trình tự học phảibiết kết hợp vận dụng các kỹ năng với nhau một cách hợp lý
Theo quan niệm điều khiển học, quá trình tự học quá trình tự học là quátrình tự điều khiển, tự tác động của chủ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụhọc tập đạt kết quả tối ưu Qúa trình tự điều khiển đó khởi nguồn từ việc lập
kế hoạch tự học, tổ chức thực hiện kế hoạch và cuối cùng là tự kiểm tra, đánhgiá quá trình đó
Từ đó có thể chia hệ thống các kỹ năng tự học thành 3 nhóm cơ bản:
1 Nhóm kỹ năng kế hoạch hóa hoạt động tự học:
Trang 31Nhóm này bao gồm các kỹ năng xác định mục đích, nội dung và trình tựcông việc cần làm, phân phối, sắp xếp thời gian cho từng công việc.
2 Nhóm kỹ năng tổ chức, thực hiện kế hoạch
Nhóm này bao gồm các kỹ năng tiến hành các hành động nhận thức đốivới quá trình tự học, đảm bảo cho việc hoàn thành các kế hoạch đã đề ra, đó
là kỹ năng đọc sách và tài liệu học tập, kỹ năng ghi chép, kỹ năng giải bài tậpnhận thức, kỹ năng thực hiện các thao tác trí tuệ và nhất là kỹ năng hệ thốnghóa và khái quát hóa kiến thức
3 Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá
Nhóm này bao gồm các kỹ năng xác định nội dung sẽ kiểm tra, đánh giá,xây dựng độ chuẩn để kiểm tra, thang tự đánh giá, chọn cách thức thực hiệnhành động tự kiểm tra, tự đánh giá, so sánh, đối chiếu
Các nhà GDH đã xem kỹ năng học tập của học sinh – sinh viên là mộtloại kỹ năng riêng biệt của hệ thống kỹ năng sư phạm Sử dụng để lĩnh hội trithức nói riêng, phát triển trí tuệ nói chung trong quá trình học tập…Trong quátrình dạy học rất cần hình thành kỹ năng tự học nhất là kỹ năng cơ bản, đồngthời tổ chức cho họ rèn luyện nhằm nắm vững hệ thống các thao tác trong quátrình tự học và vận dụng chúng một cách sáng tạo
Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng tự học là đòi hỏi không thể thiếuđối với sinh viên sư phạm trong quá trình học tập Đây là yếu tố cần thiết đểsinh viên thực hiện một cách hiệu quả hoạt động tự học của bản thân Nhờ hệthống các kỹ năng tự học mà việc học tập của học sinh trở nên sáng tạo, tránhmáy móc và họ biết cách chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động của chính bảnthân mình
Để tự học đạt chất lượng, học sinh – sinh viên phải có các kỹ năng tựhọc chính điều này mà giúp họ hoàn thành nhiệm vụ học tập, thỏa mãn nhucầu nhận thức của bản thân, đồng thời nó là điều kiện vật chất bên trong để
Trang 32người học biến thành động cơ tự học thành kết quả cụ thể từ đó mà làm chongười học tự tin, hứng thú, say mê duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạtđộng tự học của chính bản thân mình.
1.7 Hoạt động tự học môn GDH ở trường Cao đẳng, đại học sư phạm.
* Vị trí, chức năng môn GDH ở trường Cao đẳng, Đại học sư phạm
Nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường sư phạm là đào tạo đội ngũ giáo viêncho các trường phổ thông, nghĩa là nó là chiếc máy cái của giáo dục phổthông Như vậy, nhà trường sư phạm với tư cách là trường dạy nghề cho sinhviên nên người học phải có nhiệm vụ hoàn thành tốt việc học nghề cho bảnthân trong khi con ngồi trên ghế nhà trường Vì việc học nghề đóng vài tròquan trọng và có ý nghĩa không chỉ dừng lại ở việc nắm cững tri thức, kỹnăng nghề nghiệp để hình thành kỹ năng nghề nghiệp, người học cần phải cókiến thức cần thiết về nghiệp vụ sư phạm thông qua môn TLH và GDH ởtrường sư phạm Có thể nói đây là hai môn học cơ bản giúp cho người học cóđược kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai
Việc dạy môn TLH nhằm mục đích:
- Trang bị cho sinh viên những tri thức cần thiết, cơ bản về TLH đại cương,trên cơ sở đó đi sâu vào nghiên cứu Tâm học lý học lứa tuổi và Tâm lý học sưphạm, góp phần hình thành năng lực nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên
- Giúp cho sinh viên có cách nhìn nhận, đánh giá học sinh một cách khoa học,chính xác hình thành niềm tin, tình cảm yêu nghề đồng thời rèn luyện cho họnhững kỹ năng cơ bản để đảm nhận công việc giảng dạy và giáo dục ở trườngphổ thông sau này
- Hình thành quan điểm, thái độ đúng đắn về con người, nhân cách và hành vihoạt động để họ hình thành nhân cách người thầy giáo xã hội chủ nghĩa
Môn giáo dục học có nhiệm vụ:
Trang 33- Cung cấp cho học sinh – sinh viên những kiến thức cơ bản về hoạt động dạyhọc, giáo dục và những vấn đề chung về giáo dục
- Việc cung cấp những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp nghiên cứukhoa học không chỉ giúp người học vận dụng vào việc dạy học, giáo dục ởnhà trường phổ thông sau này, mặt khác những kiến thức này còn là cơ sở chocác môn phương pháp giảng dạy của các khoa cơ bản Vì vậy, đòi hỏi ngườihọc phải nắm vững tri thức về TLH và GDH để vận dụng lĩnh hội và truyềnđạt kiến thức chuyên ngành, có như vậy mới thực hiện tốt chức năng giảngdạy và giáo dục của bản thân khi ra trường
Tháng 4/1999, Bộ trưởng Bộ GD – ĐT đã có chỉ thị về việc đẩy mạnhhoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong các trường sưphạm, nhằm tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo,năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh - sinh viên trong đó có nhấnmạnh: “Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập là nhiệm vụ quan trọngcủa từng trường sư phạm, từng bộ môn, của mỗi giảng viên và của mỗi họcsinh – sinh viên, trong đó đi đầu là giảng viên các bộ môn phương pháp dạyhọc, bộ môn TLH và GDH” (Số 15/1999/CT – BGD&ĐT)
Trang 34Như vậy, việc học tập tốt môn GDH ở trường sư phạm có ý nghĩa vô cùngquan trọng góp phần nâng cao chất lượng học tập nói riêng và đào tạo nóichung.
* Vấn đề tự học môn GDH:
Tự học môn giáo dục học là quá trình sinh viên cá nhân hoá việc học môn GDH để thoả mãn các nhu cầu hiểu biết về dạy học và hình thành năng lực sư phạm, hình thành thái độ và tình cảm nghề nghiệp Là quá trình sinh viên tự giác tiến hành các hoạt động nhận thức (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá ) và các hoạt động thực hành, hoạt động ngoại khoá, các hoạt động giao tiếp và èn luyện nghiệp vụ sư phạm dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của thầy nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích yêu cầu môn giáo dục học đề ra.[24; tr 24, 25].
Theo Nguyễn Thị Tính [24; tr 25 - 29 ] thì: Tự học môn giáo dục học làmột quá trình gồm nhiều thành tố cấu trúc, giữa các thành tố cấu trúc đó cómối quan hệ mật thiết với nhau:
Mục đích, nhiệm vụ tự học môn giáo dục học nhằm giúp cho người
học nắm vững các hệ thống quan điểm, đường lối giáo dục của chủ nghĩaMác, của Đảng và Nhà nước, nắm vững hệ thống lý luận về giáo dục và dạyhọc, về công tác quản lý trường học đồng thời hình thành ở họ một hệ thống
kỹ năng và thái độ nghề nghiệp tương ứng
Nội dung tự học môn Giáo dục học gồm các thành phần sau;
+ Hệ thống tri thức lý luận về nghề dạy học, về tổ chức và chỉ đạo các hoạtđộng giáo dục và quản lý trường học
+ Hệ thống kỹ năng sư phạm: Gồm kỹ năng dạy học, kỹ năng giáo dục, kỹnăng giao tiếp, kỹ năng tổ chức các hoạt động xã hội, kỹ năng nghiên cứukhoa hoc
Trang 35+ Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghềnghiệp
+ Hệ thống những chuẩn mực về phẩm chất và thái độ cần thiết của ngườithầy giáo Nội dung tự học là thành tố cơ bản taọ nên nội dung hoạt động củachủ thể tự học cá nhân hoá việc học của mình
Phương pháp và phương tiện tự học: Phương pháp tự học môn Giáo
dục học là cách thức tiến hành các thao tác, các hoạt động nhằm chiếm lĩnhnội dung tự học môn Giáo dục học một cách có hiệu quả Phương pháp tự họcmôn Giáo dục học bao gồm phương pháp nghe và ghi chép trên lớp, phươngpháp đọc sách và phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp hợp tác đểchiếm lĩnh nội dung tự học từ nhiều kênh thông tin khác nhau, phương phápgiải các bài tập tình huống, phương pháp rèn luyện kỹ năng sư phạm, phươngpháp nghiên cứu khoa học giáo dục, phương pháp tự kiểm tra, tự đánh giá Phương pháp tự học có thể bao gồm nhiều biện pháp tự học khác nhau: cácbiện pháp ghi chép, biện pháp so sánh, phân tích tổng hợp, các biện pháp xử
lý tình huống Phương tiện tự học gồm tài liệu giáo trình, địa điểm tự học,các hoạt động để có thể tiến hành tự học Phương pháp và phương tiện đóngvai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tự học môn Giáo dục học của sinhviên, nó là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của quá trình tự học mônGiáo dục học
Nhân tố người học, tính tích cực tự học của người học là nhân tố quyết
định hiệu quả của quá trình tự học môn GDH, tính tích cực học tập là dạngphân hoá của tính tích cực cá nhân, là con đường cơ bản để người học đạtđược mục tiêu học tập Tính tích cực học tập môn GDH gồm những thành tố
cơ bản sau: Hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh nội dung tri thức, kỹ năng,thái độ mà môn học đề ra, hoạt động giao tiếp trong môi trường lớp học, hoạtđộng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, hoạt động giao lưu tình cảm, hoạt động
Trang 36giao lưu học tập và tiền đề của nó là tính tích cực của học sinh Tính tíchcực tự học môn GDH được hợp thành bởi hai mặt luôn luôn gắn liền với nhautrong bản thân chủ thể tự học đó là: Năng lực học tập, những tri thức kỹ năng
để tiến hành hoạt động học tập, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm vàđộng cơ học tập đối tượng hoặc những đối tượng bên ngoài đuợc chủ thể hoátrong cấu trúc tình cảm, nhu cầu, ý chí, lý trí, hứng thú bên trong cá nhânngười học, tức là cá nhân người học nhân thấy mục tiêu của mình sau nhữngđối tượng này Như vậy tính tích cực tự học có thể xuất hiện từ những tácđộng bên ngoài và cũng có thể xuất hiện bên trong chủ thể tự học
Nhân tố thầy trong quá trình tự học của sinh viên là nhân tố giữ vị trí,
vai trò quan trọng, là điều kiện cần và đủ để hoạt động tự học đạt hiệu quảcao Thầy đóng vai trò là người tổ chức, người điều khiển, người hướng dẫncác biện pháp tự tổ chức, tự điều khiển, tự thực hiện của sinh viên Là nhân tốtrọng yếu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên
Xét về mặt hoạt động tự học môn GDH của sinh viên có thể chia ra làmcác giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị cho sự tự học môn GDH, ở giai đoạn
này người học phải xác định được mục đích, động cơ, ý nghĩa của việc họctập môn Giáo dục học, từ đó mà hình thành nhu cầu học tập Trong giai đoạnnày điều quan trọng nhất là sinh viên phải xác định được các mục tiêu cụ thểcủa bài học, chương học, các nhiệm vụ cụ thể mà họ phải làm, những nộidung họ cần tìm hiểu và nghiên cứu trên cơ sở đó xác định kế hoạch tự học
Giai đoạn 2: Giai đoạn tiếp nhận thông tin
Tính đặc thù của bộ môn Giáo dục học là kênh thông tin rộng, sinh viên
có thể tiếp nhận thong tin từ nhiều nguồn thông tin khác nhau:
- Từ bài giảng trên lớp của giảng viên
Trang 37- Từ tài liệu giáo trình, tạp chí, sách tham khảo khác hay từ chương trình thời
sự trên truyền hình, từ mạng internet
- Từ báo chí, nghị quyết TW Đảng, nội dung cuộc họp của Quốc hội với cácvấn đề về giáo dục
- Từ môi trường lớp học khi tham gia thảo luận nhóm hoặc xemina, hội thảo:những ý kiến phát biểu của bạn, những lời tranh luận với bạn, với thầy
- Từ thực tiễn giáo dục, dạy học ở phổ thông: Đó là những giờ dạy mẫu,những tình huống giáo dục, dạy học, các hoạt động giáo dục, dạy học ởtrường phổ thông
Các kênh thông tin trên có sự hỗ trợ bổ sung cho nhau, giúp cho sinh viên
có thể hoàn thiện nội dung tự học của mình Trong các kênh thông tin đó thìkênh thông tin từ phía giáo viên giữ vai trò vô cùng quan trọng, nó mang tínhchất chỉ đạo, hướng dẫn, điều khiển hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinhviên
Giai đoạn 3: Xử lý thông tin
Giai đoạn này sinh viên phải tập trung cao độ để tiến hành hàng loạt cácthao tác hành động trí tuệ như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá,trừu tượng hoá, hệ thống hoá nhằm kết hợp những nguồn thông tin khácnhau để tìm ra dấu hiệu bản chất của vấn đề nghiên cứu, xây dựng chúngthành những khái niệm, quy luật, đặc điểm, nguyên tắc, phương pháp và cáchình thức tổ chức giáo dục, dạy học
Giai đoạn 4: Vận dụng thông tin
Ở giai đoạn này sinh viên vận dụng những thông tin đã thu được để giảiquyết các vấn đề về nhận thức, các bài tập tình huống, hoặc tham gia tranhluận, thảo luận nhóm Học sinh có thể vận dụng những thông tin đó để thiết
kế một kế hoạch giáo dục, dạy học ở phổ thông, tổ chức một loại hình hoạt
Trang 38động cho học sinh, tiến hành một bài lên lớp, hay xây dựng một phiếu điều trahoặc làm một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
Giai đoạn 5: Xác nhận thông tin
Đây là giai đoạn kiểm tra, đánh giá về kết quả tự học của sinh viên hoặcsinh viên tự kiểm tra, đánh giá về kết quả nhằm giúp sinh viên nhận thấymình đã tiếp thu tri thức ở mức độ nào, có lỗ hổng tri thức, kỹ năng nào cần
bổ khuyết và rút kinh nghiệm cho bài học tiếp theo
Trong thực tế các khâu trên được tiến hành thâm nhập vào nhau, chúngkhông tách rời nhau mà còn hỗ trợ nhau giúp cho sinh viên có thể đạt đượccác mục tiêu học tập môn GDH đề ra Tự học môn GDH chỉ có hiệu quả khicác khâu trong quá trình tự học nêu trên được tổ chức một cách khoa học, khichủ thể người học thực sự tự giác, thực sự tích cực trong hoạt động học tập
Tự học môn GDH có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nhìnchung nó tồn tại dười ba hình thức cơ bản sau: Tự học trên lớp, tự học ở nhà,
tự học trong các hoạt động ngoại khoá, các khâu của tự học có thể diễn ra ở cả
ba hình thức tự học nêu trên Vì vậy, muốn tổ chức có hiệu quả hoạt động tựhọc môn GDH cho sinh viên thì người thầy cần quan tâm tổ chức tốt cả bahình thức nói trên để giúp sinh viên tiến hành hoạt động học tập và rèn luyệnnghiệp vụ sư phạm bằng các thao tác hoạt động trí tuệ của mình
Muốn học tốt môn Giáo dục học sinh viên phải biết lựa chọn vận dụngcác nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức học tập một cách khoa họchợp lý Học tốt môn GDH đòi hỏi sinh viên phải tích cực, độc lập, sáng tạotrong quá trình nhận thức đồng thời phải tranh thủ tối đa sự hướng dẫn củagiáo viên và tổ nhóm học tập, để tự tổ chức hoạt động cho bản thân
Học tốt môn GDH đòi hỏi sinh viên phải tuân theo một số nguyên tắc sau:
Trang 39- Sinh viên phải có nhu cầu học tập môn học, phải muốn học và nhu cầu họctập môn học phải xuất phát từ nhu cầu tự hoàn thiện năng lực và phẩm chấtcủa người thầy giáo tương lai
- Sinh viên phải biết rõ ý nghĩa cuả việc học tập môn Giáo dục học là nhằmgiúp cho sinh viên nắm vững hệ thống quan điểm, đường lối giáo dục củaĐảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo ở nước ta, nắm vững hệ thống tri thức,
kỹ năng, thái độ về nghề dạy học, giúp họ không ngừng rèn luyện năng lực vàphẩm chất của người thầy giáo tương lai
- Sinh viên phải tiến hành việc học của mình thông qua các hành động họctập, thông qua việc giải quyết vấn đề về học tập do cán bộ giảng dạy đề rahoặc do chính bản thân sinh viên tự đặt ra Thông qua việc giải quyết các vấn
đề do thực tiễn giáo dục đặt ra, qua việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thườngxuyên, qua các hoạt động thực tế, kiến tập sư phạm, thực tập sư phạm ởtrường phổ thông, thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, thông qua việc
tổ chức và tham gia các hoạt động xã hội
- Sinh viên không ngừng tích luỹ vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm về giáo dục
và dạy học, coi đó là cơ sở, là nền tảng để tiếp thu tri thức và kinh nghiệm ởtrình độ cao hơn
- Sinh viên phải tiến hành hoạt động học tập trong một môi trường học tập đathông tin và phải có thái độ tích cực đáp lại các phương tiện giảng dạy củagiảng viên
Trang 40có một quá trình rèn luyện thường xuyên các kỹ năng tự học, phải lựa chọncho mình các phương pháp và hình thức tự học phù hợp, phải có tinh thầntrách nhiệm, chủ động khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ theo kếhoạch học tập trong quá trình rèn luyện đó, giáo viên luôn là người giữ vaitrò quan trọng trong việc định hướng, điều khiẻn hoạt động tự học của sinhviên đồng tthời đưa ra những biện pháp tác động kịp thời nhằm uốn nắn, điềuchỉnh hành vi hoạt động của học sinh – sinh viên trong học tập.
Như vậy, hoạt động tự học của sinh viên được tiến hành trong mối quan
hệ chặt chẽ, khoa học với hoạt động dạy của người giáo viên và hoạt độngdạy giữ vai trò chủ đạo, định hướng, tổ chức dẫn dắt và điều chỉnh hoạt động
tự học của sinh viên
Vì vậy, dạy học ở trường Cao đẳng, Đại học phải biến quá trình dạyhọc thành quá trình tự học, bởi tự học của sinh viên là yếu tố cơ bản đảm bảochất lượng và hiệu quả dạy học Đây cũng chính là quá trình tự học mà cáctrường Cao đẳng, Đại học quan tâm