Giang I Tác giả Tác giả Bảo Ninh tên thật là Hoàng Âu Phương, sinh vào tháng 10 năm 1952 Ông quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình Nhà văn bắt đầu con đường sáng tác của mình ở tuổ[.]
Trang 1Giang
I Tác giả
- Tác giả Bảo Ninh tên thật là Hoàng Âu Phương, sinh vào tháng 10 năm 1952 Ông
quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình
- Nhà văn bắt đầu con đường sáng tác của mình ở tuổi 32, ông học tại trường viết
văn Nguyễn Du trong vòng hai năm, sau đó làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ và trở
thành thành viên của Hội Nhà văn Việt Nam kể từ năm 1997
- Sáng tác đầu tiên của nhà văn là Trại bảy chú lùn được xuất bản năm 1987 Cũng
cùng năm đó, tác phẩm đưa tên tuổi của ông đến gần hơn với người đọc là Thân
phận tình yêu, sau được đổi tên là Nỗi buồn chiến tranh chính thức ra mắt người đọc
II Tác phẩm
1 Thể loại: Truyện ngắn
2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:
- Trích từ tập truyện Bảo Ninh-những truyện ngắn
- Truyện ngắn là chương 1 của tập truyện
- Truyện kể về chính những kí ức của tác giả khi tham gia vào quân đội
3 Phương thức biểu đạt : tự sự
4 Người kể chuyện: tác giả
5 Tóm tắt:
Văn bản kế lại cuộc gặp gỡ tình cờ, duyên dáng giữa anh bộ đôi và cô gái tên
là Giang Cuộc gặp gỡ vô tình nhưng để lại rất nhiều những ấn tượng sâu sắc cho cả hai người trẻ tuổi
6 Bố cục:
- Phần 1: từ đầu đến “ còn sớm, mới sáu giờ kém mà, anh”: Cuộc gặp gỡ ở giếng nước
- Phần 2: tiếp đến “ con về khuya bố không yên tâm đâu”: Cuộc gặp gỡ giữa bố Giang và nhân vật “tôi”
- Phần 3: còn lại: Cuộc chia tay giữa Giang và “ tôi”
7 Giá trị nội dung:
- Tình yêu quê hương, đất nước, tình người những đau khổ và hạnh phúc
Trang 2- Ca ngợi những tâm hồn trẻ tuổi với những khao khát hồn nhiên, vô tư
8 Giá trị nghệ thuật:
- Giọng văn tự nhiên, nhẹ nhàng
- Lối kể chuyện chân thật, tỉ mỉ nhưng giàu cảm xúc
III Tìm hiểu chi tiết
1 Nhân vật Giang
- Tại giếng nước công cộng, khi tình cờ gặp anh tân binh
+ “Không xối cho tôi tự gột mà cúi mình xuống một tay nghiêng gầu nước dội nhè
nhẹ, một tay cô cọ bùn đất ở ngón chân, bàn chân và bắp chân tôi”
+ “Cô cọ kĩ cho tôi đôi dép đúc”
Hành động ân cần, chu đáo, tinh tế và khéo léo, “ ân tình hồn nhiên”
- Tại nhà cùng với anh tân binh và bố Giang
+ Dọn cơm mời anh tân binh
+ Mượn xe trở anh về
Chu đáo, dễ thương
- Tại chiến trường qua lời của bố Giang
+ Luôn nhắc và nhớ đến nhân vật "tôi"
Thủy chung, tình nghĩa
2 Cuộc chia tay giữa Giang và “tôi”
- Giang đèo tôi bằng xe đạp vào tận đơn vị ở Bãi Nai
- Nhắn nhủ nếu có cơ hội hoặc Tết mời đến nhà Giang chơi
- Chiêm nghiệm của tác giả về cuộc sống chiến tranh khốn khó, nhiều mất mát đau
thương
=> Cuộc chia tay đầy xúc động, bịn rịn Bên cạnh đó là những chiêm nghiệm về nõi
đau, những tổn thất quá lớn mà chiến tranh gây ra
3 Ý nghĩa văn bản
- Nói đến những kí ức trong thời chiến tranh sẽ là những kí ức còn mãi, trở thành nỗi đau âm thầm
- Những cuộc gặp gỡ tình cờ, vẩn vơ nhưng sẽ để lại lưu luyến, nhớ mãi không thể xóa nhòa
Trang 3Xuân về
I Tác giả
- Nguyễn Bính (1918-1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vinh,
huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định
- Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi, được giải
khuyến khích thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi
II Tác phẩm
1 Thể loại: Thơ tự do
2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Sáng tác năm 1937 in trong tuyển tập thơ
Nguyễn Bính
3 Phương thức biểu đạt: Biểu cảm
4 Bố cục:
- Khổ 1: Gió xuân bắt đầu về
- Khổ 2: Vẻ đẹp khi nắng xuân về
- Khổ 3: Vẻ đẹp đồng quê xuân về
- Khổ 4: Cảnh con người đón xuân về
5 Giá trị nội dung:
- Bức tranh xuân ấy còn có hình ảnh thiếu nữ với má hồng, mắt trong, duyên dáng
đi hội chùa làng
- Cảnh xuân, tình xuân được nhà thơ nói đến rất bình dị, mộc mạc, rất thân thuộc
6 Giá trị nghệ thuật:
- Từ ngữ gợi tả gợi cảm
- Hình ảnh thơ chân thực, gần gũi III Tìm hiểu chi tiết
1 Vẻ đẹp khi gió xuân về
- “Xuân về" đầu tiên mà Nguyễn Bính “thấy” chỉ là cảm nhận qua tác nhân khác, qua hình ảnh khác
Trang 4- Tác nhân ấy là “gió đông”, có thể không còn làm da lạnh buốt khiến nhà thơ cảm
nhận là xuân đang về và tác nhân ấy chính là “cổ hàng xóm" mới lớn có “màu má -
đôi mắt trong"
Biểu hiện sức sống dạt dào, thanh tân của những ngày đầu năm mới Xuân gần
là ở đó, là ở gió, là cô láng giềng đang lơ đãng nhìn trời dưới mái hiên
2 Vẻ đẹp khi nắng xuân về
- Khung cảnh thật tươi sáng và trong lành
+ Trời không mưa “Gió về từng trận gió hay đi", câu thơ mang lại cho người đọc
không khí mát mẻ, nhẹ nhàng mà không là gió lốc, gió xoáy
+ “Lá nõn nhành non ai tráng bạc" là một câu thơ đẹp về hình ảnh, hay về nội dung
+ Đẹp về hình ảnh “lá nõn nhành non” và nghệ thuật so sánh “ai tráng bạc”;
Làm phong phú thêm sắc màu tươi trẻ của ngày xuân, làm cái nền rất phù hợp
với niềm vui của “đàn con trẻ”
3 Vẻ đẹp đồng quê xuân về
- Không gian bức tranh Xuân về mở rộng thành một tổng thể
+ Từ mái hiên hàng xóm, lá nõn nhành non rộng ra khu vườn với màu sắc của hoa
bưởi hoa cam ngọt ngào hương thơm và đầy ong bướm lượn
Tất cả nằm trong khung nền của cánh đồng làng
+ “lúa thì con gái mượt như nhung" Lúa đang lớn, đang vào lúc sắp trổ bông lá
xanh mềm mại trải khắp
- Lúc này, nhà nông nhàn nhã nghĩ tới việc “tháng giêng ăn tết ở nhà"
4 Cảnh con người đón xuân về
- Cảnh “trẩy hội chùa”
- Cảnh trong khổ thơ là cảnh làng quê miền Bắc vào những năm trước Cách mạng
tháng Tám
- Đi trẩy hội chùa phần lơn là ngươi già và các cô gái
- Quanh năm chân lấm tay bùn, quần áo bạc màu mưa gió
- Nhân xuân về, các cô diện “yếm đỏ khăn thâm” dắt bà thong thả đến chùa cầu phước
Xuân đã về, con người thực sự đón xuân
Trang 5Buổi học cuối cùng
I Tác giả
- An-phông-xơ Đô-đê (1840-1897) - Quê quán: Nimes, miền Nam nước Pháp
- Cuộc đời:
+ Tuổi thơ lận đận khi xí nghiệp của cha bị phá sản và bố mẹ ly hôn
+ Ông thôi học khi đang học trung học và bắt đầu lập nghiệp tại Paris khi mới 12
tuổi
- Sự nghiệp sáng tác:
+ Ông bắt đầu sáng tác khi mới 14 tuổi và tiếp tục sáng tác bền bỉ trong suốt cuộc
đời
+ Các tác phẩm của ông được dân chúng đón nhận nhiệt tình và thành công vang dội
+ Ông sáng tác ở nhiều thể loại và đều có thành tựu đáng kể, đặc biệt là thơ và tiểu
thuyết
+ Tác phẩm tiêu biểu: Thằng nhóc con, Những lá thư từ cối xay của tôi, Fromont
cháu trẻ và cụ Riler, Tartarin vùng Tarascon
II Tác phẩm
1 Thể loại: Truyện ngắn
2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm Buổi học cuối cùng (Chuyện của một
em bé người An-dát) là 1 truyện ngắn nằm trong tuyển tập truyện Truyện kể ngày thứ hai của nhà văn An-phông-xơ Đô-đê
3 Phương thức biểu đạt: Tự sự
4 Người kể chuyện: Ngôi thứ nhất
5 Tóm tắt:
Chuyện kể về buổi học tiếng Pháp cuối cùng ở vùng An-dát qua lời kể của cậu học trò Phrăng Sáng hôm ấy, cậu bé Phrăng đến lớp hơi muộn và ngạc nhiên khi thấy lớp học có vẻ khác thường Cậu thực sự choáng váng khi nghe thầy Ha-men nói đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường Trong buổi học cuối cùng đó không khí thật trang nghiêm Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp, đã giảng bài say sưa cho đến khi đồng hồ điểm 12 giờ Kết thúc buổi học, thầy nghẹn ngào không nói nên lời, thầy cố viết thật to lên bảng: "NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM"
6 Bố cục:
- Phần 1 (từ đầu đến “vắng mặt con”): Quang cảnh trên đường đến trường và cảnh ở trường trước buổi học qua sự quan sát của Phrăng
Trang 6- Phần 2 (tiếp đó đến “nhớ mãi buổi học cuối cùng này”): Diễn biến buổi học cuối
cùng và tâm trạng của mọi người
- Phần 3 (còn lại): Cảnh kết thúc buổi học cuối cùng
7 Giá trị nội dung:
Qua câu chuyện buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở vùng An-dát bị quân
Phổ chiếm đóng và hình ảnh cảm động của thầy Ha-men, truyện đã thể hiện lòng
yêu nước trong một biểu hiện cụ thể là tình yêu tiếng nói của dân tộc và nêu chân lí:
“Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình
thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù…”
8 Giá trị nghệ thuật:
- Khắc họa nhân vật qua việc miêu tả ngoại hình, cử chỉ, lời nói và tâm trạng
- Ngôi kể thứ nhất, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, chân thực, hấp dẫn
- Ngôn ngữ tự nhiên với giọng kể chân thành, xúc động, truyền cảm
III Tìm hiểu chi tiết
1 Quang cảnh trên đường đến trường và ở trường trước buổi học qua sự quan
sát của Phrăng
- Tâm trạng của Phrăng trước buổi học: thoáng ý nghĩ trốn học và rong chơi ngoài
đồng nội nhưng cưỡng lại được và sau đó chú bé ba chân bốn cẳng chạy đến trường
- Quang cảnh đường phố: Có nhiều người đứng trước bảng dán cáo thị - nơi luôn
lan ra những tin chẳng lành:
+ Những cuộc thất trận
+ Những vụ trưng thu
+ Những mệnh lệnh của ban chỉ huy Đức
- Quang cảnh trường học khác hẳn với thường ngày: Trường học yên tĩnh, bình lặng
y như 1 buổi sáng chủ nhật (khác hẳn thường ngày luôn ồn ào như vỡ chợ vang ra
tận ngoài phố với:
+ Tiếng ngăn bàn đóng mở
+ Tiếng mọi người đồng thanh nhắc lại rất to các bài học + Tiếng thước kẻ to tướng của thầy gõ xuống bàn
- Thầy giáo Ha-men với thái độ, hành động khác hẳn với thường ngày:
+ Nói thật nhẹ nhàng khi Phrăng đến muộn (trước đây khi học sinh đến muộn thầy
sẽ rất giận dữ nên khi bước vào Phrăng đã đỏ mặt tía tai vì sợ hãi) + Thầy mặc chiếc ao đơ-ranh-gốt màu xanh lục, diềm lá sen gấp nếp mịn và đội cái
mũ tròn bằng lụa đen thêu - trang phục trang trọng chỉ được mặc vào dịp đặc biệt - nhưng lại mặc vào một buổi học bình thường như thế này
- Những khách đến tham gia buổi học bất ngờ, kì lạ không báo trước trên những hàng ghế trống cuối lớp:
+ Cụ già Hô-de trước đây là xã trưởng với chiếc mũ ba sừng, mang theo quyển tập đánh vần cũ đã sờn mép
+ Bác phát thu trước đây + Cùng nhiều người dân làng khác
→ Tất cả đều có vẻ buồn rầu
⇒ Tất cả những hình ảnh khác thường ấy khiến cho Phrăng vô cùng ngạc nhiên, khó hiểu
⇒ Đồng thời không khí tĩnh lặng, trang nghiêm khác thường của buổi học hôm ấy chính là dấu hiệu, điềm báo cho một cuộc khủng hoảng - sự tĩnh lặng trước cơn bão
2 Diễn biến buổi học cuối cùng và tâm trạng của mọi người
a Cậu bé Phrăng
- Khi biết được đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng:
+ Choáng váng đến sững sờ khi nghe thầy thông báo + Tự giận mình vì những lần trốn học đi chơi + Nhìn những cuốn sách tiếng Pháp như những người bạn cố trí nay phải đau lòng giã từ (dù trước đây thấy thật nặng nề, chán ngán)
+ Nuối tiếc, nhớ thương người thầy sẽ không còn được gặp nữa
Trang 7+ Cảm thấy tội nghiệp người thầy đã từng chán ghét, sợ hãi
- Khi học buổi học cuối cùng:
+ Chăm chú lắng nghe những điều thầy nói và thấy chúng thật dễ dàng → Cảm thấy
chưa bao giờ mình chăm chú lắng nghe đến như thế
+ Cảm thấy kính yêu thầy, yêu thương thầy hơn
+ Tự nhủ sẽ luôn nhớ mãi buổi học tiếng Pháp cuối cùng này
→ Trong buổi học cuối cùng này Phrăng đã cảm nhận được cái hay, ý nghĩa của
tiếng Pháp - tiếng mẹ đẻ của mình và tình cảm thầy trò thiêng liêng
→ Chính vì thế mà Phrăng luôn cảm thấy nuối tiếc, cụm từ "giá như" được lặp lại
nhiều lần, thể hiện sự tiếc nuối vô cùng tận của cậu đối với những ngày tháng đã
qua, và với cả tiếng Pháp
b Thầy Ha-men
- Thái độ với học sinh khác hẳn với thường ngày:
+ Không giận dữ hay trách phạt khi Phrăng không đọc được bài mà chỉ dịu dàng
nhắc nhở em
+ Nói rất nhiều những lời hay dành cho tiếng Pháp - đây là thứ ngôn ngữ hay nhất
thế giới, trong sáng nhất, vững vàng nhất
+ Chưa bao giờ thầy kiên nhẫn giảng giải từng chữ đến như hôm nay, như muốn
truyền hết toàn bộ tri thức của mình ngay lập tức cho học sinh
+ Đứng lặng im trên bục giảng, đăm đăm nhìn những đồ vật quanh mình
- Những quan niệm, tư tưởng của thầy:
+ Cảm thấy ai cũng đáng tự chê trách khi nghĩ rằng còn khối thì giờ để học, và giờ
đây không còn cơ hội nữa
+ Sẽ thật xấu hổ khi một người dân xứ An-dát lại không biết viết, biết đọc tiếng Pháp
+ Phải luôn giữ lấy tiếng Pháp và không được lãng quên nó, bởi khi một dân tộc rơi
vào vòng nô lệ, chỉ cần vẫn còn giữ vững tiếng nói của dân tộc thì giống như được
nắm chìa khóa chốn lao tù
→ Người thầy khẳng định sức mạnh và ý nghĩa to lớn của tiếng nói dân tộc - tiếng Pháp
→ Cùng niềm mong mỏi ở các em học sinh hãy giữu gìn, trân trọng và truyền lưu tiếng Pháp
c Các nhân vật khác
- Cụ Hô-de:
+ Mang theo quyển tập đánh vần cũ đã sờn mép và cặp kính lớn đặt trên trang sách + Khi đọc sách, cụ nâng cuốn sách bằng hai tay
+ Cụ đọc rất chăm chú, đánh vần từng chữ như bọn trẻ, giọng đọc run run vì xúc động, rất kì cục
→ Những chi tiết đó thể hiện sự nâng niu, quý trọng của cụ Hô-de đối với tiếng Pháp cùng với đó là sự đau khổ khôn kể khi từ đây tiếng Pháp không còn được học, được viết ở xứ An-dát nữa
- Các em học sinh:
+ Hết sức chăm chú và im phăng phắc trong giờ học + Không để ý đến cảnh vật xung quanh, kể cả những trò nhỏ nhất, tất cả đều cặm cụi viết
+ Tất cả vừa muốn cười nhưng cũng muốn khóc
→ Cũng như Phrăng, các em học sinh ai cũng trân quý những giây phút học tiếng Pháp cuối cùng này Các em tập trung hết sức, như muốn níu kéo từng giây phút cuối cùng của buổi học
3 Cảnh kết thúc buổi học
- Âm thanh:
+ Tiếng chuông nhà thờ điểm mười hai giờ + Tiếng kèn của bọn lính Phổ đi tập về
→ Những âm thanh tuyên bố chấm dứt buổi học tiếng Pháp cuối cùng - từ bây giờ tiếng Đức sẽ thay thế cho tiếng Pháp được học ở An-dát
Trang 8- Hình ảnh trong lớp học:
+ Thầy Ha-men đứng dậy trên bục giảng, mặt tái nhợt, nghẹn ngào, không nói được
hết câu
+ Thầy khuyên mọi người hãy yêu nước và giữ gìn tiếng nói của dân tộc
+ Cầm một viên phấn, dằn mạnh hết sức, viết thật to dòng chữ “Nước Pháp muôn
năm”
→ Thầy ha-men là người có tấm lòng yêu nước và ý thức giữ gìn tiếng nói của dân
tộc
- Hình ảnh kết thúc văn bản: thầy Ha-men đứng tựa vào tường, không nói gì mà chỉ
ra hiệu cho học sinh rời khỏi lớp
→ Thể hiện sự đau xót đến không thể đứng vững, không thể nói được thành lời của
người thầy giáo trước giây phút chia xa này
→ Đồng thời thể hiện nỗi đau của một người dân xứ An-dát khi từ đây không còn
được dạy và học tiếng Pháp nữa
→ Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc của thầy Ha-men nói riêng và
người dân nước Pháp nói chung
Đất rừng phương Nam
I Tác giả
- Đoàn Giỏi (17 tháng 5 năm 1925 – 2 tháng 4 năm 1989), là một nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957
- Ông có những bút danh khác như: Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư
- Các tác phẩm của Đoàn Giỏi thường viết về cuộc sống, thiên nhiên và con người ở Nam Bộ
II Tác phẩm
1 Thể loại: Truyện
2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Truyện được sáng tác năm 1957, đoạn trích được trích từ chương 9 trong tác phẩm
Trang 93 Phương thức biểu đạt: Tự sự
4 Người kể chuyện: Ngôi thứ nhất
5 Tóm tắt:
Đoạn trích kể lại quá trình An cùng tía và thằng Cò đi lấy mật ong Tại đây
An đã được trải qua rất nhiều những trải nghiệm và để lại cho cậu bé những ấn tượng
sâu sắc
6 Bố cục:
- Từ đầu bụi cây: chuẩn bị đi lấy ăn ong
- Tiếp theo im im đi tới: con đường đến chỗ lấy mật
- Trên đường lấy mật trở về: quá trình lấy mật ong
- Còn lại: trên đường trở về nhà
7 Giá trị nội dung:
- Miêu tả lại quá trình lấy mật ong của người dân rừng U Minh
- Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời rừng U Minh
8 Giá trị nghệ thuật:
- Nghệ thuật miêu tả đặc sặc
- Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật III Tìm hiểu chi tiết
1 Nhân vật An và Cò
- Khác biệt:
+ Cò: thẳng thắn, bộc trực, tốt tính và không để bụng
+ An: tinh tế, nhạy cảm, có chiều sâu
- Giống nhau:
Theo tôi, việc làm nổi bật những nét tương đồng và khác biệt ấy có tác dụng khắc họa tính cách của con người trong tác phẩm Con người phương Nam chính là một phần không thể thiếu mà tác phẩm muốn nhắc đến Họ là những người tốt tính, thẳng thắn, bộc trực nhưng cũng rất tinh tế, nhạy cảm, có chiều sâu
2 Thiên nhiên cuộc sống của con người Nam Bộ
"Chim hót líu lo Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất Gió đưa mùi hương ngọt lan ra, phảng phất khắp rừng Mấy con kì nhông nằm vươn mình phơi lưng trên gốc cây mục, sắc da lưng luôn luôn biến đổi từ xanh hóa vàng, từ vàng hóa đỏ, từ
đỏ hóa tím xanh Con Luốc động đậy cánh mũi, rón rén mò tới Nghe động tiếng chân con chó săn nguy hiểm, những con vật thuộc loại bò sát bốn chân, to hơn ngón chân cái kia, liền quật chiếc đuôi dài chạy tứ tán Con núp chỗ gốc cây thì biến thành màu xám vỏ cây Con đeo trên tấm lá ngái thì biến ra màu xanh lá ngái."
- Kể về hoạt động của các loài vật và hương thơm của hoa tràm lan ra, phảng phất khắp rừng
- Miêu tả tính chất của tiếng chim của màu sắc da con kì nhông, tính chất trong hành động của con Luốc,
Trang 10- Phong vị riêng trong cuộc sống của thiên nhiên và con người phương Nam: + Thiên nhiên: trù phú, sinh động, hoang sơ
+ Cuộc sống: giản dị, gắn liền với thiên nhiên
+ Con người: phóng khoáng, thẳng thắn, bộc trực nhưng cũng rất tình cảm, tinh tế, sâu sắc